VII
Cái Cười

Cái cười, với Nguyễn Khuyến có nhiều điểm tương đồng với cái nh́n của ông về cái chết. Người đọc thơ thấy là Nguyễn Khuyến có ba nụ cười. Đó là :

      1.       Ông cười với thiên hạ,
      2.       Ông cười với bè bạn,
      3.       Ông cười với chính ông

Cái cười của ông khác hẳn cái cười chua chát của Nguyễn Công Trứ, trưóc ngày bước ra khỏi ṿng cưong tỏa, biểu thị trong bốn câu :

      Ngồi buồn muốn trách ông xanh
      Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười
      Kiếp sau xin chớ làm người
      Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

bởi cái cười của Nguyễn Khuyến là để chia sẻ buồn vui với ngưới quanh ông, và dường như ông không muốn cười riêng một người nào. Điều đáng lưu ư là ba cái cười của Nguyễn Khuyến cùng cho thấy nếp sống bước ra ngoài ṿng trói buộc của danh lơi, của tập tục cùng như kinh sách.

Trong cái cười chung vui với thiên hạ, từ khi c̣n là cậu khóa trẻ, Nguyễn Khuyến làm mọi ngựi cười trước những cảnh ngộ nghĩnh, tỷ như hai câu :

      Con cháu nâng niu đôi quả phúc
      Ông cha lừng lẫy bốn phương trời

để gỡ rối cho người bạn đă không tự chủ nổi trước bộ ngực quả nhót của cô gái chanh chua mà nội dung câu truyện rắc rối này chằng khác ǵ câu truyện giữa Nguyễn Công Trứ và cô đào hát, giữa cánh đồng vắng và kết thúc bằng hai câu dưới đây mà cô đào hát mấy chục năm sau hát giữa một buổi tiệc lớn trước mặt bá quan :

      Non sông một gánh giữa đồng
      Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng.

Với nhà nho, quân sư pbụ là tam cương mà người đàn ông phải tôn theo, cũng như người đàn bà sống trọn ba chữ tam ṭng : theo cha theo chồng theo con. Nhưng trong ḍng thơ nôm, Nguyễn Khuyến có bài :

Nhất Vợ Nh́ Giời

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười
Giời nào hơn vợ vợ hơn giời
Khôn đến mẹ mày là có một
Khéo như con tạo cũng thời hai
Giời dẫu yêu v́ nhưng có phận
Vợ mà vụng dại đếch ăn ai
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ
Vợ chỉ hơn giời có cái trai.

Trong bài trên đây, người đọc thơ dường như thấy Nguyễn Khuyến, không đả động đến vua, thầy và cha mà nói tới ông giời. Ba chữ tam ṭng ông cũng đảo ngược, v́ ông đặt ông giời sau bà vợ, bởi theo ông, bà vợ khôn không ai bằng, khéo vượt con tạo, mà người đàn ông, nếu có thành công mở mày mở mặt được ai ai cũng phải nhờ vợ. Nhưng, rồi bất ngờ ông làm thiên hạ bật cười v́ cái cớ, theo ông, vợ hơn giời v́ vợ có cái trai.

Một chủ để khác trong những bài thơ trào lộng của Nguyễn Khuyến là những con nguời đuổi theo cái có mà bỏ rơi lề thói thông thường của xóm làng, những con người này, không phải là chỉ riêng có trong thời của Nguyễn Khuyến mà thời buổi nào cũng là đề tài cho thiên hạ đàm tiếu.

Đó là nhưng người đàn bà đem thân xác ḿnh ra để mưu đoạt của ngoài thân kể cả tàn, tán, hưong án, và bàn độc như trong bài :

Đĩ Cầu Nôm

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
Trời sinh ra cũng để mà chơi
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử cáng chơi càng lịch
Tha hồ cho khúc khích chị em cười
Người ba đấng của ba loài
Nếu nhửng như ai th́ đĩ mốc
Đĩ có tàn có tán có hương ắn có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang sơn chẳng chốn nào không
Suốt nam bbác tây đông đều biết tiếng
Dĩ mười phương chơi cho đủ chín
C̣n một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng
Bạn với kẻ anh hùng cho đúng số
Vợ bợm chồng quan danh phận đó
Mai sau ngày giỗ có văn nôm
Cha đời con đĩ Cầu Nôm.

Đó là những người con gái ngoan thời nay bất chấp lời đàm tiếu bỏ làng mạc lấy chồng ngoại quốc để t́m cuộc sống vật chất dư thừa, chủ đề bài

Lấy Tây

Cái gái đời nay gái mới ngoan
Quyết ḷng ẩu chiến với Tây quan
Ba vuong phấp phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang
Trời đất khéo thương chàng bạch quỷ
Giang sơn riêng sướng ả hồng nhan
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn
Cái gái đời nay gái mới ngoan.

Đó là những chị ham vui lên nhún đu, nhưng anh tham giải leo cột mợ trong ngày

Hội Tây

Ḱa hội thăng b́nh tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn troe
BBà quan tênh nghếc xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ tṛ vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.

