VI
Sách và Rượu

Ngoài cái vui sống với thiên nhiên, qua thơ văn giới nghiên cứu t́m thấy là Đào Tiềm c̣n ba nguồn vui khác, đó là âm nhạc, đọc sách và nhấp rượu 56.

Trong bài 與子儼等梳, Dậy Các Con Nghiễm Đẳng Sơ, Đào Tiềm có câu :

少 學 琴 書 
Thiếu học cầm thư

nghĩa là :

Thủa nhỏ học sách đàn

Trong bài 自祭文, Tự Tế Văn, Đào Tiềm lại viết :

和 以 七 弦
Ḥa dĩ thất huyền

nghĩa là t́m đưc niềm thanh thản qua tiếng đàn thất huyền. Ngày nay, trong toàn bộ thơ của Đào Tiềm, người đọc chỉ thấy có một bài viết theo thể nhạc phủ, một thể thơ thương được phổ nhạc.

Nguyễn Khuyến không cho biết là ông có học đàn thủa trẻ hay không, nhưng chắc chắn là Nguyễn Khuyến có tài thẩm âm.  Trong bài Khóc Dương Khuê ông có câu :

Có khi tầng gác cheo leo
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Ngoài ra Nguyễn Khuyến c̣n để lại cho người ngày nay khỏng sáu bài hát nói 57.

Trong ḍng thơ nôm, Nguyễn Khuyến có bài sau đây nói về tiếng đàn:

Nghe Hát Đêm Khuya

Một khúc đêm khuya tiếng đă chầy
Nửa chen mặt nước nửa từng mây
Nghĩ ḿnh vườn cũtừng lui bước
Ngán kẻ phương trời chẳng đứt dây
Bẻ liễu thành Đài thôi củng xếp
Trồng lan ngơ tối ngát nào hay
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng
Chén rưỡu bên đèn luống tỉnh say.

Đối chiếu câu kết bài Nghe Hát Đêm Khuya với câu kết bài Uống Rượu ở Vườn Bùi :

Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say

người đọc thơ thấy trong âm điệu cả hai bài có một tiết tấu buồn thương tiếc luyến của câu hát chốn lầu cao và câu hát làng say trong bài hát nói.

Sang việc đọc sách, để chứng minh Đào Tiềm là người ham đọc sách, giới nghiên cứu thường trích dẫn câu dưới đây trong bài tự sự Ngũ Liễu Tiên Sinh Truyện của Đào Tiềm:

好 讀 書, 不 求 甚 解, 
hiếu độc thư, bất cầu thậm giải, 
每 有 會 意, 便 欣 然 忘
mỗi hữ hội ư, tiện hân nhiên vong thực

Nguyễn Hiến Lê dịch là 58:

ưa đọc sách, không cần thâm cứu chi tiết,
mỗi lần hội được điều ǵ th́ vui vẻ quên ăn.

Đào Tiềm không ghi rơ trong Ngũ Liễu Tiên Sinh Truyện, cũng như không nói trong thơ là ông ưa đọc loại sách nào.  Xét toàn thể tác phẩm Đào Tiềm để lại, giới phê b́nh đồng ư là Đào Tiềm đọc sách Lăo Trang ngoài sách Nho Giáo.

Ca tụng Nguyễn Khuyến đọc nhiều sách chắc chắn là một việc làm không cần thiết. Nhưng câu hỏi là ngoài sách của Đạo nho, Nguyễn Khuyến thựng đọc những sách nào? T́m trong Quế Sơn Thi Tập, người đọc thơ thấy Nguyễn Khuyến ghi lại trong một số bài thơ những sách ông thường đọc. Trước hết là bài :

讀 易
Độc Dịch

寒 日 爭 如 夏 日 長
Đông nhật tranh như hạ nhật trường
南 風 還 有 北 風 涼
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương
自 為 可 口 鴟 嗔 鳳
Tự vi khả khẩu si sân phượng
不 盡 機 心 雀 埔 螳
Bất tận cơ tâm tước bộ đựng
海 宇 若 開 新 世 界
Hải vũ nhược khai tân thế giới
民 風 應 入 古 鴻 荒
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang
清 晨 獨 起 觀 周 易
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch
消 息 盈 虛 未 易 詳
Tiêu tức doanh hư vị dị tường.

