Tâm không chính,
từ không thuận
Trần Văn Tích

Trong chế độ cộng sản, văn chương là một h́nh thức hoạt động cách mạng. Cho nên nhiều phần tử hoạt động chính trị cũng được ghi tên vào sổ bộ làng văn. Họ cũng viết văn làm thơ như những người sống bằng cây bút, sống trong biên chế, sống nhờ tem phiếu lương thựïc. Văn chương hiện thực xă hội chủ nghĩa đối với người cầm bút mác-xít không hề có mục đích tự tại, lại càng không phải là phương tiện "kiếm ăn xoàng"(1). Văn chương trở thành nghệ thuật truyền bá tư tưởng (sic). Sáng tác văn học gắn chặt với yêu cầu chính trị.

Muốn bảo vệ thể chế, cộng sản phải nắm chắc chính quyền các cấp và kiểm soát gắt gao quần chúng. Nó cần một bộ máy cai trị trung thành và đắc lực. Nó cố tạo cho kỳ được một cơ sở xă hội thích hợp với chế độ của nó, gắn bó với quyền lợi của nó. Cộng sản chỉ dành cho người dân một con đường : đầu hàng khuất phục, chỉ chấp nhận ở đồng bào của nó một thái độ : c̣ng lưng cam chịu. Khi dân tộc mất quyền tự chủ như thế th́ bộ máy lănh đạo công cuộc đấu tranh không c̣n chỗ đứng ở trong nước và công cuộc vận động cho tự do dân chủ cũng như công tác tuyên truyền cổ vũ đành phải chuyển ra nước ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, chủ lưu của văn hoá, ḍng chính của văn học, mà đặc điểm là tính nhân bản, tính khai phóng, tính khoáng đạt không thể phát triển trong tư thế hợp pháp, theo con đường công khai. Văn hoá chính thống của dân tộc đành phải thoát ly, lưu lạc ra ngoài nước để rồi đuợc chuyển trở lại nhằm tác động ngược vào trong nước bằng con đường hoặc bí mật, hoặc bán công khai.

Chủ nghĩa cộng sản dốc ḷng nắm chặt quyền lănh đạo văn hoá. Đối với nó, tư tưởng chủ đạo nền văn hoá công khai không phải là tư tưởng phấn đấu cho quyền làm người và quyền làm dân, mà là tư tưởng nô dịch ngu dân; văn hoá đuợc đề cao không c̣n là nền văn hoá ngang tầm thời đại mà là nền văn hoá uốn nắn công dân thần phục chế độ toàn trị. Phải nhận là kẻ cầm quyền trong nước đă thực hiện được phần nào ư muốn của nó. Hồ Chí Minh và bè lũ sai nha của y hiện có dưới trướng hàng ngàn, dĩ chí hàng vạn thân binh cuồng nhiệt, tín đồ hoạt đầu hoặc đảng viên cơ hội trong đội ngũ văn sĩ, thi sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ, tu sĩ, khoa học. Hơn thế nữa, c̣n có những người cầm bút tự nguyện xếp hàng tham gia tập đoàn khuyển mă trung thành, tay sai tin cậy, gia nô ưu đăi của chế độ trong số có hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, từng được Trung tâm William Joiner Center tuyển chọn phụ trách một phần công tŕnh nghiên cứu mệnh danh là "Đề Án Về Cộng Đồng Người Việt ở Nước Ngoài Nghiên Cứu Gia Khoa Học Nhân Văn Quỹ Rockefeller 2001-2002".

