Trên đường về với Đạo, Nguyễn Khuyến để lại cho chúng ta bài thơ nôm:
Người Việt Nam, bất kỳ ai, đă từng học qua sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng cũng đều thuộc ḷng bài thơ này. Cảnh thơ đơn giản là một mặt ao về mủa thu có một chiếc thuyền con và có một ông lăo ôm cần đợi cá cắn câu.
Đàng khác trên mặt văn Đông Á, cảnh thơ này là cả một ḍng thơ phong phú. Trên mặt triết học, cảnh thơ này là cảnh TrangTử đă nhiều lần nhắc nhở tới trong sách Nam Hoa Kinh. Trên mặt văn thơ chuyển biến từ ḍng thơ Việt Âm sang ḍng thơ Nôm, bài Thu Điếu là một thành công của Nguyễn Khuyến trong việc kéo dài ḍng thơ câu cá Trung Quốc sang thơ Việt Nam, trên mặt tư tưởng và trên mặt thi hiệu, poétique, bài Thu Điếu có thể coi là một bài mà tác giả góp tiếng thơ Việt Nam vào ḍng thơ Đông Á. Những trang kế tiếp tŕnh bày bài Thu Điếu trên ba mặt kể trên.
Trước hết là cảnh thơ bài Thu Điếu trên mặt triết học của Trang Tử.
Trong chương Khắc Ư 78, Trang Tử kể ra năm hạng người: một là sơn cốc chí sĩ những người đi ở ẩn để sửa ḿnh, hai là b́nh thế chí sĩ những người th́ch dậy dỗ thiên hạ, ba là triều đ́nh chí sĩ những người thích pḥ vua giúp nước, bốn là giang hải chí sĩ nhưng người lánh đời ưa nhàn về chốn ao chầm ngồi ôm cần câu cá, năm là dần đạo chí sĩ nhưng người chuyên chú luyện khí mong thọ như Bành Tổ, sáu là những thánh nhân không làm mà hợp đạo trời. Vậy th́, phải chăng người ưa nhàn lánh đời ôm cần câu cá, như h́nh ảnh tác giả bài Thu Điếu, có thể coi là những người đă vượt được quá nửa con đương tu tập theo đạo Lăo Trang?
H́nh ảnh ông lăo câu là h́nh ảnh Trang Tử tự họa trong truyện Rùa Thần, chương Thu Thủy 79, sách Nam Hoa Kinh:
Thầy Trang câu ở sông Bộc. Vua Sở sai hai quan đại phu đến nói trước rằng:
- Xin đem đất nước để phiền ngài ...
Thầy Trang cầm cần câu chẳng quay lại mà rằng:
- Tôi nghe nước Sở có rùa thần, chết đă ba ngàn năm. Nhà vua đựng vào ḥm vải, cất ở miếu đường. Con rùa ấy mong chết đdể lại bộ xương qúy giá, hay mong sống mà lê đuôi ở trong bùn lầy?
Hai quan đại phu đáp :
- Mong sống mà lê đuôi ở trong bùn lầy.
Thầy Trang nói :
- Đi thôi! Tôi sẽ lê đuôi ở trong bùn lầy
Trong sách Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bàn về đoạn Rùa Thần trên đây như sau 80 :
Hiền như Trang Tủ mà đi câu trên sông Bộc là muốn an nhàn không c̣n để thân bó buộc trong ṿng danh lợi nữa. Sở Vương không hay, sai người đến cầu. Trang Tủ hỏi chuyện con rùa thần tức là để tỏ ư từ chối. Ôi! Bấy giờ nhân đời Chiến Quốc, người ta đă có câu: “Chiến Quốc chi tiện sĩ” nghỉa là kẻ sĩ đời Chiến Quốc hèn hạ, đáng khinh, cho nên Trang Tử không chịu ra cũng có lẽ vậy. Lúc đổi đang sôi nổi đắm đuối về danh lợi, xâu xé tranh cướp nhau, xác người tuy c̣n nhưng ḷng người đă chết, th́ đua với người chỉ là ô uế tới thân. Có đâu cao thượng bằng cầm cần câu trên sông Bộc, làm lăo ngư ông sống gần tạo hóa, xa đời ô trọc chả nhẹ nhàng cái thân ư!
Lui về chốn ao chầm là h́nh ảnh Trang Tử vẽ chân dung Khổng Tử trong một bức hư họa như ghi trong chương Sơn Mộc như sau:
Thầy Khổng bị vây ở giữa khoảng Trần Sái, bẩy ngày không nấu ăn. Thái Công Nhậm đến thăm thầy, hỏi:
- - Nhà ngươi sắp chết chăng?
Thưa:
- Vâng
- Nhà ngươi ghét chết chăng?
- Vâng!
Nhậm nói:
- Tôi từng nói về đạo không chết. Biển Đông có giống chim, tên nó là ư nhi. Nó là giống chim xập xập x̣e x̣e mà không có tài ǵ. Nương náu mà bay.Bức hiếp mà đậu. Tiến không dám đi trước. Lui không dám đi sau. Ăn không dám nếm trước, tất dùng món c̣n thừa. Thế cho nên đàn bạn nó không ruồng đuổi, mà người ngoài th́nh ĺnh không hại nổi. V́ té khỏi tai nạn. Cây thẳng chặt trưóc. Giếng ngọt cạn trước. Nhà ngươi chắc là sửa trị để nạt kẻ ngu hèn; tu ḿnh để tỏ người nhơ đục; lồ lộ như nêu mặt tṛi mặt trăng mà đi; cho nên không thoát khỏi. Hồi xưa, tôi nghe ở người có đức đại thành rằng : « kẻ tự khoe th́ không công! Kẻ thành công th́ mất danh. Kẻ thành danh th́ thiệt hại. Ai có thể bỏ công cùng danh mà trả cho mọi người? Đạo ḿnh lưu hành mà không nhận công. đức ḿnh lưu hành mà không lấy danh. Thuần thuần thường thựng, sánh với kẻ cuồng, Trước dấu, bỏ thế chẳng v́ công danh. Thế cho nên « không trách chi người, mà người cũng không trách » Bậc chí nhân không có tiếng. Nhà ngươi thích ǵ?
