Ư định nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một chương tŕnh có giá trị, nếu công việc khảo sát nghiêm chỉnh và trung thực. Trung tâm William Joiner (WJC) thuộc trường đại học Massachusetts đă đưa ra một chương tŕnh ba năm đầy hứa hẹn, nhưng khi bắt đầu thực hiện đă lộ ra một âm mưu thiên lệch mà Truyền Thông kỳ này tŕnh bày cùng người đọc.
Đă sang năm thứ ba của chương tŕnh nghiên cứu, chúng ta thử nh́n lại những ǵ trung tâm William Joiner đă làm, đồng thời nhận xét về phương cách thực hiện của trung tâm này. Nếu chương tŕnh gọi là khảo sát của WJC cứ êm đềm xúc tiến, hậu quả sẽ vô cùng tai hại. Nó tạo trong công luận một cái nh́n sai lệch về phong trào tị nạn, nó có thể sẽ là tài liệu tham khảo của những nhà nghiên cứu, sẽ là sách giáo khoa cho hậu thế.
Truyền Thông tái ngộ cùng độc giả chẳng mưu cầu điều ǵ ngoài hy vọng khơi gợi nỗi đồng cảm nơi tất cả những ai c̣n là người Việt có mặt trong cuộc sống bất cứ ở nơi nào. Ai c̣n ư thức ḿnh đang là người mà thoát khỏi bị dằn vặt khi đối mặt vối những mưu tính tước đoạt quyền nhận diện chính ḿnh trên mặt đất này, điều kiện tối thiểu để tồn tại của con người. Không thể xóa nḥa h́nh ảnh ḿnh trong gương, sự thật bao giờ cũng là sự thật, không được phép đem mầu đen trùm lên mặt kính trắng, bằng bất kể cách nào, do bất cứ lư do nào.
Bởi lẽ đó, chúng tôi phải lên tiếng báo động công luận, v́ sự thật, v́ tương lai, v́ sự liêm khiết tinh thần.
I . Mô tả chương tŕnh
Chương tŕnh nghiên cứu "(Re)Construc- ting Identity and Place in the Vietnamese Diaspora" do William Joiner Center (WJC) thuộc trường đại học Massachussetts Boston (UMASS-B) và năm cơ quan khác thực hiện dưới sự bảo trợ của Rockfeller Foundation Humanities Fellowship. Trung tâm WJC dịch sang Việt ngữ "Diễn tŕnh (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài".
Chương tŕnh nghiên cứu của WJC dự trù thực hiện trong 3 năm: (Phụ bản I, trang 30)
Năm thứ nhất: khảo sát những quan điểm h́nh thành lịch sử Việt Nam (Examining Construction of Vietnamese History)
Năm thứ hai: Khảo sát những tiếng nói của người Việt ở nước ngoài qua Văn học, Ngôn ngữ, Văn hóa (Emerging Diasporic Voices: Exploring Vietnamese Literature, Language and Culture in the Diaspora)
Năm thứ ba: Diễn tŕnh (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài: một cái nh́n dài hạn (Re-Constructiing of Vietnamese Identity and Place in the Vietnamese Diaspora: A Long Term Perspective)
WJC thu nhận hồ sơ và tuyển chọn ứng viên hàng năm theo thời biểu dưới đây:
2000-2001: hạn chót nộp đơn: Jan 31, 2000
2001-2002: hạn chót nộp đơn: Jan 31-2001
2002-2003: hạn chót nộp đơn: Jan 31, 2002.
Quỹ Rockfeller tài trợ tối đa mỗi năm 2 học bổng toàn phần (mỗi học bổng toàn phần 35.000 $ US). Ủy Ban Thường Trực có thể chia thành nhiều học bổng với thời gian ngắn hơn. Đề án sẽ cấp học bổng cho 2 tới 5 nghiên cứu gia hàng năm, với những chương tŕnh nghiên cứu từ 3 tới 9 tháng. Trợ cấp tối đa cho một chương tŕnh nghiên cứu 9 tháng là 35.000 Mỹ kim cộng với một khoản chi phí di chuyển nhỏ.
II . Diễn tiến thực hiện chương tŕnh.