Trên một hướng khác, Nguyễn Khuyến dùng làm đề tài trào lộng những người sống thiếu ḷng thành, bonne foi, như:

Anh Giả Điếc

Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây
Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy
Lối điếc ấy sau này em muốn học
坐 中 談 笑 顏 如 木
Tọa trung đàm tiếu nhan như mộc
夜 半 攀 援 手 似 猴
Dạ bán phan viên thủ tự hầu
Khi vườn sau khi sân trước khi điếu thuốc khi miếng trầu
Khi chè chuyên năm bẩy chén khi Kiều lẩy một đôi câu
Tỉnh một lúc lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như anh dễ bắt chước du mà
Hỏi anh anh cứ ậm à.

Hai câu chữ nho nghĩa là ngồi chỗ đông người làm mặt ngây cán tàn, nhưng nửa đêm lần ṃ nhanh như khỉ. Giới phê b́nh cho là anh giả điếc này thấy điều lợi th́ nhanh tay lẹ miệng hưởng ứng, lúc có điều bận đến ḿnh th́ ậm à như không nghe thấy.

Giới con ông cháu cha, dầu bất tài, nhưng đương nhiên ngồi hưởng ưư thế ngoài đời cũng là đề tài để Nguyễn Khuyến cùng người thiên hạ trào lộng. trong bài:

Mừng Ông Nghè Mới Đỗ

Anh mừng cho chú đỗ ông nghè
Chẳng đổ th́ trời cũng chẳng nghe
Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng
Vinh quy ắt hẳn rước tùng x̣e
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh
Hoăn đẹp nàng này khó nhẽ che
Hiển qúy đến nay đà mới rơ
Rơ từ những lúc tổng chưa đe.

Nguyễn Khuyến chia sẻ cái cười ông nghè mới đỗ này với đại chúng qua nhưng câu ca dao lồng trong thơ. Đọc câu thứ tư, người đọc nhớ ra bài ca dao:

Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông nghè
Ông nghè sai lính ra ve
Trăm lậy ông nghè tôi đă có con
Có con th́ mặc có con
Thắt lưng cho gịn mà lấy chồng quan

Chữ hoăn trong câu thứ năm gợi lên câu ca dao :

Ngựa ai buộc cửa ông cai
Hoăn ai mà lại đeo tai bà nghè.

Chữ tổng trong câu chót rút ư từ câu tục ngữ:

Chưa đỗ ông nghè đă đe hàng tổng.

Cảnh trớ trêu của kẻ đi lấy trộm của người làm của ḿnh, nay lại mất trộm cũng là một đề tài để Nguyễn Khuyến sáng tác một bài thơ Việt Âm và một bài thơ nôm. :

Kẻ Trộm Mất Trộm

Mày đi khoét lấy của người đây
Lại có người theo khoét của mày
Canh bạc biết đâu là lỗ lăi
Ṿng duyên thôi cũng tại giông may
Hoá thua cụ Ngạn đừng cho lụa
Nết kém thầy Vương chớ ném cây
Gẫm chín cuộc đời đâu chẳng thế
Kiếm ăn không những một phường bay.

Người đọc thấy rơ bài thơ trên là bản dịch của bài thơ Việt Âm:

盜 失 盜
Đạo Thất Đạo

盜 向 人 家 穿 取 錢
Đạo hướng nhân gia xuyên thủ tiền
盜 人 又 向 盜 家 穿
Đạo nhân hựu hướng đạo gia xuyên
嬴 輸 遷 轉 無 常 局
Doanh thâu thiên chuyển vô thường cục
出 入 循 環 若 夙 緣
Xuất nhập tuần hoàn nhược túc duyên
化 乏 彥 方 休 賜 帛
Hoá phạp Ngạn Phương hưu tứ bạch
荇 非 王 素 莫 投 椽
Hạnh phi Vương Tố mạc đầu duyên
利 途 到 底 渾 如 是
Lợi đồ đáo để hồn như thị
奚 獨 穿 牆 盜 乃 然
Hề độc xuyên tường đạo năi nhiên.

Hai chữ cụ Ngạn trong bài thơ nôm dịch hai chữ Ngạn Phương trong bản Việt Âm, tên chữ của Vương Liệt người đời Hán, nổi tiếng nhân nghĩa. Trong làng có kẻ ăn trộm trâu bị bắt quả tang, anh ta xin chịu tội, chỉ tha thiết đừng nói cho Ngạn Phương biết. Ngạn Phương nghe truyện khen ngợi rồi gửi tặng anh ta một tấm lụa. Ít lâu sau, chính anh ăn trộm bắt được một thanh gươm qúy bên đường, đă ngồi đợi trả tận tay cho người mất. Truyện này chép trong Trung Quốc Danh Nhân Đại Tự Điển. Truyện thu ngắn trong bản nôm thành hai chữ cho lụa.

Hai chũ thầy Phương trong bản nôm dịch hai chữ Vương Tố trong bản Việt Âm, tức Vương Chiêu Tố người đời Tống, vốn là người đức hạnh. Khi ông làm bác sĩ ở Quốc Tử Giám, có người cậy cổng toan vào lấy trộm đống rui nhà ở bên trong. Chiêu Tố biết, lẳng lặng cho người đem từng cái rui luồn qua cổng cho tên kẻ trộm. Kẻ trộm hổ thẹn từ đó bỏ nghề. Điển này chép trong Tống Sử. Trong bản nôm điển trên đây tóm tắt trong hai chữ ném rui.