Thầy Khổng nói :
- Phải lắm
Liền từ giă bạn bè, bỏ học tṛ; trốn vào chầm lớn; mẵc áo cừu áo vải; ăn hạt gắm hạt dẻ; vào đám muông không làm loạn đàn, vào đám chim không làm loạn hàng. Chim muông không ghét, mà huống chi ngựi.
Lời Thái Công Nhậm khuyên Khổng Tử bỏ công cùng danh, trả cho mọi người là thuật hư ḿnh, thuận thời để chơi với đạo đức mà thoát khỏi nạn đời. Đó phải chăng chính là việc Nguyễn Khuyến đă làm khi lấy cớ già bệnh xin vua cho lui về Vườn Bùi?
Sang chương Điền Tử Phương, sách Nam Hoa Kinh, Trang Tử kể truyện Văn Vương chơi ở đất Tang gặp mộ tông già, như sau 81:
Ông già câu mà không phải là câu : không phải là kẻ cầm cần mà câu mà có câu. Thường câu chơi mà thôi.
Sang chưong Ngoại Vật, Trang Tử ghi truyên Nhậm Công Tử như sau 82 :
Nhậm Công Tử làm ưỡi câu lớn, giây câu to. Dùng năm chục trâu mộng làm mồi. Ngồi xổm ở Cối Kê, gieo cần xuống biển Đông. Đầy năm không được cá. Rồi đó mà cá lớn ăn mồi, kéo lưỡi câu, lặn miết. Vùng vẫy dương vây : sóng bạc bằng núi. Nước bể rầm rộ, tiếng ngang với qủy thần. Ngh́n dặm khiếp sợ. Nhâm Công Tử được cá, phanh ra ướp. Từ Chế Hà sang Đông, Thương Ngô sang Tây, không ai không ngấy vị cá ấy.
H́nh ảnh Nhậm CôngTử là h́nh ảnh đối nghịch với h́nh ảnh ông già đất Tang. Ông già đất Tang câu là câu chơi, cầm cần không lưỡi không mồi, không màng tới chuyện được cá. Nhậm công Tử, làm lưỡi câu lớn, giây câu to, dùng trâu mộng lảm mồi, chỉ mong được cá. Cảnh trời biển bao la., sóng bạc bằng núi, tiếng sóng ngang với tiếng qủy thần cũng chẳng nghe, chỉ mong được cá. Được cá lớn, phanh ra ưóp, phân phát cho mọi người từ Chế Hà sang Thương Ngô, nhưng ngựi người phải ăn măi một vị cá đều chán ngấy.
H́nh ảnh Nhậm Công Tử ngồi xổm ở Cối Kê khác hẳn h́nh ảnh của Nguyễn Khuyến; ông câu đất Tang này trái lại chính h́nh ảnh Nguyễn Khuyến tư họa trong bài Thu Điếu :
Trang Tử kể tiếp tích ông già câu đất Tang :
[Văn Vương] đón ông già đất Tang mà trao quyên. bính [...] Ba năm sau [...] tôn lên làm Thái Sư, quay mặt về Bắc mà hỏi:
- Chính quyền đă có thể tới thiên hạ được chưa?
Ông già đất Tang lặng thinh mà không thưa. Ơ hờ mà từ chối. Sớm ra lệnh mà đêm trốn. Suốt đời không c̣n nghe ai nói tới nữa.
Sau hết, chương Ngư Phủ 83 , sách Nam Hoa Kinh có truyện Ngu Phủ ghi lại buổi gặp gỡ giữa Khổng Tử và một ông lăo câu vô danh. KhổngTử cùng môn đệ chơi ở Truy Duy, ngồi nghỉ trên Đàn Hạnh. Học tṛ đọc sách, thầy gẩy đàn. Bỗng có một lăo đánh cá, xuống thuyền mà lại, râu mày đua trắng, xơa tóc, vung vạt áo theo băi mà lên; tay trái vịn đầu gối, tay phải tỳ má đứng nghe. Khúc rứt ông lăo gôi Tử Cống chỉ Khổng Tử mà hỏi là ai. Tử Cống cho hay đó là Khổng Tử, tính t́nh trung tín, sống theo nhân nghĩa, sửa lễ nhạc, lựa nhân luân, trên hết ḷng với vua, dưới đươc ḷng dân, làm lợi cho thiên hạ. Nhưng không phải là vua, cũng chẳng phải là quan. Ông lăo cười mà nói:
Tử Cống về thưa với Khổng Tử. Khổng Tử vội chạy tới bờ chầm nài nỉ ông lăo chỉ giáo. Ông lăo vạch ra tám vết xấu và bốn mối lo của KhổngTử. Tám vết xấu là: hóng tức không phải việc ḿnh mà làm; nịnh chẳng có người mời mà tự leo lên; siểm là đón ư mớm lời; dua là không chọn phải trái mà nói; gièm là nói xấu người khác; phá là tách bạn ĺa thân; ác là tâng bốc hăo huyền; hiểm là tám ừ tư gật miễn đạt được điều ḿnh muốn khiến vua minh không dùng bạn hiền không thân. Bốn mối lo là nhiễu tức là thích làm việc lớn để cầu công danh; tham tức cậy khôn xâm phạm người; bướng là thấy lỗi chẳng đổi; thiên là người đồng với coi là được, người không đồng với ḿnh th́ dầu hay cũng không cho là hay. Có bỏ được tám vết xấu, đùng phạm vào bốn mối lo th́ mới có thể dậy đươc.
Khổng Tử hỏi ông lăo chài về nguyên do khiến nhiều lần bị khó Lỗ, ở Vệ, ở Tống; ở Trần, Sái. Ông lăo chài cho hay tất cả chỉ vỉ thuyết hữu vi của Khổng Tử.
Sau hết ông lăo chài nói về lẽ thật. Lẽ thật là lẽ cảm được ḷng người; “cái thật ở trong th́ thần động ở ngoài”. Cái thật là tự trời. Thánh nhân thuận theo đạo trời, quư trọng lẽ thật, không câu nệ về thế tục.