A - Nhân sự điều hành chương tŕnh
Project’s Staff
Program’s Principal Investigator:
Kevin Bowen, Joiner Center Director
Residency Program Director:
Nguyễn Bá Chung, Lecturer, WJC
Research Associate
Stading Committee
- Kevin Bowen Director, Joiner Center
- Madhulika Khandelwal
Assistant Professor, Asian American
Studies
- Peter Kiang Associate Professor,
Graduate College of Education
- Michael LaFargue Director, East
Asian Studies
- Nguyen Ba Chung Lecturer,
WJC Reseach Associate
- Trinh Thi Tuyet Nguyen,
Coordinator, CAPAY
- Rajini Srikanth Assistant Professor,
English Department
Nhận xét 1: Ngoài 2 người Mỹ gốc Việt trong số 7 người kể trên, bản "Diễn tŕnh những sự kiện" của WJC cho biết Hội Đồng Thường Trực, c̣n có thêm một người gốc Việt thứ ba, từng là cựu giám đốc Việt-Mỹ Dân Sự Vụ, đă hoạt động lâu năm và có uy tín trong cộng đồng. Tám người này có thể cóù những quan điểm khác nhau, nhưng tất cả đă thông qua quyết định tuyển chọn các nghiên cứu gia niên khóa 2000-2001 (trong đó có các ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi). Ông cựu giám đốc "có uy tín trong cộng đồng" này là ai, v́ lẽ ǵ không nêu rơ danh tín,
Nhận xét 2: Hai người có trách nhiệm chính về kế hoạch (Project Staff)
a. Kevin Bowen, WJC Director, Program’s Principal Investigator.
Kevin Bowen was drafted and served in the U.S. Army in the Vietnam war during 1968-69. He has since returned to Vietnam numerous times and currently serves as Director of the William Joiner Center for the Study of War and Its Social Consequences at the University of Massachusetts-Boston. The Progressive magazine chose Bowen’s first book, Playing Basketball with the Viet Cong, as “Pick of the Year”, and his second book, Forms of Prayer at the Hotel Edison, was published in 1998. With Nguyen Ba Chung, he translated the selected poems of Nguyen Duy, Distant Road. He lives in Dorchester, MA with his wife and two children.
Trước các kháng thư can thiệp, ông Bowen tận t́nh bào chữa cho cách thức thực hiện chương tŕnh, đặc biệt cho hai học giả cộng sản do ông mời hợp tác, ông không thay đổi hay bổ túc phương pháp thực hiện chương đă soạn thảo từ trước.
b. Nguyễn Bá Chung giám đốc Residency Program, một chức vụ quan trọng. (Phụ bản IV, trang 38)
Ông Chung từ miền Nam đi du học Mỹ năm 1971 bắt đầu làm việc cho WJC năm 1997. Vừa là giám đốc Residency Program, vừa là thành phần của Hội Đồng Thường Trực, chắc chắn ông có nhiều ảnh hưởng trong việc tuyển chọn nghiên cứu viên.
Để hiểu quan điểm của ông Chung về chiến tranh Việt nam và về người tị nạn, xin đọc bài viết The Vietnam War and Vietnam và bài thơ của ôi viết ‘The Vietnam
Dưới đây là đoạn ông nói về người Mỹ và về Hồ Chí minh:
“I believe the US had noble aims in Vietnam - freedom and democracy. But because it aligned itself with a group of Vietnamese who carried heavy colonial baggage, and for the most part had already betrayed Vietnamese history - that two-thousand year history - it could not succeed. Similarly, Ho Chi Minh had all the righteous causes - independence, unification and social justice - but because none of the Western powers supported decolonia-lization, Ho and his revolutionaries had to ally themselves with Communism, a doctrine whose basic features - class warfare, dictatorship of the proletariat, and utopia - ran against the very grain of Vietnamese culture, a culture that had endured for thousands of years....”
Bài thơ của ông về di tản dưới đây do chính ông dịch sang Anh văn:
di tản / diaspora ...
là mảnh vụn của sỏi đá
là giọt nước của ao tùØ
là tia nắng cuối cùng mong manh
là viên đạn lép
cuối ḷng súng rỉ
là ngôn ngữ bất lực
của tháng ngày bất lực
là vết bầm cuối cùng
của cuộc nội thương (**)
.... à vết rêu của sỏi đá
là hơi sương trên ao tù
là tia nắng suốt đời mong manh
là viên đạn lép
không bao giờ bắn nữa
là ngôn ngữ khởi đầu
khi tiếng bom chấm dứt
là những ǵ đọng lại
sau cơn động đất cuối mùa ...