Nguyễn Khuyến tự dịch bài Đạo Thất Đạo quả là một cái may cho người dịch thơ của ông, bằng không khó có ai dịch cho xuôi được hai câu thơ với hai điển cố này.

Cái cười của Nguyễn Khuyến cùng thiên hạ, v́ nhân vật chủ đề trong bài thơ đă đả hành dộng vượt ra ngoài nếp sống thôn dă, c̣n đọc thấy trong bài thơ nôm:

Thầy Đồ Ve Gái Góa

Người bảo rằng thầy yêu cháu đây
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay
Bắc cầu câu cũ không hờ hững
Cầm kính t́nh xua vẫn đắng cay
Ở góa thế gian nào mấy mụ
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dậy
Dậy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.

Bài thơ trên đây thường được coi là bài tác giả tự dịch bài thơ Việt Âm:

蟬 師
Thiền Sư

人 謂 先 生 愛 我 兒
Nhân vị tiên sinh ái ngă nhi
愛 兒 之 母 有 誰 知
Ai nhi chi mẫu hũu thùy tri
架 橋 舊 句 非 無 謂
Giá kiều cựu cú phi vô vị
攬 鏡 前 因 只 自 悲
Lăm kính tiền nhân chỉ tự bi
只 恐 世 間 無 寡 婦
Chỉ khủng thế gian vô quả phụ
莫 言 天 下 欠 蟬 師
Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư
愛 師 欲 為 愛 兒 教
Ái nhi dục vị ái nhi giáo
校 得 兒 成 母 又 癡
Ái đắc nh́ thành mẫu hựu si.

Hai chữ thiền sư trong đầu đề bài thơ là hai chữ do Nguyễn Khuyến tạo ra. Chữ thiền viết bộ trùng nghĩa là con ve. Đọc thành âm hai chũ thiền sư là ve thầy diễn tả hành động người đàn bà góa sớm ve văn ông thầy bà rước về dậy con ḿnh. Lối chơi chữ này Nguyễn Khuyến c̣n dùng trong bài 失 三 三, Thất Tam Tam, mà ông tự dịch là Mất Ba Ba, tuy chữ tương ứng với chử ba ba là chữ miết 鱉.

Trong câu thứ ba, hai chữ giá kiều, nghĩa là bắc cầu do câu ca dao:

Muốn sang th́ bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ th́ yêu lấy thầy

Hai chữ lăm kính trong câu thứ tư, do câu ca dao:

Trách người quân tử vô t́nh
Có gương mà để bên ḿnh không soi.

Giới phê b́nh thơ Nguyễn Khuyến hiểu ư câu này là lời ba góa sớm chê thầy đồ nhát gan, không dám dấn thân trong việc ve gái. Hiểu như vậy, người đọc thơ dường như phần chủ động trong cuộc t́nh này ở trong tay bà góa trẻ, thế nên đầu đề Thiền Sư hay Ve Thầy sát với nội dung hơn đầu đề Thầy Đồ Ve Gái Góa.

-0-0-

Nụ cười Nguyễn Khuyến chia sẻ với bạn bè phần nhiều biểu lộ trong bài thơ nôm quen biết:

Hỏi Thăm Quan Tuần Mất Cướp

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Thân già da cóc có đau không
Bây giờ trót đă sầy da trán
Từ trước chưa từng mất vẩy long
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông.

Nguyễn Khuyến như chia sẻ nỗi bạn cùng học thủa hàn vi, nay đă thân già da cóc mà gặp bọn cướp chúng lèn chúng đánh rồi bỏ giữa đồng. Song ông cũng như chế diễu quan tuần trong câu thơ hai nghĩa:

Ngày trước đi đâu mất mẩu lông

nghĩa đen đối từng chữ với câu trên:

Bây giờ mói sẽ trấy da trán

nhưng nghĩa bóng, qua hai chữ mẩu lông, gợi cho người đọc h́nh ảnh của  Dương Tử  người đă  từng nói: “dẫu chỉ mất một mẩu lông chân mà giúp thiên hạ cũng không muốn mất”, như có ư trách khéo ông bạn xưa nay chí thú làm giầu cư xử quá chặt chẽ với bạn bè. Tiếp theo ông chân t́nh khuyên ông bạn bỏ thói ky cóp kẻo mang tiếng dại với phường ngông.

Trong nhánh thơ hỏi thăm bạn bè, Nguyễn Khuyến c̣n để lại bài:

Lụt Hỏi Thăm Bạn

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu
Lụt lội năm nay bác ở đâu
Mấy ổ lợn con rầy lớn bé
Vài gian nếp cái ngập nông sâu
Phận thua suy tính càng thêm thiệt
Tuổi cả chơi bời họa sống lâu
Em cũng chẳng no mà chẳng đói
Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu.