Khổng Tử xin theo lăo chài học đạo. Nhưng ông lăo chèo thuyền ven theo đám lau sậy mà đi.
Tóm lại h́nh ảnh ông câu, qua h́nh ảnh Trang Tử bên sông Bộc, Thái Công Nhậm, ông già đất Tang hay ông lăo đánh cá là h́nh ảnh một chân nhân đă tới cơi huyền đồng.
Những h́nh ảnh ông câu như trên đă trở thành thi liệu trong ḍng thơ ông câu, ở Trung Quốc. Bài thơ quen thuộc nhất trong ḍng thơ ông câu là bài từ của Trương Chí Ḥa (730-810) 84 :
dịch là
Cảnh thơ của bài từ là một cảnh thiên nhiên hùng vĩ có núi cao sông rộng, có chim trời cá nước. Thực cảnh lăo câu là lăo chài áo tơi nón lá dưới trời cảnh mua gió phũ phàng, nhưng lăo câu chẳng nghĩ tói về. Cảnh thơ này, theo sử họa Trung Quốc đă tạo hứng cho họa sư Mă Viễn (1280-1354) vẽ nên bức danh họa lăo câu thả thuyền buông câu trong cảnh nước trời vô tận, (xem phụ bản 3) nổi tiếng khắp Đông Tây. Trong sử họa Nhật Bản, (xem phụ bản 4) có bức Thuyền Câu Dưới Mưa của Ikkyu Sojun (1394-1481) cũng là một họa phẩm vẽ theo cùng một cảm hứng và cũng nỗi danh khắp Âu Á Mỹ. Làn mưa bay chéo từ trái sang phải, tặt vào vát đá hắt chéo từ phải qua trái là một họa thuật sau đó nhiều danh họa Nhật Bản khác áp dụng.Lăo câu áo tơi nón lá, trên lá thuyền câu nhỏ, quên mưa băo gợi lên h́nh ảnh con người bước ra ngoài ṿng cương tỏa.
Phụ bản 3 :
Tranh Mă Viễn
Sau Trương Chí Ḥa, Liễu Tôn Nguyên (773-819)85 cũng dùng h́nh ảnh lăo câu trong bài tứ tuyệt và bài thất ngôn cổ thi dưới đây:
dịch là
giới b́nh thơ cho rằng dẫy núi cao ngăn đường chim bay không thu hẹp cảnh thơ, trái lại mở ra chiều lên cao như ư thơ vươn lên Đạo.
Trong mạch thơ lăo câu, Liễu Tôn Nguyên 86 c̣n để lại bài thất ngôn cổ thi :
dịch là
Khác với cảnh thơ bài Tuyết Giang thu gợn trong rặng núi vươn cao về với đạo, cảnh thơ bài Ông Câu trải rộng ra tới chân trời trong sương sớm lúc mặt trời mới mọc, với những làn mây đuổi nhau trên đầu núi xa. Đó là cảnh mà người mong về với đạo t́m thấy cảnh tĩnh của nước, tiêu biểu cho cái tĩnh của thánh nhân như ghi trong Nam Hoa Kinh, chương Thiên Đạo 87:
Nước tĩnh th́ sáng, soi được râu mày; đứng được thăng bằng, thợ cả lấy đó làm mức. Nước tĩnh c̣n sáng, huống chi là tinh thần Ḷng thánh nhân tĩnh chăng? Gương của trời đất đó; kính của muôn vật đó. Ḱa hư tĩnh, điềm đạm vắng lặng, không làm, là mực bằng của trời đất, bậc chót của đạo đức.
Chữ tĩnh này là điều mong ước của nhà thơ Đuờng Vương Duy (699-759) như viết trong bài 88:
dịch là
Đáp lời Trương Thiếu Phủ, Vương Duy chỉ c̣n ưóc mong đưọc về cơi tĩnh, muôn sự đều buông bỏ, từng làm quan hết đứng bên trái rồi lại đúng bên phải vua mà nay Vuơng Duy tự coi ḿnh lả kẻ sách lược tầm thường, dủng dưng trước mọi lư luận cùng thông, buông bỏ tất cả để theo tiếng hát ông câu đi về chốn khói ráng
Tiếng hát ông câu c̣n văng vẳng trong thơ Ngô Sư Đạo, trong bài NguyênThi dưới đây 89
Phụ
bản 4 : Tranh Ikkyu Sojun
dịch là
Cảnh chiều đầu sông, nổi gió đông làm mặt sông gợn sống khơi động ước mộng giang hồ của người thơ, không phải là đi t́m phong hầu mà là buông bỏ cá có ngoại vật đi nghe tiếng hát ông câu.
Rồi tới Tư Không Thự (mất khoảng 790) đă đưa tiếng hát ông câu vào Đường Thi qua bài dưới đây 90:
dịch là
Tại sao ngư phủ không cột chặt thuyền khi nghỉ câu về bến? Tại sao ngư phủ ngủ vùi hả hê lúc trăng lặn đầu sông? Tại sao ngư phủ không lo nửa đêm trời nổi gió, mà thuyền trôi? Chỉ v́ ngư phủ và ḍng sông đă là một. Biết rơ mực nước triều lên xuống, cùng ḍng nước lúc cao lức cạn thế nên dầu đêm đó có nổi gió, thuyền có trôi th́ cũng không qua nổi bờ lau v́ nước đêm đó cạn. Người đống với ḍng sông đă dược thảnh thơi như vậy, nữa là người đồng được với lẽ huyền của đạo.
Bài tứ tuyệt của Từ KhôngThự gọi cho người đọc một đoạn trong chương Đại Tông Sư, Nam Hoa Kinh 91:
Ḱa như giấu thuyền vào khe núi, giấu trái núi vào trong chầm, bảo thế là vững rồi. Nhưng mà nửa đêm kẻ có sức vác nó mà chạy. Kẻ ngu tối mới không biết thế. bất luận là giấu những nhỏ lớn ǵ đều cũng có thể bị biến mất được. Bắng giấu thiên hạ vào thiên hạ, thời không có cái ǵ làm nó biến được. Đó là tính lớn của vật thường.