(*) diaspora: tập thể những người sống xa xứ.
(**) nửa đầu bài thơ dựa theo lời một bài tựa tập thơ
B - Nghiên cứu viên và đề tài niên khóa 2000-2001 .
Ngày 15 tháng 4 năm 2000, trung tâm William Joiner thông báo đă chọn 4 nghiên cứu viên (fellows) (Phụ bản II, tr 33).
* Ms Michele Janette: will collect diasporic writings, conduct interviews and write literary essays for her forthcoming work “ Twentieth Century Vietnamese American Narratives in
* Ms Caroline Kieu Linh Valverde, to edit expand and transform her dissertation on “Elemental Change and Continuity Vietnamese American Transnational Identities in the New Millenium” into an alternative text that “offers a fresh look at the identity processes and transnational issues of culture, economics and politics in contemporary Vietnamese diasporic history”
* Mr. Hoàng Ngọc Hiến will study the styles, themes and sources of overseas writings with particular emphasis on the treatment of love and the attachment to the land.
* Mr. Nguyễn Huệ Chi will collect and analyse overseas critical writings on classical Vietnamese culture- its continuity, change and transformation in the overseas environnement.
Nhận xét 1. Không thấy một liên quan nào giữa mục tiêu năm thứ nhất của chương tŕnh (Examining Construction of Vietnamese History) với bốn đề tài của niên khóa 2000-2001. Ẩn ư hay động lực nào? Chỉ các ông Kevin Bowen, Nguyễn Bá Chung và những người trong ủy ban thường trực nắm giữ bí mật.
Nhận xét 2 . Trong các điều khoản của học bổng của WJC, các nghiên cứu gia phải:
1- Tường tŕnh trước đại học/cộng đồng:
. Tường tŕnh về thành quả nghiên cứu vào giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của học bổng.
. Nói chuyện trong các lớp học và các buổi họp mặt cộng đồng về đề tài nghiên cứu
. Tham gia những sinh hoạt Hội Đồng
thường trực tổ chức
2- Mỗi nghiên cứu gia sẽ nộp một tham
luận có thể xuất bản làm sáng tỏ những vần đề t́m hiểu trong thời gian nội trú.
Chương tŕnh năm thứ nhất, niên khóa 2000-2001 đă hết, bốn nghiên cứu gia Michele Janette, Caroline Kieu Linh Valverde, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi có tường tŕnh trước đại học/cộng đồng, nộp tham luận báo cáo kết quả nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề t́m hiểu trong thời gian nội trú, như WJC đ̣i hỏi trong các điều khoản học bổng?
C - Nghiên cứu viên và đề tài niên khóa 2001-2002.
Tiếp sang năm thứ hai của chương tŕnh nghiên cứu, trung tâm WJC công bố 7 người được chọn và 7 đề tài (Phụ bản III, tr. 35).
1- Karin Aguilar-San Juan - The foundations of Boston’s Vietnamese
American Community (Những nền tảng xây
dựng cộng đồng người Việt ở Boston.
2- Đặng Tiến - Thơ Việt Nam hải ngoại 1975-2000 (Vietnamese Overseas Poetry 1975-2000)
3- Đỗ Quyên - Cộng đồng người Việt ở nước ngoài qua phương phái qua ?phương pháp phỏng vấn? (Overseas Community Through the
4- Henry Nguyễn Hữu Liêm - The Prescriptive Language of the New Identities: A Phylosophycal Investigation (Ngôn ngữ qui kết của những căn cước mới: một t́m hiểu triết học)
5- Nguyễn Thị Thanh - Where should we go from here: How we can preserve the traditional order in the family and in society, yet let our children have rooms for critical and creative thinking? ( Khởi từ điểm này chúng ta phải đi đâu: Làm thế nào để chúng ta có thể duy tŕ kỷ cương truyền thống trong gia đ́nh và xă hội và đồng thời tạo điều kiện cho con em chúng ta suy nghĩ với tinh thần phê phán và sáng tạo).