Bác Châu Cầu là tên gọi cụ Bùi Văn Quế, người làng Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, đỗ cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, ra làm quan đến chức tuần Phủ rồi về hưu. Khi về hưu, cụ Bùi Văn Quế c̣n nuôi lợn xề bán lợn con, và tích nếp cái nấu rượu tiếp tục kinh doanh, đuổi theo cái có ngoài thân Việc đó đă ra ngoài nếp sống đương thời của Nguyễn Khuyến. Ông nhũn nhặn xưng em kể cho bạn nghe cảnh ḿnh chẳng no mà chẳng đói, chỉ vui với bầu rượu lá thuyền câu.

Người đọc thơ c̣n thấy nụ cười giễu bạn c̣n bận tâm về việc làm ăn sinh lợi của Nguyễn Khuyến trong hai bài gửi bạn, trích bài I, dưới đây:

Mừng Đốc Học Hà Nam

I

Lâu nay không gặp gỡ xa đàng
Ai biết rằng ra giữ mơ làng
In sáo vẽ cho thằng mặt trắng
Bẻ c̣ tính lại cái lương vàng
Chuyện đời hăy đắp tai cài trốc
Lộc thánh đừng lừa nạc bỏ xương
Cũng muốn ra chơi chơi chửa được
Gió thu hiu hắt đượm mầu sương.

Giới nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến cho biết là bài thơ trên đây Nguyễn Khuyến sáng tác để tặng ông Trần Nhược Sơn, bạn đồng học với tác giả thủa trẻ, thi đậu cử nhân, ra làm quan tới chức án sát Thái Nguyên th́ về nghỉ hưu. Sau đó lại được tái bổ Đốc Học Hà Nam. Tác giả dùng ba chữ giữ mơ làng để gọi việc tái xuất làm quan của bạn. Ba chữ này, theo giới nghiên cứu là ba chữ lấy điển từ sách Luận Ngữ 70:

天 將 以 夫 子 為 木 鐸
Thiên tương dĩ phu tử vi đặc mộc

đại ư là trời lấy [Khổng] phu tử làm cái mơ gỗ. V́ vậy về sau hai chữ mộc đạc dùng để chỉ người học rộng làm thầy thiên hạ. Nhưng thay chữ gỗ bằng chữ làng sau chữ mơ gợi ra h́nh ảnh thằng mơ, một nhân vật thấp kém nhất trong làng. Hơn nữa, Nguyễn Khuyến coi chức vụ đốc học chỉ là việc in sáo tức là rập theo khuôn khổ cũ, để ăn lương. Nhưng trong hai câu kết Nguyễn Khuyến ân cần tỏ ư buồn nhớ bạn v́ muốn tới thăm mà chưa đi được.

Sống động hơn hết cả, trong ḍng thơ trào lông thăm hỏi bạn bè, nét châm biếm của người thơ linh hoạt nhất trong bài:

Chế Ông Đồ Cự Lộc

Văn hay chữ tốt ra tuồng
Văn dai như chăo chữ vuông như ḥm
Vẻ thầy như vẻ con tôm
Vẻ tay ngoáy cám vẻ mồm húp tương
Vẻ lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang mà cũng chẳng giầu
Hầu bao ních rận bâu quanh chiếu
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu
Nón sơn son không méo cũng không tṛn
Quần vải thô ngại giặt ngả mầu son
Giầy cóc gậm nhặt dây đàn khâu lấy
Phong lưu ấy và tính t́nh ấy
Đến cô đầu vẫn thấy lả lơi bông
Xinh thay diện mạo anh hùng.

Bài thơ trên là một bức hư họa sống động, khiến người bị chế nhạo khó mà giận người vẽ được. Hai câu mở đầu cho thấy cái có nội tại của ông đồ, nhưng người thơ khen đó mà chê đó. Muời hai câu sau tả rơ nhưng cái có ngoại thân của ông đồ, thẩy đều bằng những h́nh ảnh trào lộng phản ánh nếp sống khác người của thầy đồ. Lời mô tả ông đồ, tác giả khéo léo đặt trên môi của một cô đầu đanh đá. Khó có thể nhận ra được là ngôn từ của một nhà thạc nho đứng tuổi hay của một vị đường quan đă về hưu. Cái bất ngờ của bài thơ là câu cuối cùng gói trọn vẹn cảm t́nh của người cô đầu với thầy đồ hay chính là cảm t́nh của tác giả dành cho ông đồ.

Giới nghiên cứu cho biết là ông Đồ Cự Lộc là bạn của nhà thơ, quê ở Nam Định, đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, và cũng chính là nhân vật chủ đề trong bài hát nói Anh Giả Điếc trên đây

-o-o-

Sau hết là nụ cười Nguyễn Khuyến cười với chính ông, hay những bức hư họa ông tự vẽ nh́n qua những bài thơ tự trào, tự thuật mô tả cái già đang dần tới và nếp hay rượu của ông.  Bài thơ nôm sau đây tóm tắt cho thấy nếp sống của ông:

Tự Trào

Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gẩy chẳng béo chỉ làng nhàng
Cờ đương dỏ cuộc không c̣n nuớc
Bạc chữa thâu canh đă chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén măi tít cung thang
Nghĩ ḿnh lại gớm cho ḿnh nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.