Giới b́nh Trang Tử giảng cách giấu thiên hạ vào thiên hạ là kẻ đă đạt đạo th́ đồng với đạo, đất, trời với người và muôn vật là một. Đồng với đạo như vậy không c̣n có cái ǵ mất đi đâu được. Ngư phủ trong thơ Từ Không Thự đă đồng nhất với đất trời và muôn vật, th́ truyện nước triều lên xuống ngư phủ đă biết rành. Chẳng cần buộc kỹ thuyền, dầu trời nổi gió lớn, nhưng nước cạn, thuyền trôi đi đâu được, thế nên ngư phủ hả hê ngủ vùi không lo thuyền trôi.
Quay lại văn học Việt Nam, h́nh ảnh ông câu trong ḍng thơ Việt Âm cũng như ḍng thơ nôm, cũng là một thi liệu quen thuộc gần ngàn năm trước.
Trần Quang Triều (1286-1325) cháu đích tôn Hưng Đạo Vương Trần Quôc Tuấn, đưọc phong tước Văn Huệ Vương từ năm 14 tuổi, giỏi cả văn lẫn vơ, nhưng không màng danh lợi, từ quan về ẩn tại am Bích Động, thuộc huyện Đông Triều, Hải Dương, lập ra hội thơ Bich Động.
dịch là
Cùng trong thi xă Bích Động có Nguyễn Ức (?-?) để lại bài tứ tuyệt cùng một ư thơ với vói bài Điếu Tẩu của Trần Quang Triều như sau:
dịch là
Cḥi câu mà Nguyễn Ức nói tới trong bài Điếu Đài và Trấn Quang Triều nói tới trong bài Điếu Tẩu, là đài câu của Nghiêm Quang, tức Nghiêm Tử Lăng, ngưới đời Hán, bên sông Đồng Giang, dưới chân núi Phú Xuân, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
Coi cḥi câu nặng hơn vạc đỉnh c̣n là hứng thơ của Trương Hán Siêu trong bài ngũ ngôn dưói đây :
dịch là
Trương Hán Siêu (?-1354) là một danh nho, do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tiến cử, làm quan dưới hai triều vua Trần Anh Tôn và Trần Dụ Tôn, Ông dang giữ chức trấn thủ Hóa Châu th́ bị bệnh, xin từ quan, chưa vê tới kinh đô th́ mất. Dục Thúy là tên chữ Trương Hán Siêu đặt cho núi Non Nước. núi này là một thắng cảnh thuộc tỉnh Ninh B́nh. Cũng như Trần Quang Triều và Nguyễn Ức, Trương Hán Siêu cũng coi đài câu trọng hơn đỉnh vạc.
Tiếp tới là Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại tỉnh Hải Dương, năm 44 tuổi thi đỗ Trạng Nguyên, làm quan trong triều nhà Mạc, được phong là Tŕnh Quốc Công, nên quen gọi là Trạng Tŕnh. Ông chỉ làm quan trong bẩy năm th́ lui về ẩn dật. Ông để lại nhiều thơ nôm chép trong sách Vân Am Quốc Ngữ Thi và hàng trăm bài thơ Việt Âm trong Bạch Vân Am thi Tập.
H́nh ảnh chiếc thuyền câu, cái cần câu hay chính ông lăo câu là những thi liệu Nguyễn Bỉnh Khiêm thường dùng, tỷ như người đọc gặp chiếc thuyền câu trong hai bài Tân Quán Ngụ Hứng. Một là bài
dịch là
hai là bài:
dịch là
Trong bài XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho hay tuy đă về hưu sống trong cảnh nhàn tản, nhưng ông không ngừng suy nghĩ về những lẽ tiêu trường mà ông cho là tùy thời; cùng thông là do mẽnh trời, đúng hay sai ông cũng đề cho người khác giảng giải, ông chỉ c̣n thích đọc thơ Hàn Sơn và chiếc thuyền câu. Trong bài XVI, sống cảnh thanh nhàn của một ẩn sĩ, nhưng ông vẫn c̣n tự ḥi là t́m đâu ra chỗ sống không c̣n lo nghĩ. Phải chăng đi thả một lá thuyền câu tại Ngũ Hồ.
H́nh ảnh ông câu cũng là thi liệu của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài:
dịch là
Qua bài Vấn Ngư Giả, người đọc dường như cảm thấy bài thơ tựa một bức tranh tự họa. Tác giả hài ḷng với cảnh thoát khỏi ṿng cương toả vui cùng cánh âu trắng, tiếng sáo lêng đênh, với ánh trăng bên đầu ghềnh, mơ về lạch Đào Nguyên, bỏ ngoài tai chuyện đời đúng sai.
Nh́n sang ḍng thơ nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm có một bài thơ nôm, cũng ở trong nhánh thơ ông câu, chép trong Bạch Vân Am Quốc Ngữ Thi, mà ngày nay nhiều người c̣n thuộc ḷng. Đó là bài:
Qua bồn bài thơ trích dẫn trên đây, nhất là qua bài Thơ Nhàn, người đọc thấy thấp thoáng h́nh bóng sơn cốc chí sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, như đồng nhất vói h́nh ảnh Đảo Tiềm qua bài Quy Khứ Lai Hề Từ. Có một điểm hơi khác là trong hai câu mở đầu bài Thơ Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm có trong tay cái mai cái quốc c̣n có cái cần câu, biểu tương h́nh ảnh giang hải chí sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. H́nh đạo dẫn chí sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy rơ từ câu 3 tới 6.
Ư thơ hai câu 3 và 4 c̣n rơ hơn trong bốn câu dưới đây, bài Hựu Thập Nhị Vận, Tiếp Thêm Mười Hai Vần :
dịch là
Ư thơ trên gợi cho người đọc bốn câu trong Đạo Đức Kinh, chương
dịch là
Tiếp tới hai câu năm và sáu :
là h́nh ảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm sống thuận theo lẽ Đạo. Đất trời ttù Đạo nẩy ra. Lẽ động của Đạo tạo nên bốn mùa : xuân hạ thu đông. Con người sống giữa cơi trời đất, thuận với đạo tất cần biến đổi cách sống thoe lẽ động của ttrời đất. Đó là h́nh ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm đổi thức ăn nước tắm theo mùa.