6- Tạ Chí Đại Trường - Lịch sử Việt Nam trong tầm mắt của người Việt: Một lối nh́n khác (Vietnamese history through a Vietnamese Lense: A different Perspective)
7- Trin Yarborough - Surviving Twice, a Narrative Non-Fiction Book about the 32.000 Vietnamese Amerasians who came to the United States as teens and young adults between 1988-1994 (Sống sót hai lần, truyện của 32.000 người Việt Mỹ lai đến Hoa kỳ ở tuổi vị thành niên hoặc thanh niê7- Trin Yarborough
Nhận xét - Các đề tài rời rạc không phù hợp hoàn toàn với mục tiêu trong năm thứ hai của chương tŕnh "“Emerging Diasporic Voices: Exploring Vietnamese Literature, Language and Culture in the Diaspora". Giống như năm thứ nhất, trong số nghiên cứu viên có một số người thiêLanguage and
D - Năm thứ ba: niên khóa 2002-2003.
Đề tài trong năm thứ ba là chủ đề chính của cuộc nghiên cứu: diễn tŕnh (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài: một cái nh́n dài hạn. Năm này tiếp nối các thực hiện của hai năm đầu và các các nghiên cứu viên sẽ khảo sát về chủ đề của chương tŕnh (The third year of residency will continue building on years one and two, while inviting fellows to explore (re)construction of Vietnamese identity and place in the diaspora)
Đến nay đă hết hạn nhận đơn (31-01-2002), chưa rơ ai tham gia năm thứ ba chương tŕnh nghiên cứu này. Nhưng với con số tối đa 15 người mà mà chương tŕnh đă công bố, nhiều nhất cũng chỉ c̣n có 4, 5 người được chọn.
Hăy chờ xem ai được chọn và các đề tài như thế nào.
III . Vụ kiện WJC
Trên phương diện luật pháp, có 3 vụ khiếu nại WJC.
1. Ông Nguyễn Hữu Luyện đứng đơn kiện WJC, chiếu theo nhiều điều khoản trong luật của Hoa kỳ và của tiểu bang Massachusetts.
Ngày 27-10-2000, luật sư Keane đại diện
ông Luyện, thông tri cho WJC về những vi phạm luật của trung tâm này. Sau khi Hội đồng Bài Trừ Kỳ Thị của tiểu bang Massachusetts tuyên bố không có vấn đề kỳ thị trong vụ án này, luật sư Keane đệ đơn khỏi tố trung tâm WJC ngày 28-9-2001, đ̣i WJC bồi thường thiệt hại, chấm dứt, và ngưng thuê mướn những người đang làm
việc.
Ngày 11 tháng 12 năm 2001, luật sư Keane cho biết bên bị cáo WJC chưa nộp lư đoán trả lời. Ông c̣n cho biết trong các vụ kiện chống lại cơ sở do tiểu bang yểm trợ, chính trị thường có ảnh hưởng vào nội vụ (in any lawsuit against a state-supported agency, political influence may always play a part. The difficult question to answer is how big a part will it play).
2. Vụ kiện thứ hai do12 người, gồm quư ông/bà: Bùi Diễm, Nguyễn Tú, Theresa Vương Ư Như, Nguyễn Đạt Thịnh, Lê Phước Sang, Nguyễn Tường Bá, Trần Minh Xuân, Phan Nhật Nam, Lê Thanh Quang, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Hữu Luyện, dùng tố quyền tập thể (class action) đứng đơn khởi tố WJC trước ṭa Thượng Thẩm Massachusetts.
3. Vụ can thiệp với Bộ Tư Pháp Massachusetts, yêu cầu điều tra WJC đă vi phạm điều 264, chương 20 luật Tiểu bang Massachusetts cấm thuê mướn đảng viên cộng sản. Đă có nhiều đoàn thể tại các nước gửi thư yêu cầu bộ Tư Pháp điều tra WJC vi phạm luật cấm thuê đảng viên cộng sản.
Chúng ta không tiên đoán được kết quả vụ kiện, nhưng đúng như nhận định của luật sư Keane, ảnh hưởng chính trị Hoa Kỳ chắc chắn khá nặng trên cán cân tranh tụng. Thứ nhất v́ chính sách vuốt ve cộng sản VN của nhiều chính khách Mỹ, đặc biệt ở tiểu bang Massachusetts, hẳn dư luận c̣n nhớ ông Thượng Nghị Sĩ sang thăm Hà Nội chỉ bảo cách chỉnh trang kiến trúc thành phố (sic). Hơn nữa uy tín đại học Massachusetts cũng có phần ảnh hưởng. Không lạ ǵ đến nay ông bộ trưởng tư pháp chưa trả lời thư của các hội đoàn yêu cầu điều tra WJC vi phạm thuê đảng viên cộng sản.