Cái giầu cái sang là hai nét tiêu biểu cho cái có ngoại thân, Nguyễn Khuyến tự xét là ḿnh đă buông bỏ cả hai. Cái gầy cái béo là cái có trên bản thân, ông thấy ḿnh không có cả hai mà chỉ làng nhàng. Cuộc cờ canh bạc phải chăng là nhưng thú vui trong cuộc sống tranh đua, th́ ông không c̣n nước, hay là ông không muốn chơi tiếp; hoặc ông chạy làng, chẳng v́ ăn non, mà v́ không c̣n thấy thích thú. Thái độ đó người đời khó chấp nhận dược và cho ông là gàn. Ngay cả đến việc ông đoạt đươc bia xanh bảng vàng ngày nay cũng thành vô nghĩa. Người đọc thơ thấy là bài Tự Trào trên đây có nhiếu ư tương hợp với bài Di Chúc. Trong cả hai bài, việc làm mà Nguyễn Khuyến hài ḷng nhất là việc ông từ quan về Vườn Bùi, trong bài Tự Trào ông dùng h́nh ảnh bỏ dỏ cuộc cờ canh bạc để gợi lại việc này, và người đời không hiểu ông. Trong bài Di Chúc th́ đó là điều ông dặn con cháu ghi trên bia mộ ông. Điều độc nhất ông thích thú là uống rượu, say tít cung thang, và cũng là điều ông dặn con ông đổ một chén rượu xuống mồ để cúng ông. C̣n câu truyên ông đạt được bia xanh bảng vàng, th́ như ông kể trong bài di chúc, đức ông mỏng, tài cũng chẳng hơn ai, tất cả nhờ vào phúc đức cha mẹ để lại cho.

Trong ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyên để lại một bài mang cùng đầu đề

老 態
Lăo Thái

吾 年 五 十 五 年 零
Ngô niên ngũ thập ngũ niên linh
醜 態 般 般 老 藎 形
Xú thái ban ban lăo tận h́nh
齒 踣 含 酸 如 聚 訟
Xỉ bặc hàm toan như tụ tụng
眼 花 掩 卷 漫 傳 涇
Măn hoa yểm quyển mạn truyền kinh
自 憐 鏡 髮 三 分 白
Tự liên kính phát tam phân bạch
剩 有 丹 心 一 點 零
Thặng hữu đan tâm nhất điểm linh
幕 怪 憑 窗 連 日 醉 
Mặc quái bằng song liên nhật túy
我 為 不 醉 孰 為 醒
Ngă vi bất túy thục vi tinh

dịch là

Vẻ già

Trời thương tuổi quá năm nhăm
Thân già tật xấu dần dần hiện ra
Răng xiêu hàm buốt rên la
Mắt nḥa gấp sách ê a giảng ṃ
Thương cho mái tóc dần thưa
Ḷng son một điểm chưa chừa bấy nay
Bên song say khướt ngày ngày
Một ḿnh riêng tỉnh chẳng say cũng hoài

Tác giả làm bài thơ trên đây ngày tuổi ngoài năm mươi lăm, ở đầu thế kỷ trước tuổi đó là tuổi vẻ già bắt đầu hiện ra. Vẻ già hiện ra trên cái răng cái tóc, cái góc quan trọng nhất của vẻ người. Lại thêm mắt kém lúc dậy học phải gấp sách giảng ṃ theo trí nhớ. Ḷng son của tác giả chỉ c̣n một điểm thiêng liêng. Khác với điểm mà Nguyễn Công Trứ giữ trong đan tâm như viết trong bài hát nói Chí Nam Nhi:

留 取 丹 心 照 汗 菁
Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh

nghĩa là :

Để lại tấm ḷng son ghi trong sử xanh.

điểm thiêng trong đan tâm Nguyễn Khuyến là:

Bên song say khướt ngày ngày

Rồi, câu cuối cùng của bài thơ gợi cho người đọc một câu của Khuất Nguyên 71 (340-277 BC):

mọi người say cả một ḿnh ta tỉnh

người đọc thơ tự hỏi điểm khác biệt giữa cái nghiêm trang của Nguyễn Công Trứ cũng như của Khuất Nguyên với cái bông đùa của Nguyễn Khuyến là nét trào lộng của ông?

Ư thơ trong bài Lăo Thái chuyển sang bài thơ nôm với nhưng đường nét tiêu biểu  như sau:

Cảnh Già

Nhớ từ năm trước hăy thơ ngây
Phút chốc mà già đă đến ngay
Mái tóc cḥm xanh cḥm lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
C̣n một nỗi này thêm chán ngắt
Đi đâu dở nhưng cối cùng chầy.

Trong bài thơ nôm trên, tác giả đưa thêm vào bức tự họa chiếc gậy mà ông gọi là cái chân thứ ba, và bộ chầy cối giă trầu ngoài cái răng rụng, cái tóc bạc, và cặp mắt mờ, cùng nết hay rượu đễ trào lộng h́nh dung cảnh già của ông.