Viết Văn học và học văn, Nhà Xuất bản Văn học, Hà nội, 1999, ở phần I, Lư luận văn học, từ trang 5 đến trang 13, dưới tiểu đề "Quan điểm tiếp cận văn học và quan điểm tiếp cận thực tế của Hồ Chủ Tịch", ông Hoàng Ngọc Hiến nêu lên "một vấn đề quan trọng bậc nhất" trong "tiếp cận văn học từ quan điểm phản ánh" là "tính chân thật của tác phẩm văn học". Rồi ông chăm chỉ trích dẫn lời bác của ông để nói về...tính chân thật. Chẳng lẽ ông Hoàng Ngọc Hiến chưa từng nghe nói đến Trần Dân Tiên, đến T.Lan? Chẳng lẽ ông không hề biết rằng Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch và Vừa đi đường vừa kể chuyện là ề cuốn tự truyện do chính Hồ Chí Minh viết để tự ḿnh kể chuyện về bản thân và lố bịch, vô sỉ hơn nữa, để tự đề cao, tự ca ngợi? Dẫn một nhân vật như thế làm mẫu mực cho sự "tiếp cận văn học", viết dài ḍng về y và trích nguyên văn lời y "chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay mà c̣n để giáo dục cho con cháu ta đời sau"(2) (trang 10), ông Hoàng Ngọc Hiến chỉ khiến cho người đọc thở dài, dẫu rằng người đọc vốn không quen thở dài. Ở chương sách kế tiếp, chương Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo, ông biện minh cho tính nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản (!), từ trang 14 đến trang 61. Theo ông, chủ nghĩa cộng sản thương người, thương ḿnh, thương nhà, thương nước. Ông thuyết giảng về lư tưởng nhân văn, về phát triển tự do, về biệt nhỡn liên tài. Ông viện dẫn Nguyễn Trăi. Ông nhảy sang cả lĩnh vực sinh học, ông chỉ cho chúng ta ư nghĩa của t́nh thương trong sự h́nh thành con người ở cả hai b́nh diện sinh thành chủng loại và sinh thành cá thể. Một chủ nghĩa từng giết cả trăm triệu người trên thế giới, một chủ nghĩa "ưu việt" hơn cả chủ nghĩa quốc xă cộng với chủ nghĩa phát xít, một chủ nghĩa mà cái ác đă được chính những người của nó như Vũ Thư Hiên, Trần Thư, Bùi Ngọc Tấn (và cả Trần Độ, dẫu gián tiếp)(3) , vạch ra, chủ nghĩa đó vẫn cứ được ông Hoàng Ngọc Hiến cho là nhân đạo theo Marx, theo Engels, theo v.v.. Nghe cứ như cô Kiều cam đoan với bác sĩ pháp y rằng màng trinh của ḿnh vẫn c̣n nguyên vẹn sau mười lăm năm lưu lạc v́ ḿnh vốn xuất thân thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong. (So sánh cộng sản với Thúy Kiều kể thật là vô cùng bất nhẫn đối với nhân vật của Nguyễn Du). Cung cách những người viết văn cộng sản chia thế giới một cách dung dị thành hai phe, phe ta và phe địch, phe ta chỉ có tốt, phe địch luôn luôn xấu, cung cách đó được ông Hoàng Ngọc Hiến đánh giá là "nét độc đáo trong cách cảm nghĩ phổ biến một thời", chứ "xét đến cùng, không phải là một sự biến lệch trong cách nh́n" (trang 26). Không ai đ̣i hỏi bị can hay liên can luôn luôn phải can đảm, nhưng viết để chạy tội theo kiểu này th́ mẫu