dịch là

Đọc Kinh Dịch

Ngày đông ngắn ngày hè dài
Gió nồm gió bấc vần xoay luật trời
Cú hội ghen phượng giữ mồi
Sẻ ŕnh bọ ngựa tṛ đời cơ tâm
Hoàn cầu tới hội canh tân
Hồng hoang sống lại t́nh dân hội này
Đọc trang Kinh Dịch sớm nay
Chẳng hay cơ tạo vơi đầy thịnh suy.

Hai câu mở đầu cho thấy Nguyễn Khuyến muốn t́m hiểu một câu truyện theo luật tạo hoá xoay vần: không có ǵ là vĩnh viễn, cái này kế tiếp cái kia. Trong cái biến hóa đó, con người ghen ghét nhau như cú ghen với phương v́ miếng mồi,  như con bọ ngưa đang ŕnh con ve không biết là con chim sẻ đang ŕnh ḿnh và con chim sẻ không biết là có người thợ săn đang ŕnh ḿnh và sau cùng v́ quá chăm chú vào việc ŕnh con chim sẻ mà không hay sương xuống ướt áo 59. Đó là v́ cái lợi trước mắt mà những người chỉ muốn giành cái có cho ḿnh quên mất cái hại sau lưng. Nay, hoàn cầu đứng trước sự đổi mới, loài người như sống lại ngày khai thiên lập địa mới có con người khiến con người chưa bị gấp nếp theo nhưng thói tật của xă hội. Nguyễn Khuyến mở sách Chu Dịch, một trong năm kinh của Đạo Nho, t́m lẽ vơi đầy thịnh suy mà không t́m thấy khiến ông thắc mắc.

Sự tích cú ghen với phương v́ miếng mồi trích từ thiên Thu Thủy, sách Trang Tử Nam Hoa Kinh 60. Sự tích đó như sau:

Thầy Huệ làm tướng nước Lương, thầy Trang sang thăm.
Hoặc có kẻ bảo thầy Huệ rằng:
- Thầy Trang đến muốn thay thầy mà làm tướng. Thế là thầy Huệ sợ lùng ở trong nước ba ngày ba đêm.
Thầy Trang đến thăm nói:
- Phương Nam có giống chim, tên nó là uyên sồ, bác biết chăng? Uyên sồ cất cánh từ biền Nam bay sang biển Bắc... Phi cây ngô đồng chẳng đậu, phi hạt luyện chẳng ăn, phi suối ngot chẳng uống. Lúc ấy cú ta bắt được con chuột chù. Uyên sồ bay qua ... Nó ngẩng lên trông thấy bèn kêu “Hóe”. Nay bác mang nưóc Lương nhà bác ra “hóe” tôi sao?

Tích uyên sồ trên đây ngày nay thương dùng để chỉ cái nh́n của người đă buông bỏ cái có trên những người c̣n chạy theo cái có.

Sự tích sẻ ŕnh bọ ngựa, chép trong Nam Hoa Kinh, thiên XX mang đầu đề Sơn Mộc như sau 61:

Trang Chu chơi ở bên giậu Điêu Lăng, thấy một con tước lạ từ phương Nam lại, cánh rộng bầy thước, mặt to đầy tấc, bay sát tráb Chu mà đậu ở rừng dẻ.
Trang Chu nói:
- Đây là loài chim ǵ? Cánh rộng mà không đi, mắt lớt mà không trông.
Liền vén xiêm, rén bước, cầm viên đạn mà nhằm nó. Lại thấy một con ve sầu, vừa được bóng rợp đẹp mà quên thân ḿnh. Con bọ ngựa nấp chỗ khuất mà vồ nó, thấy được mà quên xác ḿnh..
Trang Chu rùng ḿnh mà rằng:
- Trời ơi! Giống vật vốn làm lụy nhau! hai loài triệu lẫn nhau!
Bỏ viên đạn mà chạy trở về. Người coi rừng đưổi theo mà mắng cho.