Mười một năm sau, Nguyễn Khuyến lại viết bài thơ tự trào dưới đây:

Canh Tư Xuân 72

Ngô niên lục thập lục chi niên
Tuế nguyệt xâm tần tuyệt khả liên
Sơ khoát xỉ nha như nhị giáp
bồng tùngmao phát diệc canh phiên
tam triêu tịch hậu tiểu tương khánh
Vạn lục tùng trung hoa diệc nhiên
Lăo bệnh cận lai ngâm hứng thiểu
Xuân hàn vô sự băo lô miên.

dịch là

Xuân Canh Tư

Năm nay sáu sáu tuổi trời
Mỏi ṃn năm tháng chẩy trôi mà buồn
Lợi răng lục đục đôi phương
Rối bời râu tóc nhuốm sương trên đầu
Qua ba ngày tết vơi bầu
Hoa trong chậu cảnh như hầu muốn rơi
Bệnh già thơ hứng cũng vơi
Rét đài sưởi ấm ngủ vùi mừng xuân.

So với bài Lăo Thái viết mười một năm về trước, qua bài Canh Tư Xuân người đọc thấy về sức khỏe, Nguyễn Khuyến vẫn chỉ có đau răng và bạc tóc, nhưng dường như tác giả để lộ một nét thoáng buồn. Buồn v́ thời gian qua mau, v́ hoa trong chậu cảnh, giữa mùa xuân đă muốn rụng, thơ hứng của tác giả cũng vơi vơi, và chỉ c̣n muốn ôm lồng ấp ngủ vùi.

Tám năm sau, Nguyễn Khuyến sáng tác bức tự họa cuối cùng qua bài thơ nôm:

Đại Lăo

Năm nay tớ đă bẩy mươi tư
Rằng lăo rằng quan tó cũng ừ
Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu
Ngồi buồn ngâm láo mấy câu thơ
Bạn già lớp trước nay c̣n mấy
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa
Thử xem măi măi thế này ư.

Bức tự họa thay đổi đường nét. Câu thứ hai cho thấy nhà thơ không c̣n buộc chính ông vào tuổi tác, cũng như không c̣n buộc chính ông vào địa vị xă hội của ḿnh. Tác giả không c̣n nói tới cái răng cái tóc, cái góc quan trọng nhất của vẻ người. Rượu là bạn thân nhất th́ bây giờ lúc hứng mới đánh vài ba chén; ngâm thơ là cái thú nhất của người thơ th́ năm này lúc buồn mới ngâm. Kiểm điểm lại bạn bè chẳng c̣n đươc mấy người. Tính sổ đời th́ mười phần chín cũng như. Người thơ vẫn c̣n mong sống thêm dăm tuổi nữa, nhưng sống mà như đúng ngoài cuộc sống, sống chỉ để thử xem măi măi thế này ư.

Người đọc thơ đọc câu thứ hai

Rằng lăo rằng quan tớ cũng ừ.

như nh́n thấy h́nh ảnh Nguyễn Khuyến coi nhẹ mọi sự trong cuộc sống. Thái độ của người thơ coi thường mọi điều quan trọng trong đời khiến người dọc thơ liên tưởng tới  h́nh ảnh những nhân vật quan trọng (hommes serieux) trong quốn L’Amérique của Franz Kafka (1883-1924) hoặc cuốn La Nausée của Jean Paul Sartre (1905-1980) hay cuốn L’Etranger của Albert Camus  (1913-1960).

Franz Kafka mô tả trong cuốn tiểu thuyết vai người gác gian, người này muốn tỏ ra ḿnh quan trọng đă tự tôn ḿnh 73:

Comment pourrais-je continuer à être consierge si je confondais une personne avec une autre ?

Vai chính trong tiểu thuyến l’Étranger 74 của Albert Camus là một người b́nh thường nhưng cố t́nh không sống theo lề thói của những người tự coi là quan trọng mà tự buộc ḿnh theo lối sống quan trọng của xă hội. Trong đám tang mẹ, hắn không khóc;  trong cuộc t́nh hắn không nghĩ tới việc làm đám cưới với vị hôn thê. Hắn cũng chẳng coi chính hắn là quan trọng, hắn trở thành xa lạ với mọi người trong xă hội để cuối cùng hắn mang mạng sống trả nợ cho cái điều hắn thách đố xă hội.

Jean Paul Sartre 75 liệt kê một chuỗi những người tự coi ḿnh là quan trọng và ông gọi chung là  les salauds trong cuốn  L’Être et le Néant. 

Chủ đề đả kích những kẻ tự coi ḿnh quan trọng là một trong những mục tiêu dấy loạn của phái hiện sinh trong những năm kế tiếp thế chiến thứ hai. Thái độ không c̣n coi thân là trọng cũng như chẳng c̣n coi danh là trọng biểu lộ ư muốn bước ra khỏi giàng buộc của xă hội, trong câu thơ trích dẫn, phải chăng là một nét sống hiện sinh của Nguyễn Khuyến?

Câu kết là một câu thơ bỏ lửng. Đó là một bút thuật quen thuộc của Nguyễn Khuyến. Tỷ như ông đă viết trong hai câu kết bài Khai Bút :

Mỗi năm một tuồi trời cho tớ
Tuổi tớ trời cho tớ lại càng. ..