IV - Phản ứng trong cộng đồng
Tháng 3-2000, sau khi biết rơ WJC mời
hai nhân vật từ Việt Nam qua nghiên cứu về người Việt hải ngoại, ông Nguyễn Hữu Luyện đă trực tiếp can thiệp với WJC, nhưng không có kết quả.
Tháng 4-2000, ông Nguyễn Hữu Luyện báo động với cộng đồng về sự kiện nghịch lư của chương tŕnh nghiên cứu. Từ đó nhiều nhân vật, các đoàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại, các đài phát thanh truyền h́nh, đă phát động một phong trào gửi kháng thư tới WJC, viện đại học Massachusetts và Rockfeller Foundation. Một số người Mỹ cũng gửi thư tán trợ quan điểm của đồng bào Việt Nam
Ngày 25-8-2000 Cộng Đồng Việt Nam Boston đă họp với WJC nhằm giải quyết vấn đề, nhưng WJC hoàn toàn bác bỏ các đề nghị.
Trước các phản kháng đông đảo của người Việt hải ngoại, ông Kevin Bowen phải trả lời, nhưng lư luận không đủ thuyết phục, có khi ngụy biện và dối trá. Ông lúng túng đổ cho công luận hiểu lầm và lẫn lộn (misunderstanding and confusion). Hiểu lầm v́ chương tŕnh bao quát ông viết ra để cố thu hút người nộp đơn, lẫn lộn v́ kế hoạch của ông chuyên về nhân văn chứ không phải xă hội (xin đọc phụ bản VI, tr 44). Thế tại sao WJC lại viết trên liên mạng internet "phác họa công tŕnh nghiên cứu liên ngành để khám phá và giải thích tận cỗi rễ tất cả những đa dạng mâu thuẫn đó, để hướng tới một cái nh́n mới, xây dựng một cộng đồng dân chủ vững mạnh trên vùng đất mới". Ông không giải thích được tại sao WJC vội vàng mời hai người từ Việt Nam sang viết về văn học trong khi chương tŕnh năm thứ nhất chỉ chuyên nghiên cứu về h́nh thành lịch sử Việt Nam. Đâu là tinh thần liêm khiết của một trung tâm đn mạng
Trong thư giải thích ngày 01-08-2000 gửi tuần báo Chính Nghĩa, ông Kevin Bowen nói rằng dán nhăn hiệu cộng sản cho hai học giả Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi là chụp mũ và thiên lệch (nguyên văn: to label these scholars as communist writers is simply uniformed and biased) . Không ít lâu sau ông phải thú nhận với báo The Boston Globe (26-10-2000) và báo Far Eastern Economic Review (30-11-2000) rằng Hoàng Ngọc Hiến là đảng viên cộng sản.
Trả lời bác sĩ Vơ Văn Phước và bác sĩ Hoàng Cầm thuộc hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do và nhiều hội đoàn khác, ông Kevin Bowen bám víu vào hai bài viết của ông Nguyễn Mộng Giác và bà Thụy Khuê, như để làm chứng cho khả năng và tính vô tư của Hoàng Ngoc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, hai người từng giữ chức vụ và hoạt động trong hệ thống luận lư tư duy cộng sản được thuê mướn để nhận định về một tập thể gồm hầu hết những người trốn tránh cộng sản. Không thấy ông Nguyễn Mộng Giác và bà Thụy Khuê lên tiếng về việc này.
V . Bàn về chuyển biến và (tái) xây dựng một cộng đoàn.
Một cộng đồng trong xă hội biến chuyển tùy theo các thành phần (hội đoàn, tôn giáo, khuynh hướng), tương quan giữa các tổ chức, các hiện tượng xă hội, và các sinh hoạt trong tập thể. Những yếu tố chuyển biến xă hội đa dạng và phức tạp, bề dày của tập san này giới hạn tŕnh bày trong vài nét chính.
Trong mọi tiến tŕnh khảo sát một tập thể, nghiên cứu phải qua nhiều giai đoạn: mô tả, sưu tầm dữ kiện, (trường phái Chicago với William I. Thomas và Floran Znaniecki), cắt nghĩa các nguyên nhân (phương pháp Weber), t́m hiểu cách vận hành, cơ cấu, tương quan giữa các sức mạnh đối nghịch, kết luận bằng các giả thuyết.