Trong hai câu kết :
Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng hai h́nh ảnh của Đào Tiềm để tự họa chính ḿnh. Người đọc thơ nhớ tới ba câu cuối bài Quy Khứ Lai Hề Từ :
dịch là
Người đọc thơ chợt thấy nhiều ư thơ tưong đồng giữa Bạch Vân Am Thi và Quế Sơn Thi. Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là hai nhà thạc nho, cùng từ quan về chí sĩ, cùng lấy hứng từ sách Lăo Trang, và thơ Đào Tiềm, nhưng đồng thời người đọc thơ c̣n cảm thấy có nhiều điểm khác biệt giửa hai nhà thơ vừa cùng làm thơ Việt Âm vừa cùng làm thơ nôm. Vấn để tạm để ngỏ chở giới nghiên cứu khai thác.
Suôi theo ḍng thơ ông câu, người thơ không khỏi không nhớ tới bài hát nói dưới đây của Cao Bá Quát.
Giống như Vương Duy đời xưa dùng tiếng hát ngư phủ trả lời ngựi hỏi ông về lẽ cùng thông, Cao Bá Quát lấy h́nh ảnh chiếc thuyền câu trong khói sóng trả ḷi câu người hỏi về thế sự thăng trầm, bởi lẽ mộng với thực cũng chỉ là một. Ông dẫn bài phú Tiền Xích Bính của Tô Đông Pha, để tỏ ư ḿnh phó mặc mọi sự cho ông Trời. Thế th́ dầu ở thành thị hay ở giữa rừng sâu nào có khác. Hăy đọc Trương Tiến Tửu của Lư Bạch, mà nh́n xem phép vô vi dẫu không làm mà mọi sự đều thành thời làm làm chi cho phí công mệt sức.
Cao bá Quát (?-1854) tự là Mẫn Hiệp, hiệu là Chu Thần, ḍng giơi Thượng Thư bô binh Cao Bá Hiên đời nhà Lê, quê ở xă Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông là một trong những nhà thơ trong sử văn học Việt Nam mà tiểu sử kèm theo nhiều huyền thoại . Huyền thoại thủa ông c̣n là thư sinh, học hành xuất sắc ra sao; thởi ông làm quan trong triều vua Tự Đức, ngang tàng như thế nào và những huyền thoại kèm theo cái chết của ông làm người nghe như nh́n thấy nếp sống đầy phẫn nộ của ông.
Trong bài tựa tập truyện Hoa Tiên Cao Bá Quát từng viết:
nghĩa là :
nên người đọc dường như thấy Cao Bá Quát không đóng góp nhiều vào ḍng thơ nôm. Do đó, quay về ḍng thơ Việt Âm, ngựi đọc h́nh ảnh ông câu và con thuyền câu thoáng hiện trong hai bài tứ tuyệt trong số tám bài tứ tuyệt Cao Bá Quát viết trong dịp đi chơi Hồ Tây. Bài thứ nhất như sau:
dịch là
Tám Bài Tứ Tuyệt Chơi Hồ Tây
và bài kế tiếp :
dịch là
Người đọc thơ dựng như thấy một khoảng cách giữa thi cảnh và tâm cảnh của Cao Bá Quát trong hai bài tứ tuyệt trên đây. Trong bài thứ IV, h́nh ảnh chiếc thuyền câu trong khói sóng cũng như h́nh ảnh áng mây treo đầu núi là những h́nh ảnh trong thi cảnh của con người đă thoát ṿng cương tỏa. Nhưng hai câu kế, Cao Bá Quát giăi bày tâm cảnh dương như nhà thơ cho thấy ông đang sống trong cảnh chờ đợi một hy vọng đang chậm tới, làm phí phạm ngày xuân của ông. Trong bài thứ V, thi cảnh là cảnh một ông câu, như ông già đất Tang câu chơi trong Trang Tử Nam Hoa Kinh. Nhưng rồi trong hai câu tiếp theo, Cao Bá Quát như giận đàn cá không tin ông câu chơi, không lưỡi không mồi, mà nhớn nhác như dân sợ mắc vạ.
Xét trong toàn bộ thơViệt Âm của Cao Bá Quát, người đọc tự hỏi phải chăng bài hát nói Nghĩ Đời Mà Chán cùng hai bài tứ tuyệt trên dây là những di bút của Cao Bá Quát trước quyết định về với vườn ruộng hay bước vào cuộc khởi nghĩa bạo động của Lê Duy Cự?
Trên mặt tư tưởng, dao động trong tâm cảnh Cao Bá Quát, cùng những thoại quanh hành động khiêu khích của ông tại sân rồng vua Tự Đức, làm người đọc liên tưởng tới con người hiện sinh dấy loạn của Albert Camus (1913-1960). Câu truyện này tạm để ngỏ để chờ giới nghiên cứu giải đáp.
Tới đây, ḍng thơ ông câu dẫn người đọc tới Nguyễn Khuyến. Cảo luận này đă cho thấy chính thơ văn Nguyễn Khuyến chứng tỏ rằng Nguyễn Khuyến đọc rất kỹ sách Lăo Trang, dùng rất nhiều điển cố rút từ kinh sách lăo Trang làm thi liệu. Nhưng c̣n một câu hỏi kế tiếp: Nguyễn Khuyến chuyển biến ra sao nhưng h́nh ảnh trích dẫn từ kinh sách Lăo Trang sang thơ Việt Âm và thơ nôm của ông? Câu trả lời t́m thấy trong bài dưới đây:
dịch là
Trong bốn câu đầu, người đọc cảm thấy dường Cánh Diều của Nguyễn Khuyến biến h́nh từ con cá côn của Trang Tử, trong đoạn mở đầu sách Nam Hoa Kinh 93:
Bể Bắc có loài cá, tên nó là côn. Bề lớn của côn không biết mấy ngàn dặm! Hoá mà làm loài chim, tên nó là bằng. Lưng của bằng không biết mấy ngàn dặm! Vùng vẫy bay, cánh nó như đám mây rủ ngang trời ...
