Cái có là vũ trụ của vật thể. Gabriel Marcel t́m ra là cái có gồm hai loại. Một là loại cái có ở ngoài thân thể con người, gọi cái có ngoại thân. Con người lấy cái có ngoại thân làm của tư hữu, tỷ như tiền của, danh giá, quyền thế. Nhưng cái có đó con người giành lấy cho ḿnh, xử dụng riêng cho ḿnh, nhưng cũng có thể bị kẻ khác tước đoạt mất. Cái có thứ hai là cái có tại thân, tỷ như kiến thức, đức hạnh, kinh nghiệm, mà không ai khác có thể đoạt của ta được. Nhưng tất cả nhưng cái có tại thân đó rồi cũng mất khi thân ta không c̣n.
Cái có ngoại thân cần thiết cho cái sống, nhưng từ Đông sang Tây, mọi tôn giáo cũng như nhiều triết gia nhiều nhà thơ thựng khuyên con người coi nhẹ cái có ngoại thân để trở về lẽ huyền. Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài sau đây của Nguyễn Trăi (1380-1442):
dịch là
Trong tám câu đầu của bài thơ, Nguyễn Trăi lấy tiếng suối Núi Hun làm đàn, lấy đá núi Hun làm chỗ ngả lưng, lấy rừng thông núi Hun làm vườn cảnh, lấy rừng trúc của núi Hun làm cảnh thơ. Nguyễn Trăi vào kho Trời chung, chọn vật thể làm thú vui riêng cho ông. Trong nguồn vui đó, Nguyễn Trăi thấy đỉnh chung là những ǵ cần phải rũ sạch khỏi tay; bát cơm rau chén nước lă mới thực là cái cần thiết. Phải chăng đó là ư muốn về hưu đă tới với Nguyễn Trăi? Nguyễn Trăi nhớ tới Đổng Trác, một gian thần nhà Hán, nhớ tới Nguyên Tải, một nhân vật chưa biết đích xác là ai, nhưng chắc chắn là một người tích lũy nhiều của cải; rồi Nguyễn Trăi nhớ tới Bá Di và Thúc Tề. Dương Quảng Hàm chú thích về Bá Di và Thúc Tề như sau[6]:
Di, Tề: tức Bá Di và Thúc Tề, hai người con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân bên Tàu. Khi cha sắp mất, dặn lập Thúc Tề. Cha mất rồi Thúc Tề nhường cho Bá Di. Bá Di nói: “Mệnh cha như vậy”, bèn trốn đi. Thúc Tề cũng không lên ngôi và trốn đi. Khi vua Chu Vương đánh nhà Ân, hai ông giữ cương ngựa cản lại; đến lúc Vũ Vương đánh thua nhà Ân, làm vua trong thiên hạ, hai ông lấy việc ăn thóc nhà Chu làm xấu hổ, đi lên núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, sau chết đói.
Nhưng người hiền hay kẻ ngu đều có một điểm giống nhau. Đó là ḷng ham chuộng ngoại vật. Nhưng con người và cỏ cây này có khác ǵ nhau, dẫu từng sở hữu những cái có tại thân vẫn có thời buồn vui, như cây cỏ có thời tươi héo. Rốt cuộc, nhưng rồi con người chẳng khác ǵ cỏ cây cũng tan biến vào ḷng đất. Vậy thời điện ngọc khác ǵ g̣ hoang, nhục khác nào vinh. Kết luận, Nguyễn Trăi mời tất cả những ai c̣n muốn noi gương Sào Do, (hai người cao sĩ về đời vua Đường Nghiêu bên Tàu, mà vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho và đều không nhận) vào núi Hun nghe ông hát bài ca núi Hun.