Bản thân ông Hoàng Ngọc Hiến cũng từng cho chúng ta cơ hội đánh giá "tính chân thật của tác phẩm văn học" do chính ông chấp bút khi viết về Maiakovski, người từng được chế độ Liên xô lấy tên đặt cho một thành phố. Hoan nghênh cách mạng tháng mười, Maiakovski làm thơ, ví dụ Levy marsh (Hành khúc Trái, trái), viết kịch, chẳng hạn Misterija buff (Diệu pháp hề) với những lời lẽ thôi thúc hành động chiến đấu hay vạch đường cách mạng vô sản. Maiakovski đả kích mọi ư tưởng thời đại; tấn công đạo lư, luân thường tư sản; đánh phá tôn giáo chính trị trong những trường ca Oblako v schtanach (Áng mây mặc quần), Voina i mir (Chiến tranh và thế giới) v.v..Cao điểm sáng tác của Maiakovski là trường ca Vladimir Ilitsch Lenin, một bản khải ca về sự phát triển của phong trào công nhân cho đến khi Lénine từ trần, nói lên thái độ ngưỡng mộ vô biên của tác giả đối với vị thượng đế mới. Mojo otkrytije Ameriki (Tôi khám phá nước Mỹ) là tác phẩm văn xuôi lên án thế giới tư bản Hoa kỳ lạc hậu về văn hoá và chính trị. Trường ca Khorosho (Tốt, tốt) viết mười năm sau cách mạng, thể hiện các t́nh cảm mới về cuộc đời mới. Tác phẩm của Maiakovski được dịch ra năm mươi tám thứ tiếng của các dân tộc ở Liên xô cũ và ba mươi chín tiếng nước ngoài, nhất là trong phe xă hội chủ nghĩa. Theo trào lưu này, ông Hoàng Ngọc Hiến cũng từng nhiệt t́nh giới thiệu Maiakovski với giới thưởng ngoạn văn học đồng hương. Tuy nhiên trong bài Mai-a-kốp-xki ở Việt nam đăng trên Tạp chí Văn học (Hà nội) số 3.74, tr.98-104, ông chỉ có vỏn vẹn bốn chữ "cái chết bất hạnh" để mô tả trường hợp nhà thơ từ trần. Đức tính chân thật (!) cao quí của ông Hoàng Ngọc Hiến khiến ông mơ hồ một cách khó hiểu. V́ nếu chân thật thật th́ ô “tính chân thật của thực ra Maiakovski tự tử bằng cách bắn một phát súng lục vào tim v́ các lư do : không thấy những điều kỳ vọng được thực hiện mà chỉ thấy cách mạng tiến bước ́ ạch, thở dốc; tính cách bấp bênh của tương lai; rắc rối hành chánh nhất là từ bộ Văn hoá; thất vọng t́nh cảm. Như thế, Maiakovski tự t́m cái chết để tự xử trước toà án lương tri của người trí thức sau khi hoàn tất tác phảm cuối đời tất nhiên không được người cộng sản kể cả ông Hoàng Ngọc Hiến nhắc đến là (bản dịch tiếng Pháp) Les bains (Tắm gội), bản văn phúng thích chỉa thẳng mũi dùi vào chế độ quan liêu stalinit. Maiakovski ĺa bỏ lạc viên xô viết lúc mới 36 tuổi. Ông Hoàng Ngọc Hiến tốt số hơn nhiều. Ông được dịp tạm biệt thiên đường hạ giới xă hội chủ nghĩa của ông để dấn thân vào chốn địa ngục trần gian của phản động quốc tế; ông được dịp qua "nước Mỹ no nê và giàu sụ nằm oẹp bên kia bờ đại dương : tha hồ củi gỗ phong cháy rực, tha hồ ca cao, sữa, bơ..."(4), như nhà thơ đồng chí của ông từng mô tả. Nếu Maiakovski tái sinh và được William Joiner Center móc ngoặc sang Hoa kỳ góp phần vào một đề án nghiên cứu về người Nga lưu vong th́ chắc chắn nhà thơ xô viết sẽ không ngậm miệng ăn đô-la và cúi đầu xơi bơ sữa như ông Hoàng Ngọc Hiến, là người xứng đáng được nghe lời nhắn nhủ về tính chân thật trong văn học của André Malraux : "Que tous ceux qui mettent des passions politiques au-dessus de lamour de la vérité sabstiennent de lire mon livre. Il nest pas éời – eux!"(5)

Ông Nguyễn Huệ Chi cũng dùng cùng thủ thuật và thủ đoạn trong bài viết Vài cảm nhận văn học Việt nam hải ngoại xuất hiện trên Văn Học Cali số 99, tháng 07.1994. Nhận xét về nội dung của nó, Toà soạn cho rằng đây là "một bằng chứng của lối nh́n thiên lệch" do "(...) chủ đích chính trị nào đó". Chữ mắt trong bài viết của ông Nguyễn là "thức tỉnh". Không phải chỉ có văn học trong nước "mới thức tỉnh trong công cuộc đổi mới diễn ra chừng năm, sáu năm nay" mà "văn học người Việt ở ngoài nước cũng đúng là đang thức tỉnh", "thức tỉnh" qua "xu hướng giao lưu, hoà hợp, trở về gốc". Táo tợn hơn, tác giả c̣n chia xẻ lập trường với một người khác để khoe mẽ rằng "chính công cuộc đổi mới của đất nước mà bộ phận nhạy cảm là văn học, đă trực tiếp tác động, góp phần dẫn đến xu thế 'thức tỉnh', 'hoà nhập' của văn học người Việt ở nước ngoài". Chế độ cộng sản có biệt tài đồng hoá : nó đồng hoá công dân thành một tập thể người-chó theo học thuyết Pavlov. Nhà văn cộng sản ưa tiểu xảo thay đổi bản chất các sự kiện cho xấu xa giống như của chính ḿnh : về chính trị lập trường th́ theo cộng đành là sai (v́ không chạy tội được nữa) nhưng chống cộng cũng trật (để cho hoà đồng giống nhau); về văn hoá văn học, nếu từ u mê mông muội, lừa bịp ngu dân, điếu đóm cung đ́nh chuyển sang hé thấy được chút chút tính cách vô sỉ của quá khứ là "thức tỉnh" th́ văn học hải ngoại cũng phải "thức tỉnh" khi có một dúm người cơ hội chủ nghĩa thuộc cộng đồng lưu vong tỵ nạn chủ trương khác với đại khối, lựa gió thủ thuật 