Câu kết này gợi lên câu tục ngữ :

Càng già càng dẻo càng dai

nhưng phải chăng ư tác giả không nhất thiết chỉ gợi riêng câu tục ngữ dẫn trên, mà trái lại tùy người đọc ai muốn thêm chữ ǵ ư gí vào chỗ bỏ lửng tùy thích.

Ông c̣n dùng bút thuật này trong bài Tặng Bà Hậu Cẩm :

Nói năng duyên dáng coi như thể ...
Đi đứng khoan thai thế cũng là ...

Tùy nhăn quan,  người đọc tự t́m ra những h́nh ảnh mô tả h́nh ảnh người đản bà ăn nói duyên dáng cũng như đi đứng khoan thai.

Trở lại câu kết bài Đại Lăo, trong những câu thứ tư dến thứ sáu, Nguyễn Khuyến như muốn kiểm điểm lại cuộc sống của ông. Thế nên, người đọc thơ thầy cần tiếp vào câu thơ bỏ lửng này nhưng h́nh ảnh về cuộc sống  con người. H́nh ảnh cuộc sống con người trong văn học Đông Á là h́nh ảnh một giấc mơ. Đó là con bướm trong mơ của Trang Tử. Đó là giấc mơ bên nồi kê vàng thường gọi là giấc Nam Kha. Đó là một quán trọ trong câu thơ của Lư Bạch :

天 地 一 逆 旅
Thiên địa nhất nghịch lữ

rồi biến thành câu hát nói của Nguyễn Bá Nghi và Cao Bá Quát :

人 生 天 地 一 逆 旅
Nhân sinh thiên địa nhất nghịch lữ

Nh́n sang ḍng thơ nôm, Bà Huyện Thanh Quan coi cuộc sống như một tấn tuồng như bà mở đầu bài Thăng Long Hoài Cổ :

Tạo hóa gây chi cuộc hư trường.

Nguyễn Công Trứ cũng dùng h́nh ảnh hư trường để tiêu biểu cuộc sống trong bải hát nói :

Đánh Thức Người Đời

Xót người tiền đếm gạo lường
Thế mà cũng chịu một trường hóa sinh
Nhân sinh bất hành lạc
Thiên tuế diệc vi thường
Đă đem vào cuộc hư trường
Lại muốn theo phường thái cực
Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức
Thịt hay ăn một cục tham si
Gác thay thảy là cầm là kỳ là tửu là thi
Rất đỗi y quần chi hạ
Bất tri hữu thử trân mỹ giả
Ôi trời đất người đâu người thế
Mấy trăm năm là mấy trăm năm
Khiến cho lạc giả thương tâm.

Coi cuộc sống là một hư trường th́ con người  không c̣n được tự do như Trang Tử lúc là bướm lúc là Trang; con người không dẫu được tự do vùng vẫy nhưng vẫn buộc theo đúng tiến tŕnh do con tạo, định doạt như trong giấc mơ Nam Kha; cũng như con nguời không c̣n đươc tự do tới lui một quán trọ bên đường, bởi tại số tránh đâu cho khỏi số.

Thân phận con người trên sân khấu hư trường là chủ đề bài thơ Việt Âm duới đây Nguyễn Khuyến:

優 婦 詞
Ưu Phụ Từ

東 鄰 家 有 優 人 住
Đông lân gia hửu ưu nhân trú
夜 半 優 人 語 優 婦
Dạ bán ưu nhân ngữ ưu phụ
我 亦 時 常 做 好 官
Ngă diệc thời thường tố hảo quan
如 何 人 皆 不 我 懼
Như hà nhân giai bất ngă cụ
優 婦 大 怒 罵 其 夫
Ưu phụ đại nộ mạ kỳ phu
爾 年 塈 老 何 太 愚
Nhĩ niên kư lăo hà thái ngu
幸 哉 昏 夜 人 不 識
Hạnh tai hôn dạ nhân bất thức
人 或 識 之 貽 妾 羞
Nhân hoặc thức chi di thiếp tu
世 間 驚 人 但 有 二
Thế gian kinh nhân đăn hữu nhị
一 能 生 人 一 能 死
Nhất nang sinh nhân nhất năng tử
爾 既 不 能 生 死 人
Nhĩ kư bất năng sinh tử nhân
如 何 人 人 皆 懼 爾
Như hà nhân nhân giai cụ nhĩ
且 也 爾 家 本 貧 寒
Thả dă nhĩ gia bản bần hàn
朝 夕 俳 優 求 一 餐
Tiêu tịch bài ưu cầu nhất xan
俳 優 皇 帝 且 不 懼
Bài ưu hoàng đế thả bất cụ
何 況 爾 為 俳 優 官
Hà huống nhĩ vi bài ưu quan.