Trong bốn câu tiếp, Nguyễn Khuyến đưa ra tiếng sáo trong mây vàng.
Nguyễn Khuyến cũng chuyển biến tù tiếng sáo diều đất thành tiếng sáo diều trong bài Ngẫu Thành kỳ I, qua hai câu:
dịch là
Nguyễn Khuyến di dịch cánh diều giấy thành cánh chim bằng, khiến người đọc hiểu rằng ông trích dẫn Trang Tử di dịch tiếng hơi thờ của con người lùa trong ống sáo, thành tiếng gió lùa qua hang động núi cao sông dài mà thành tiếng sáo đất. Rồi ông lại di dịch tiếng sáo đất thành tiếng sáo diều. Cái trầm bổng, cái ngưng ngắt, lúc khoan lúc nhặt, lúc trầm lúc bổng của tiếng sáo đất này phải chăng chính là tiếng sáo trời, đúng như lời Nam Quách Tử Cơ trả lời Nhan Thành Tử Du trong chương Tề Vật Luận sách Nam Hoa Kinh chép trong đoạn đối thoại sau đây : 94
Tử Du :
- Sáo đất là các lỗ trống,. Sáo người th́ là các ống trúc. Dám hỏi sáo trời?
Tử Cơ :
- Ḱa gió thổi nên muôn tiếng không giống nhau. Nhưng mà khiến cho nó tự thôi đi hoặc nó tự gào lên, ấy là ǵ?
Nếu vậy, tiếng sáo diều trong thơ Nguyễn Khuyến phải chăng chính là thứ nhạc mô tả trong thiên Thiên Vận, sách Nam Hoa Kinh, qua lời Hoàng Đế vạch ra cho Bắc Mộc Thạch 95 qua lời đối thoại dưới đây:
Bắc Mộc Thạch hỏi Hoàng Đế :
- Nhà vua mở bài nhạc Hàm Tŕ ở nội Động Đ́nh, tôi mới nghe nó th́ sợ; nghe lại nó th́ nản; nghe hết nó th́ ngờ vực. Man mác lặng lẽ rồi bâng khuâng, vậy là thé nào?
Nhà vua nói :
- Mi thế thật chăng? Ta tấu nó bằng người, mà lựa nó bằng trời [...] bắt đầu lấy việc người mà ứng nó; lấy lẽ trời mà thuận nó; lấy năm đức màlàm nó, lấy tự nhiên mà sắp nó. Rồi điều lư bốn mùa, thái ḥa muôn vật [...] văn vũ bậc thường, một trongmột đục, âm dương điều ḥa, làm cho tiếng nó sáng láng.
Đó là bút thuật dùng những h́nh ảnh thông thường hàng ngày để dần đưa người đọc về những trang sách cổ mà Nguyễn Khuyến, không những thường dùng trong thơ Việt Âm, mà c̣n thường dùng cả trong thơ nôm. Tỷ như ba chữ nước trong veo, trong hai câu mở đầu bài Thu Điếu.
Nguyễn Hoài Vân, trong bài cảo luận về bài Thu Điếu của Nguyễn Khuyến, viêt từ năm 1994, và đặt trên trang điện báo htttp://perso.wanado.fr/nguyen.hoai.van/thu-dieu.htm, đă dẫn sách Gia Ngữ để cho thấy là nước trong veo th́ không có cá, nên Nguyễn Khuyến dùng thi cảnh câu cá nước trong và một lá thuyền câu bé tẻo teo để tả hoàn cảnh của ḿnh trước nạn nước đương thời khi người Pháp đang thôn tínhViệt Nam. Nguyễn Hoài Vân đă thành công xuất sắc trong việc phân tách những h́nh ảnh Nguyễn Khuyến dùng trong sáu câu kế tiếp để mô tả tâm cảnh một nhà nho nặng ḷng yêu nước và không gặp thời. Xét về phương pháp đọc thơ, Nguyễn Hoài Vân cũng như hầu hết môi nhà phê b́nh đi trước ông đều thường lấy thời thế soi sáng thơ.
Câu hỏi là phương pháp đọc thơ của Nguyễn Hoài Vân cùng hầu hết các nhà phê b́nh đi trước ông có phải là một phương pháp bất di bất dịch không? N.I. Nikulin, một thầy giáo dậy văn học người Nga viết trong bài “Bài Thơ Than Mùa Hè”, và Ngân Xuyên dịch như sau 96 có thể coi như câu trả lời câu hỏi trên:
Trong lời chú thích cho bài Than Mùa Hè ở cuốn Thơ Văn Nguyễn Khuyến, người biên soạn viết rằng: nhà thơ đă sáng tác trong tâm trạng ưu uất, buồn phiền v́ cảnh nước nhà bị bọn thực dân thống trị. Có đúng như vậy không? Nói chung là đúng [...]
Chính Puskin cũng đă viết Buổi Tối Mùa Đông không phải trong tâm trạng vui vẻ. Bài thơ của ông nói lên nỗi buồn bă sầu năo, toát lên cái lạnh phủ khắp nơi, cái cảm giác hoang vắng gần như tuyệt vọng trong tâm hồn người Nga lúc bấy giờ. Vâng, người biên soạn tập thơ Nguyễn Khuyến đă nói đưọc một chân lư hiển nhiên. Thế nhưng, thực chất các bài thơ của Nguyễn Khuyến c̣n sâu hơn, khái quát hơn, rộng lớn hơn, nó cũng giống như bài thơ của Puskin đă động đến tâm hồn, t́nh cảm, tư tưởng của mỗi con người yêu thi ca, và thường cảm nhận thơ ca một cách độc lập, tách rời mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, dù nhưng mối liên hệ như vậy là điều có thực.. Đó mói chính là sự bí ẩn của thi ca. Nó nằm trong độ sâu và độ chínhxác của cảm xúc trữ t́nh mà hai nhà thơ vĩ đại, nhà thơ Nga và nhà thơ Việt Nam đă truyền lại theo cách riêng của mội người.