Như bất cứ cộng đồng nào khác, cộng đồng người Việt hải ngoại mang động tính lẫn ́ tính, cường độ thay đổi tùy nơi, tùy lúc, theo từng hoàn cảnh, có khi im ĺm đấy, nhưng lúc cần th́ linh hoạt hẳn lên.
* Trên cương vực "vĩ mô", người Việt hải ngoại thành h́nh từ cuộc tránh nạn cộng sản 1975, kẻ đến sau dù ra đời ở nước ngoài, dù không phải do con cháu người trốn lánh cộng sản, ít nhiều cũng bắt nguồn từ cuộc tị nạn lịch sử ấy. Cấu trúc, sinh hoạt của cộng đồng Việt hải ngoại về kinh tế, văn hóa, chính trị, xă hội có một sắc thái đặc biệt mà những người lính đánh thuê cho chính sách ḥa giải của nhà cầm quyền cộng sản phải nh́ng vực
Trung tâm WJ nêu lư do ở "trong nước có những câu hỏi đặt lại vấn đề ư nghĩa văn học và văn hóa thời chiến tranh, ư thức nhu cầu tiến tới một xă hội dân chủ, công bằng và hiện đại để thoát khỏi đói nghèo, th́ ở hải ngoại cũng có những tiếng nói hướng về tương lai, đi t́m một chân trời mới, thoát khỏi những gọng ḱm của quá khứ. Có thể phác họa một căn bản lư thuyết hoặc một công tŕnh nghiên cứu liên ngành nào để khám phá và giải thích được tận cỗi rễ tất cả những đa dạng mâu thuẫn đó, hướng tới một cái nh́n mới, xây dựng một cộng đồng dân chủ vững mạnh trên vùng đ do mới".
Thực ra trong nước có rất nhiều tư tưởng cầu tiến, nhưng do truyền thông hải ngoại tiếp tay hưởng ứng, tuyệt nhiên không được phổ biến công khai tại Việt Nam, chưa kể đến sự việc tác giả bị cô lập, tù đầy, đe dọa, mời lên công an làm việc. Đem so sánh t́nh trạng ḱm kẹp chính trị, văn học trong nước với tinh thần tự do hải ngoại rồi phác họa một căn bản lư thuyết tái xây dựng cộng đồng tương lai, hiển nhiên WJC giữ vai tṛ cầu nối của chính sách Hà Nội đối với người Việt nước ngoài (xin đọc Nguyễn Ngọc Hà, Trần Trọng Đăng Đàn)
* Nh́n vào lăng kính "vi mô"nh “vi mô”, của cá nhân, của các nhóm nhỏ tuy có trái ngược, vẫn là h́nh ảnh bắt gốc từ cuộc tị nạn lịch sử. Không thể nào xóa nḥa được quá khứ , vô ơn đối với tiền nhân đă gian khổ bảo vệ ư lực sinh tồn qua bao biến cố độc ác, sai lầm triền miên, suốt chiều dài của hạ bán thế kỷ. Một nửa thế kỷ đau ḷng đấy, nhưng trở nên sinh động khi đă thoát hiểm làm lại được cuộc sống xứng đáng của con người. Những sinh vật biết nói ấy, từ cải cách ruộng đất, từ nhân văn giai phẩm, từ nhà tù "cải tạo", tay trắng lội śnh vượt biển, đến đây không những để thoát thân mưu kiếm an sinh cho riêng ḿnh, mà chính là cho con cháu, trong và ngoài nư?cải
Họ bảo cho con cháu hay rằng tương lai tùy thuộc cách chúng con biết nh́n vào chiều sâu của xă hội, bên trong cũng như bên ngoài, con đường t́m thấy không thể nào do người ngoài chỉ dạy, vẽ trước.
Họ kể lại, như một câu chuyện cổ tích cho những đứa trẻ sẽ ra đời, ngày xưa ấy mồ hôi và nước mắt, tiết ra từ những tế bào mang "gen" do tổ tiên di truyền lại, là hạt giống cuộc sống đương thời của chúo mang “gen” do tổ tiên
Bằng ư chí sinh tồn, họ đă chứng minh sự sai lầm của nhận thức luận duy vật chủ nghĩa, cho rằng cảm giác, ư niệm của con người, kể cả những ư niệm khoa học, đều phản ảnh hiện thực khách quan. Cộng sản lập các trại tù "cải tạo" hiện vẫn c̣n á ?cải dụng tại Việt Nam (đọc Dương Thu Hương: Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen), tưởng có thể biến đổi con người, nhưng chỉ đưa đến hủy diệt xă hội.