Nhưng ngay cả trong dúm người này cũng có một điểm nổi bật mà ông Nguyễn Huệ Chi không có được chút liêm sỉ tối thiểu để nh́n thấy : nền văn học hải ngoại không có những thành phần chống-chống cộng (anti-anti-communism), ngoại trừ một hai gă c̣ mồi. Có người chủ trương hợp lưu, hoà hợp; có người đề xướng đa nguyên, thông luận. Tùy nơi, tùy lúc, tùy thành phần tập hợp v.v..những ng̣i bút quốc ngoại có khác nhau về khuynh hướng sáng tạo, về phương pháp biên khảo, về sách lược lập ngôn, cả về dự kiến chính thể nữa, nhưng động cơ cơ bản và mục đích cuối cùng của họ vẫn là đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Mà cũng chẳng phải chỉ có người cầm bút. Trước cảnh tai hoạ vô song đổ lên đầu dân tộc, mỗi người Việt lưu vong góp vào công cuộc cứu quốc được cái ǵ th́ góp, kẻ bằng cánh tay, kẻ bằng hiện vật, kẻ bằng miệng lưỡi, kẻ bằng trang báo. Không có ng̣i bút nào rời bỏ thế đứng chống đối đại hoạ độc tài đảng trị, không có bất cứ ai chấp nhận chính sách văn học chỉ huy. Thế mạnh của văn học chính thống là thể hiện, biện luận, phân giải những vấn đề chính nghĩa, xoay quanh công cuộc chống ách nô lệ mác-xít. Người viết văn tỵ nạn không coi sáng tác như một biểu hiệu của tài hoa, mà là một bổn phận, vừa thoả măn nhu cầu tinh thần, vừa đóng góp cho đại cuộc. Ảnh hưởng hồi tác dương tính của nền văn học nghệ thuật hải ngoại hiện nay và của nền văn học nghệ thuật "vùng Mỹ ngụy" sau 1975 lên văn học nghệ thuật "hiện thực xă hội chủ nghĩa" là điều các ông Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi đang tự bưng tai không dám nghe, đang tự bịt mắt chẳng dám thấy. Và thảng hoặc họ có phê phán đường lối văn nghệ của chế độ cộng sản th́ họ cũng chỉ phê phán không phải để phủ định chế độ đó mà để khẳng định nóhọc 

Niên đại 1975 cũng được ông Nguyễn Huệ Chi nhắc đến trên một bài viết mới đây. Nhưng trong bài viết, nơi những điểm đáng bàn, đáng nói th́ tác giả lại giở ngón sở trường lăng ba vi bộ.

"Tuy nhiên, văn học từ 1975 đến nay phải chăng vẫn chỉ là một giai đoạn mà thôi? Nên nhớ về mặt lịch sử, cái mốc 1975 là một bước ngoặt chưa bao giờ có trong ba phần tư đầu thế kỷ, nó đánh dấu một kỷ nguyên độc lập trong thống nhất vẹn toàn, cũng đánh dấu một cuộc viễn hành quyết liệt và đầy hiểm nghèo mà kết quả là đưa hai triệu người Việt đến với nhiều chân trời mới, lạ của năm châu bốn biển."(6) Tại sao văn học lại có thể "chỉ là một giai đoạn" ? Tại sao lại có thể đồng hoá một nghệ thuật với một phần thời gian? "Cái mốc 1975 là một bước ngoặt chưa bao giờ có trong ba phần tư đầu thế kỷ (...)": câu văn đă lẩn thẩn lại quay quắt. Trước hết, đương nhiên là năm 1975 chưa bao giờ có trong ba phần tư đầu thế kỷ (ông La Palice ơi, ông đi đâu rồi?). Thứ nữa, nếu đó là một "bước ngoặt" th́ là một bước ngoặt chưa bao giờ có trong lịch sử nhân loại tự cổ chí kim, từ đông sang tây. Sự thực là vậy. Sự thực là từ khi con người biết sống thành quần thể, chưa có chế độ nào, ngoài chế độ cưu mang hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, đă khiến ít nhất hai triệu người phải liều chết ĺa bỏ nó. Và không phải để làm một cuộc "viễn hành" (dẫu là viễn hành trong ngoặc kép). Tại sao ông Nguyễn Huệ Chi không dám dùng hai chữ lưu vong? Ngay cả khi v́ thể tất nhân t́nh, chẳng ai nỡ đ̣i ông dù “Tuy nhiên, văn học nạn?