Đồng quan điểm với N. I. Nikulin, nên cảo luận này đọc thơ Nguyễn Khuyến, như đă tŕnh bày trong phần mở đầu ngoài sự giàng buộc với thời thế. Đặc biệt là trong mấy trang bàn vê bài Thu Điếu này, người đọc thơ tiếp tục rơi thơ Nguyễn Khuyến theo tiến tŕnh của Nguyễn Khuyến - Gabriel Marcel, tại giai đoạn Nguyễn Khuyến đang tiến vào lẽ huyền, hay nói một cách khác là Nguyễn Khuyến đang trên đường t́m về với Đạo. Thế nên người đọc thơ không biết cách nào khác hơn là lấy thơ tiền nhân và Nam Hoa Kinh, Đạo Đức Kinh soi sáng bài Thu Điếu.
Trở lại hai câu mở đầu bài Thu Điếu với h́nh ảnh của một mảnh ao thu nước trong veo và một lá thuyền câu bé tẻo teo. Ba chữ nước trong veo đưa người đọc thơ về chương Khắc Ư sách Nam Hoa Kinh 97:
Tính của nước không ǵ trộn th́ trong, hết động th́ phẳng; tù hăm không lưu thông không thể trong được. H́nh ảnh của đức tṛi đấy. Cho nên thuần túy mà không trộn, tĩnh mà không đổi, điềm đạm mà không làm; động mà đi bằng sức trời. Ấy là đạo nuôi thần. [...] Đạo thuần tố chỉ giữ lấy thần [...] Thuần là không để tổn hại đến thân; tố là không lẩn lộn với cái ǵ khác. Biết thế nào là thuần tố gọi là chân nhân.
Đoạn trích dẫn trên cho thấy bút thuật của Nguyễn Khuyến tả thi cảnh đồng thời nói rơ tâm cảnh của tác giả. Bút thuật này, từ xa xưa đă có nhiều nhà thơ Việt Âm xử dụng.
Thật vậy, ba chữ nước trong veo này c̣n gợi lên chữ tĩnh. Chương Thiên Đạo sách Nam Hoa Kinh chép về chữ tĩnh như sau 98 :
Chữ tĩnh của thánh nhân không phải là tĩnh đâu, thiện nên tĩnh vậy; muôn vật không ǵ bận ḷng nên tĩnh vậy [...] Nước tĩnh c̣n là sáng [...] huống chi là tinh thần. Ḷng của thánh nhân tĩnh chăng? Gương của trời đất đó
Câu nước tĩnh c̣n là sáng, nguyên văn chữ Hán là :
gợi cho người đọc hai bài tứ tuyệt của vua Trần Nhân Tôn (1258-1308), trong đó vua dùng hai lần chữ 水 明, thủy minh. Một là bài :
dịch là
Hai là bài:
dịch là
Làn nước sáng này phải chăng là h́nh ảnh vua Trần Nhân Tôn mô tả cái tinh trong tâm thần của ngài trong hai cảnh chiều thu? Người đọc thơ tự hỏi là làn nước sáng này đă chuyễn biến thành làn nước trong veo của mảnh ao thu của Nguyễn Khuyến và đó là bút thuật chuyển biến h́nh ảnh mà Nguyễn Khuyến chuyển dịch từ thơ Việt Âm cổ sang thơ nôm để mô tả cái tĩnh trong tâm cảnh nhà thơ lúc tựa gối ôm cần này?
Chiếc thuyền câu bé tẻo teo, trong câu thứ hai là h́nh ảnh tính b́nh dị của người thơ. Đối chiếu với chữ b́nh dị trong chương Khắc Ư, sách Trang Tử Nam Hoa Kinh ba chữ bé tẻo teo này cho người đọc thấy rơ ư ba chữ nước trong veo trong câu trên. Nguyên bản chữ Hán theo bản Quách Tượng 99 chép:
Nhương Tống dịch là 100:
Thánh nhân thanh thả v́ b́nh dị; b́nh dị nên điềm đạm; b́nh dị điềm đạm th́ lo nghĩ không vào nổi.[...] Cho nên ḷng không lo không vui là mức chót của đức; một mà không đổi là mực chót của tĩnh.
Như vậy phải chăng là ba chữ bé tẻo teo đă đưa tác giả đến điểm cao nhất của cái tĩnh trong ba chử nước trong veo?
Nhưng h́nh ảnh trong hai câu thứ ba và bốn:
thông thường là những h́nh ảnh quen thuộc của một chiều thu trong sáng, có ngọn gió heo hắt làm mặt ao gợn sóng, làm rụng bay lá vàng. Người đọc có thể h́nh dung làn sóng gợn lăn tăn đó nhưng những mối vui buồn chợt thoáng qua trong ḷng người thơ,dấy động lên đó rồi tĩnh lại liền đó; chiếc lá vàng cuốn theo gió có thể tiêu biểu cho cái danh cái lợi, cái đúng cái sai mà người thơ đă buông bỏ sau lưng, để thanh thả dần bước tới lẽ huyền. Thế nên đặt vào trong mạch thơ Đạo, thời làn sóng gợn lăn tăn trên mặt ao hay chiếc lá vàng bay trước gió là những vật hữu h́nh, những vật hữu h́nh đó đều do ngọn gió mà ra. Ngọn gió lại là cái vô h́nh. Phải chăng trong cái cảnh tĩnh mịch của mặt ao thu, người câu cá đă nhận ra ư Đạo mà Lăo Tử viết trong câu chót thiên 40 sách Đạo Đức Kinh:
nghĩa là :
Hai câu tiếp theo :
Đối chiếu với sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, h́nh ảnh áng mây lơ lửng trong ḷng trời thu c̣n khiến người đọc nhớ tới 101:
Cánh chim bằng khi bay về biển Nam [...] nương theogió cất lên chín mươi dăm [...] Nh́n tù tầng cao kia phải chăng là bầy ngựa rùng hay chỉ là đám bụi mờ? [...] Mầu xanh xanh kia phải chăng là mầu da trời hay chỉ là mầu của vô cùng thăm thẳm? Chim bằng bay trên cao nh́n xuống cảnh dưới đất cũng thế mà thôi.