Tác giả tự dịch là:

Lời Vợ Anh Phường Chèo

Xóm bên đông có phương chèo trọ
Đương nửa đêm gọi vợ truyện tṛ
Rằng ta thường làm quan to
Sao ngưoi coi chẳng ra tṛ trống chi
Vợ cả giận mắng đi mắng lại
Tuổi đă già sao dại như ri
Đêm hôm ai chẳng biết chi
Người ta biết đến thiếp th́ hổ thay
Ở đời có hai điều nên sợ 
Sống chết người quyền ở trong tay
Thế mà chàng đă chẳng hay
C̣n ai sợ đến phường này nữa chăng
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết
Cuộc sinh nhai chèo hát qua th́
Vua chèo c̣n chẳng ra chi
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.

Anh phường chèo trong bài thơ trên quả là một người tự coi ḿnh quan trọng. Thủ vai quan to trên sân chèo mà đă lầm tuởng ḿnh làm quan to thật. Có lẽ v́ vậy mà tác giả đă đặt chữ lên môi vợ anh mắng đi mắng lại anh là đại  ngu. Rồi chị vợ anh phương chèo nhắc cho anh biết rằng trên đời con người chỉ sợ ai có cả hai quyền bắt sống phải sống và bắt chết phải chết. Con người đó, là Ông Trời bởi câu tục ngữ

muôn sự tại trời.

nhất là về hai việc sống chết của con người.

Phải chăng đó là nỗi khổ của con người? Phải chăng v́ vậy mà trong bài Khóc Dương Khuê ông đă viết :

Ai chẳng biết chán đời là phải

Thế nên, coi cuộc sống như một cuôc hư trường, con người nhất nhất từ khi sinh ra đời cho tới khi nhắm mắt mọi  sự việc đều do trời định. con người không làm ǵ hơn được là giữ trọn vai tṛ ông trời trao cho ḿnh.

Trên sân khấu hư trựng, vua chèo đă chẳng ra chi, nói chi quan chèo. Phải chăng ông vua chèo đây tiêu biểu cho tất cả mọi ông vua, không riêng ǵ một thời đại nào? Thế nên, thẩy chẳng có ǵ quan trọng.

Ư tưởng này ngược với tư tưởng hiện sinh theo Frank Kafka đề nghị trong cuốn L’Amérique 76 và tóm tắt dưới ng̣i bút Hannah Arendt:

la vie authentique... le grand « Théâtre de la nature » où tout le monde a sa place et d’où le malheur est absent n’est pas théatre par accident. Chacun y est invité a choisir une fonction, à jouer le personnage qu’il ou qu’elle aimerait être. Le rôle choisi est la solution du conflit entre fonctionner et être, entre ambition et réalité.

Ư tưởng cho con người được tự do lựa chọn  vai tṛ của ḿnh trên hư trường của Frank Kafka ngược lại với truyền thống Đông Á, như Trang Tử đă viết 77 trong chương Đại Tông Sư:

Nay có người thợ đúc kim khí. Kim khí lại nhẩy dựng lên mà đ̣i « Ta muốn thành thanh Mạc Da » th́ người thợ đúc tất cho đó là thứ kim khí bất tường. Nay lại có kẻ sắp được đem dúc thành h́nh người, lại củng đ̣i « Người mà thôi, Người mà thôi » th́ tạo hóa tất cũng cho người đó là người quái gở. Nay Trời Dất là cái ḷ lớn, Tạo Hoá là người thợ đúc. Vậy th́ sao chẳng được?

Cuộc sống không có ǵ đáng coi là trọng. Cuộc sống chỉ là một vai tṛ trên sân khấu hư trường, mà con người không có quyền lựa chọn vai tṛ ḿnh bắt buộc phải đóng. Thế nên, Nguyễn Công Trứ lấy cầm kỳ thi tủu để giải sầu. Nguyễn Khuyến lấy cái cười với mọi người, cái cười với thân nhân và cái cười với chính ḿnh để tạo cho ḿnh nhưng giây phút thoải mái trong cảnh phải đóng trọn vai tṛ mà Ông Trời bắt đóng trên sân khấu hư trường.

Trở lại hai câu kết của bài Đại Lăo :

Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa
Thử xem măi mải thế nay ư

và coi cuộc sống như sân khấu phựng chèo, người người ai ai cũng chỉ là một vai nhọ đóng theo tuồng tích do Ông Trời định sẵn, phải chăng người đọc hiểu là Nguyễn Khuyến cũng muốn xin Ông Trời cho sống thêm dăm năm nữa, nhưng không phải sống để lại tái hiện trên sân khấu, mà sống để bước ra ngoài sân khấu lảm khán giả, ngổi xem diễn tiến cuộc hư trường?




[70] Luận Ngữ, tiết Bất Dật, chương 24, sách đă dẫn, tr.93.
[71] Khuất Nguyên, Say Tỉnh Đục Trong, in Cổ Học Tinh Hoa Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, sách đă dẫn, tr. 110-111.
[72] Chưa t́m dược bản chữ nho
[73] Hannah Arendt, Qu’est-ce que la philosophie de l’existense, suivi de L’exitentialisme francais, Rivages Poche,Paris 2002, p.79.
[74] Albert Camus, L’Étranger,
[75] Jean Paul Sartre, L’Être et le Néant, Gallimard, Paris
[76] Hannah Arent, sách đă dẫn, trang 81.
[77] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 379.