"Cái mốc 1975" khiến cho những ai sống trong nước mà c̣n có chút lương tri trong số này không có hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đều lâm vào một hoàn cảnh mâu thuẫn bi đát giữa tâm nguyện chủ quan và hành động thực tế. Kết quả là nền văn học nhân bản khai phóng không c̣n điều kiện hoạt động công khai như trước 1975 nữa và đành theo con đường lưu vong xuất ngoại, c̣n ở quốc nội th́ nó chỉ có thể lén lút hoạt động, dẫu rằng thực ra nó mới chính là ḍng chủ lưu của văn học Việt nam. Và đây cũng chỉ là một hiện tư “Cái mốc 1975”

Chẳng hạn trong phân kỳ văn học Đức, có giai đoạn được gọi phổ biến là Drittes Reich und Exil (Đệ tam Đế chế và Lưu vong). Đó là giai đoạn quốc xă thống trị khiến hàng loạt nhà văn bỏ ra nước ngoài, h́nh thành hai đội ngũ cầm bút thuộc hai chiến tuyến đối nghịch. Một bên là nationalsozialistische Literatur với Hanns Johst, Heinrich Zerkaulen, Friedrich Bethge, Dietrich Eckart, Hans Grimm, Werner Bergengruen; bên kia là Exilliteratur với Bertolt Brecht, Nelly Sachs, Johannes R. Becher, Ernst Toller, Anna Seghers, Klaus Mann, Thomas Mann, Lion Feuchtwanger. Văn học Pháp, văn học Nga, văn học Cuba, văn học Tây ban nha, văn học Ả rập, văn học maghrêbin, văn học châu Mỹ la tinh v.v.. đều đang có hay từng có văn học lưu vong, và đều được gọi là văn học lưu vong.

Chỉ có ông Nguyễn Huệ Chi là không gọi như vậy, không dám gọi như vậy. Danh bất thuận là do tâm bất chính. Cả hai ông Hoàng Ngọc Hiến lẫn Nguyễn Huệ Chi đều chỉ biết và vẫn chỉ biết nói thứ ngôn ngữ gian dối lắt léo, đều chỉ biết và vẫn chỉ biết viết thứ văn chương quỉ quyệt khó lường. Đối với bọn họ, giấy phép xuất ngoại "nghiên cứu", tấm bằng biểu dương tiên tiến, hoặc giả chỉ cái bắt tay của lănh đạo, lời phủ ủy của "trên", với những dịp kiếm chác hôm qua và sau này v.v.. vẫn dễ chơi hơn là cuộc đánh đu mạo hiểm lương thiện tôn trọng chân lưp 

(1) Tản Đà : Chữ nghĩa Tây, Tàu chót dở dang, Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng. 
(Đề Khối t́nh con thứ nhất).
(2) Văn chương của Hồ Chí Minh lủng cà lủng củng ai cũng biết. Tiếng Việt nói "giáo dục con cháu" chứ không nói "giáo dục cho con cháu".
(3) Qua bài viết Một cái nh́n trở lại, tiểu mục Chung quanh việc Đảng, 
Trần Độ cho rằng trong quá tŕnh lănh đạo đất nước đảng cộng sản đă để xẩy ra 
những lúc, những việc gây tổn thất và đau xót trong Đảng và nhất là trong nhân dân (...) Nhưng không thể v́ thế mà đi đến chỗ coi đảng Cộng sản chỉ là một lực lượng tàn bạo, chỉ có đàn áp và làm hại nhân dân, làm hại dân tộc(...)
. Ông Trần Độ bênh vực đảng của ông một cá“. Ông Trần
(4) Hoàng Ngọc Hiến.- 
Trường ca Tốt lắm, trường ca Tháng mười. Tạp chí Văn học, Hà nội, số 11.1967. Đăng lại trong Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học. Viện Văn học. Hà nội. Tập 4, Văn học nước ngoài,:142-156.
(5) Ai đặt nhiệt t́nh chính trị lên trên ḷng yêu chuộng sự thật th́ chớ có đọc sách của tôi. Sách đó không phải viết cho họ đâ(5) “Ai đặt nhiệt t́nh 
André Malraux. Une vie dans le siècle. 
(Ăng-đrê Man-rô. Một cảnh đời trong thế kỷ). Nhà Xuất bản Seuil, Paris, 1973, :172. Malraux muốn đề cập đến tác phẩm 
La condition humaine 
(Phận người), giải thưởng Goncourt 1933. 
(6) Nguyễn Huệ Chi.- Một vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nh́n từ điểm đầu thế kỷ XXI. 
Tạp chí Văn Học, California, số 184, tháng 08.2001, :27.