Tiếp đó là bài từ của Nguyễn Du (1765-1820)
dịch là
Trong bốn câu đầu bài hành, Nguyễn Du tạo nên hai h́nh ảnh, một chàng trai áo ngắn và một con cầy, lông trắng khoáy vàng, cả hai cùng đi về Núi Nam. Trong thơ cổ điển, chữ Núi Nam này biễu thị cho cái chết. Điều đáng chú ư là trong bốn câu tiếp, Nguyễn Du cho biết là tại Núi Nam này có nhiều hương mi, hay nôm na là cầy thơm, đễ làm những món ngon, có bát ngọc dao vàng, có rượu ngon ê hề. Điểm này dẫn người đọc thơ về với sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Sách, Nam Hoa Kinh, chương Tề Vật Luận[7]:
Lệ Cơ, con của vị phong nhân xứ Ngại, gả cho vua nước Tấn. Khi về nhà chồng, lụy ướt dầm bâu. Kịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi sô hoạn, rối lại hối hận giọt lệ ngày xưa. Ta biết đâu kẻ chết lại không hối hận v́ ḿnh đă mong được sống thêm.
Đằng khác, Nguyễn Du nhắc tới Di Tề cùng với Chích Cược, khiến một lần nữa người đọc thơ lại nhớ tới chương Biền Mẫu, sách Nam Hoa Kinh[8]:
Tiểu nhân th́ chết theo lợi, kẻ sĩ th́ chết theo danh [...] Bá Di chết v́ danh ở dưới núi Thú Dương, Đạpo Chích chết v́ lợi ở trên g̣ Đông Lăng. Hai bên cách chết chẳng giống, song đều cùng là tàn sống, hại tính cả. Chắc ǵ Bá Di là phải mà Đạo Chích là trái. Người thiên hạ đều chết theo cả.
Phải chăng, v́ nh́n cái chết như vậy, Nguyễn Du mượn rượu, rong chơi, buông danh bỏ lợi, quên cả truyện lưu danh thơm đời sau?
Đối chiếu với ḍng thơ Trung Quốc, bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trăi và bài Hành Lạc Từ của Nguyễn Du, người đọc nhớ lại bài thơ dưói đây của Đào Tiềm[9]:
dịch là
Giới nghiên cứu về Đào Tiềm cho biết rằng Đào Tiiềm sáng tác bài thơ này khi được tin người em gái út của ông tạ thế. H́nh ảnh cái chết của người thân khiến người thơ giao động mạnh hơn, so với ư nghĩ về cái chết trong thơ Nguyễn Trăi và Nguyễn Du. Điều đáng ghi nhận khác là giới nghiên cứu đồng ư rằng Đào Tiềm cũng như phần đông thi nhân cổ điển mượn rượu và thơ để giải buồn, nhưng đồng thời cũng là t́m lối về với lẽ huyền.
Đối mặt với cái chết của người dưng, liên tưởng tới cái chết của chính ḿnh, hay tự ḿnh lo liệu sửa soạn cho cái chết của chính ḿnh hay đau đớn xúc động v́ cái chết của người thân là ba ngả suy nghĩ của Gabriel Marcel về cái chết [10]. Đối mặt với cái chết, theo ba ngả nói trên, rồi buông bỏ danh lợi, mượn rượu và thơ t́m về với lẽ huyền là một nhánh thơ chính của Nguyễn Khuyến, nối dài ḍng thơ bàn về cái chết trong thơ ca Đông Á, mà người đọc thơ thấy rơ trong thơ Việt Âm và trong thơ Nôm. T́m hiểu nhánh thơ này của Nguyễn Khuyến là mục tiêu của những trang kế tiếp.
[6]Dương
Quảng Hàm sách đă dẫn, tr. 272.
[7]
Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyên Duy
Cần, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 237
[8] Trang
Tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng
Tống, nhà xuất bản Xuân Thu tái bản tại Hoa
Kỳ, tr. 164.
[9] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, Từ Nguy tuyển chú,
Joint Publication, Hong kông, 1989, tr. 58.
[10] Réné Davignon, Le Mal Chez Gabriel Marcel, Comment affronter la
Souffrance et laMort. Edirtion du Cerf, Paris 1985, pp.111-139.