Giới nghiên cứu thường coi h́nh ảnh chim bằng là giấc mơ tiêu dao của TrangTử. Người đọc thơ Nguyễn Khuyến không khỏi nghĩ là h́nh ảnh tầng mây lơ lửng trong bài Thu Điếu này cũng là giấc mơ ngày của Nguyễn Khuyến, lên cao tới chín muôn dăm, nh́n xuống ngơ trúc lối vào nhà ông.
Cái nh́n này phải chăng là cái nh́n của ông khi thấm hơi men để chuyển biến từ cái nh́n của Lưu linh trong bài Tửu Đức Tụng 102:
Lúc đó tiên sinh ôm ṿ rượu ghé mồm tợp cả bát, mồm phồng những rưọu, vểnh bộ râu, giạng hai chân, gối đầu vào men, lăn lưng vào bă, không nghị không lo, hớn hở vui thú, ngất ngưởng say sưa, thoáng rồi lại tỉnh. Lắng tai không c̣n nghe thấy sấm xét, nh́n kỹ cũng không thấy h́nh Thái Sơn, rét thiết đến thân cũng không biết, lợi dục cảm đến t́nhcũng không hay, cúi xuống trông vạn vật rối rít trước mắt chẳng khác nào bèo nổi trên sông Giang sông Hán.
Dưới mắt người thơ, ngơ trúc quanh co khách vắng teo lá thi cảnh cũa bài Thu Điếu mô tả cái nh́n của người thơ chút bỏ được cái có ngoại thân, t́m thấy được niềm thanh thản, như làn mây vô tâm trên nền trời thu xanh ngắt, trên đường về lẽ huyền.
Rồi tới hai câu kết:
Chắc chắn là h́nh ảnh người thơ tựa gối ôm cần trên con thuyền câu trong ao thu không phải là h́nh ảnh ông Lă Vọng ngồi câu chờ vua Văn tới mời ra giúp nước. H́nh ảnh ông câu này cũng không giống hẳn h́nh ảnh Trang Tử ngồi câu bên bờ sông Bối. h́nh ảnh Nguyễn Khuyến ôm cần trên thuyền câu gần với h́nh ảnh Nguyễn Công Trứ trong hai câu ba và bốn trong bài tự thuật IV:
Yên hà nghĩa là khói ráng, chỗ nước non tĩnh mịch mà các nhà thơ t́m về làm nơi ẩn dật. Nguyễn Khuyến vốn b́nh dị nên lấy ngay mảnh ao nhà làm chốn yên hà. Mặt tỉnh say th́ người đọc thơ không thấy Nguyễn Công Trứ để lại tấm chân dung nào cho biết cụ say tỉnh ra sao, ngoài việc cụ đổi bốn cái thú của nhà nho: cầm, kỳ, thi, họa thành cầm, kỳ, thi, tửu. Đằng khác, Nguyễn Khuyến để lại cho đời sau hai di vật cho thấy nét tỉnh say của cụ. Một là tấm chân dung, trong tay cụ có cái chén hạt mít thường dùng để uống rượu. Hai là câu Nguyễn Khuyến dặn ḍ con cái trong bài Di Chúc Văn, bản nôm:
và trong bản Việt Âm:
Chữ lỗi có nghĩa là rót xuống đất để tế dường như rơ nghĩa hơn chữ cúng trong bản thơ nôm. Qua hai h́nh ảnh này, người đọc thơ tự hỏi: phải chăng Nguyễn Khuyến muốn về với đạo theo ngả của người say té xe?
Trở lại câu chót của bài Thu Điếu. Đi câu trong ao nước trong veo, thường không có cá, Nguyễn Khuyến đă tự họa bằng những nét chuyển biến từ h́nh ảnh người xưa đi câu không lưỡi không mồi, không cần được cá mà chỉ t́m niềm an lạc của chân nhân trong cái tĩnh lặng của trời đất và niềm an lạc của cá nhân đang trên nẻo t́m về với Đạo.
Trong câu chót bài Thu Điếu, dường nhu Nguyễn Khuyến đă t́m thấy niềm an lạc đó trong bóng cá đớp động duới chân bèo. niềm an lạc của con cá dưới chân bèo mà Nguyễn Khuyến nh́n thấy từ lá thuyền câu bé tẻo teo tương tự như niềm an lạc Trang Tử chỉ cho Huệ Tủ trên cầu sông Hào, trong câu chót cũa thiên Thu Thủy 103:
nghĩa là 104:
Giới nghiên cứu Trang Tử cho hay là cái nh́n thấy cá vui của Trang Tử trên đây là cái nh́n thoát tục. Đó là nhăn quan Tề Vật Luận, hay nhăn quan huyền đồng của người chân nhân.
Chân bèo là h́nh ảnh chót trong bài Thu Điếu. Cánh bèo thường dùng để chỉ một vật nhỏ mọn trôi giạt. Rễ bèo nổi trong nước, không nợi cố định. Nhưng trong ngôn ngữ của Trang Tử, người đọc nhận ra cánh bèo là h́nh ảnh của ư niệm:
nghĩa là :
qua lời Trang Tử trả lời Đông Quách Tử trong thiên Trí Bắc Du như sau 105:
Thầy Đông Quách hỏi thầy Trang:
- Cái ǵ gọi là Đạo, ở chỗ nào?
Thầy Trang đdáp:
- Không chỗ nào là nó không ở
Thầy Đông Quách bảo:
- Phải chỉ ra mới được
Thầy Trang nói:
- Ở con mối con kiến
- Sao mà thấp vậy?
- Ở cổ lồng, vực ...
- Sao lại thấp hơn?
- Ở chĩnh sành ...
- Sao lại cong quá vậy?
- Ở cứt đái ...
Thầy Đông Quách không tiếp lời nữa.