Trang Chu trở về nhà ba tháng không vui.
Lạn Thư theo hỏi:
- Thầy làm chi mà ít lâu nay rất không vui?
Trang Chu đáp:
- Ta giữ xác mà quên ḿnh! Xem nước đục mà mê lẫn vực trong! Vả chăng ta nghe thầy ta dậy rằng: « Vào tục nào theo tục nấy! » Nay ta sang chơi Điêu Lăng mà quên thân ta. Chim tước lạ bay sát trán ta sanh chơi rùng dẻ mà quên đời thật.Người coi rừng dẻ đem ta mà làm sỉ nhục, v́ vậy nên ta không vui.

Thiên Sơn Mộc là một thiên trong phần Ngoại Thiên Nam Hoa Kinh. Giới nghiên cứu Trang Tử Nam Hoa Kinh thường coi Ngoại Thiên là những chương sách người sau đội tên Trang Tử mà thêm vào. Nhiều người đề nghị loại bỏ những chương này ra khỏi kinh Nam Hoa, nhưng phần lớn nhưng ấn bản đều giữ nguyên. Bàn về chương Sơn Mộc, Nhượng tống viết :

Thiên trên Trang dạy ra « ra đời ».
Thiên này ông dạy ta « vào đời ».
Dù vào hay ra đều phải lấy đạo làm gốc, đều phải quên công, quên danh, quên cả đến ḿnh. Nbưng ư ấy Trang đă từng nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong các thiên trên, đây chỉ nói cho rơ thêm mà thôi!

Hoàn vũ nay đến hội canh tân, và Nguyễn Khuyến như thấy t́nh dân muốn sống lại thủa hồng hoang, thủa thượng cổ khi mới có loài người, chưa có phép tắc quy luật xă hội. Nguyễn Khuyến t́m hiểu trong Kinh Dịch lẽ thịnh suy vợ đầy.

Dường như Kinh Dịch không giúp Nguyễn Khuyến thấu đáo hơn cái lẽ thịnh suy vơi đầy, nên Nguyễn Khuyến gấp kinh dịch mở sách Lăo Trang như ông ghi lại trong bài :

U Sầu 62

Dục phế Thi Thư học Lăo Trang
Tiền nhân y bátthượng nan vương
Bách niển chỉ thử vi tâm huyết
Nhất nhật an năng dịch thận trường
Phương kién hoành diên đại khai tịch
Vị tri thiên địa bất hồng hoang
Dĩ tai ngô thả hành ngô tố
Tiêu tức doanh hu tử tế lường.

dịch là

U Buồn

Bỏ Nho học Đạo những mong
Nếp nhà truyền lại khó ḷng lăng quên
Trăm năm tâm huyết một niềm
Một ngày thay đổi ước nguyền cũng đang
Mắt nh́n hoàn vũ mở mang
Đất trời quay lại hồng hoang không đường
Nếp xưa đành quyết noi gương
Vơi đầy suy thịnh gốc nguồn ngẫm suy.

dể mong tỉm ra gốc nguồn của điều khiến Nguyễn Khuyến bận tâm.

Cái lẽ vơi đầy thịnh suy c̣n là chủ đề cho bài thơ dưới đây của Nguyễn Khuyến:

有 感
Hữu Cảm

沉 思 世 變 絕 堪 傖
Trầm tư thế biến tuyệt kham thương
消 長 盈 虛 未 易 量
Tiêu trưởng doanh hư vị dị lường
宇 宙 方 開 新 世 界
Vũ trụ phương khai tân thế giới
人 民 又 別 一 鴻 荒
Nhân dân hựu biệt nhất hồng hoang
不 知 誰 是 為 盤 古
Bất tri thùy thị vi Bàn Cổ
休 把 浮 談 笑 老 莊
Hưu bả phù đàm tiếu Lăo Trang
心 目 未 窮 年 漸 老
Tâm mục vị cùng niên tiệm lăo
故 園 松 匊 自 徜 徉
Cố viên tùng cúc tự thương dương

dịch là

Cảm Xúc

Thương cho thế cuộc đổi dời
Khi suy khi thịnh đầy vơi khôn lựng
Hoàn cầu đổi mới khai trương
T́nh dân sinh sống như dường hồng hoang
Nhớ ơn Bàn Cổ mở mang
Coi thường kinh sách Lăo Trang chớ lầm
Nay già chưa thấu thâm trầm
Hẹn cùng tùng cúc đành tâm quay về.