Thế nhưng chương tŕnh của WJC táo bạo hơn, chỉ cần mười lăm bài viết, tái xây dựng diện mạo và quê hương của cộng đi viết, “tái” xây dựng
* Giữa khoảng cách vĩ mô và vi mô, là mảnh đất "trung mô", gồm những hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức. Theo quan niệm này, Ralf Dahrendorf bảo rằng mỗi cộng đoàn được kết hợp bởi nhiều nhóm, có lúc tập họp lại, lúc phân chia ra, nhưng bao giờ cũng trong một liên đới xă hội đặc biệt nào đó. Thực vậy hội đoàn, cộng đồng địa phương, tôn giáo là trung gian giữa cá thể và tập đoàn hơn hai triệu người Việt ở hải ngoại trong những sinh hoạt đủ mọi lănh vực, chính trị, văn hóa, xă hội, kinh tế. Riêng về văn học, sinh hoạt vượt trội hẳn lên, sách báo xuất bản đủ thể loại, nhiều cơ quan báo chí đă có viễn quan nh́n về hướng đi sang thời kỳ hậu hiện đại. Để so sánh, thử lấy ví dụ việc phát hành, mỗi tác phẩm xuất bản ở hải ngoại, thường phát hành lần đầu 500 tới 1000 cuốn cho 2 triệu người, trong nước sách cũng chỉ in 1000 cuốn cho 80 triệu người, mà có tới hơn 3000 tiệm bán sáất “trung mô”, gồm
Tổ chức các nhà văn trong nước có biên chế, có hệ thống, có kỷ luật, mỗi kỳ đại hội, ủy viên Bộ Chính trị đến ban chỉ thị. Nhà văn nào được ra nước ngoài phải có thảo luận và được lănh đạo bật đèn xanh, khi về viết bài ca tụng Mỹ phản chiến và đám quần thần (xin đọc Lê Lựu: Trở lại nước Mỹ).
WJC bịt mắt người đọc, biện minh cho tinh thần độc lập vô tư của hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi bằng cách che dấu hiện trạng sinh hoạt văn học chỉ huy ở trong nước.
Thế nên các đoàn thể người Việt Nam ở hải ngoại phải phản kháng.
Kết luận
Khảo sát thực trạng của người Việt nước ngoài cần phải có một công tŕnh khoa học, khách quan và trung thực.
Phương cách thực hiện chương tŕnh
nghiên cứu về người Việt ở hải ngoại của trung tâm William Joiner phiến diện, mang nhiều ẩn ư, phù hợp với chính sách cộng sản đối với người Việt nước ngoài, với chính sách vuốt ve cộng sản của một số người Mỹ.
Mười một đề tài chương tŕnh nghiên cứu của WJC rời rạc, nghèo nàn và chủ quan, không đáp ứng mục đích hai năm đầu, một phần ba đường c̣n đi tiếp hẳn không c̣n ǵ để tin tưởng. Thành quả thực sự của chương tŕnh WJC, nếu có, chỉ đơn giản là một tuyển tập của khoảng mươi lăm người được thuê mướn bằng tiền của Rockfeller Foundation, không xứng đáng mang tên một chủ đề lớn lao nghiên cứu về một cộng đồng trên hai triệu người
Muốn công tŕnh nghiên cứu có giá trị nghiêm túc, phải loại bỏ những người có sẵn thiên kiến, thiếu khả năng, lập một ủy ban điều hành thành phần ṇng cốt là những học giả vô tư và thay đổi phương pháp thực hiện chương tŕnh.
Bằng cách nào có thể chứng minh với các cơ sở đại học, các cơ quan văn hóa, các viện nghiên cứu về việc làm thiên lệch của WJC để công luận quốc tế biết rơ giá trị thực sự của chương tŕnh này, đó là trách nhiệm của mỗi người, của mọi người, nhất là những người làm văn học. Có thể nào văn giới hải ngoại lặng thinh khi người ta đang vẽ lại «diện mạo» ḿnh trong phạm trù nhân văn của khoa học ?.