Từ bài Độc Dịch sang bài Hữu Cảm, Nguyễn Khuyến gấp Kinh Dịch mở sách Lăo Trang để xét lẽ thịnh suy vơi đầy trước cảnh đổi mới khắp hoàn vũ, và cảnh ông ước ao dân t́nh được sống lại cảnh hồng hoang, cảnh con người sống đời thượng cổ. mà người đọc thơ liên tưởng tới cảnh địa đàng trong Kinh Thánh. Dường như Nguyễn Khuyến mở sách Lăo Trang để t́m lời giải cho câu truyện khó khăn đó. Bỗng nhiên ông chợt thấy ông chưa hiểu thấu đáo kinh sách, rồi như chợt nhớ lời hẹn cùng tùng cúc, và khác với Nguyễn Công Trứ, ông quyết tâm trở về Vườn Bùi.

Trong nhiều bài khác, Nguyễn Khuyến dúng nhưng điển tích rút từ sách Trang Tử Nam Hoa Kinh ḥa hội cùng nhưng điển cố rút từ sách Nho Giáo. Phải chăng đó là điều chứng tỏ sự chuyển biến trong lănh vực tu tuởng của Nguyễn Khuyến từ Nho Giáo sang Đạo Giáo. Tiêu biểu cho sự chuyển biến tư tưởng này là bài:

偶 城
Ngẫu Thành
二
kỳ II

撓 撓 江 山 一 細 塵
Nhiễu nhiễu giang sơn nhất tế trần
何 為 鼎 鼎 百 年 身
Hà vi đỉnh đỉnh bách niên thân
名 夷 利 跖 枯 骸 盡
Danh Di lợi Chích khô hài tận
歉 朔 盈 侏 俸 祿 均
Khiếm Sóc doanh Thù bổng lộc quân
翼 趾 角 牙 原 有 分
Dực chỉ giác nha nguyên hữu phận
夔 蚿 蛇 目 各 相 憐
Qùy huyền xà mục các tương lân
細 衰 運 會 知 何 極
Tề suy vận hội tri hà cực
當 是 鴻 荒 太 古 人
Đương thị hồng hoang thái cổ nhân.

dịch là

Ngẫu Thành

Nước non một mảy bụi hồng
Trăm năm một kiếp nên công cốc ǵ
Xương khô lợi Chích danh Di
Thù thừa Sóc thiếu chi li công b́nh
Phận riêng chân cánh sừng nanh
Quỳ huyền rắn mắt khác h́nh tương lân
Biết đâu hội vận xoay vần
Hồng hoang trở lại một lần nữa chăng.

Trong câu thứ ba, cũng như Nguyễn Trăi trong bài Côn Sơn Ca và Nguyễn Du trong bài Hành Lạc Từ, Nguyễn Khuyến dùng điển danh Di lợi Chích, rút từ chương Biền Mẫu sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử để vẽ h́nh ảnh con người khi c̣n đuổi theo cái có. Trong câu thứ tư, Nguyễn Khuyến dùng điển Đông Phương Sóc, một nhà văn học đời Hán, Trung Quốc. Đông Phương Sóc và Thù Nho cùng làm quan trong triều Hán Vũ Đế, và cùng được hưởng lương bổng bằng nhau. Một ngày nọ, Đông Phương Sóc tâu lên vua rằng: “Thù Nho ḿnh cao ba thước, ăn lương một b́ thóc và 240 đồng tiền. Sóc tôi ḿnh cao chín thước, cũng ăn lương một b́ thóc và 240 đồng tiền. Thù Nho hàn rồi chết no và Sóc này rồi chết đói mất.” Nhắc tới truyện này dường như Nguyễn Khuyến muốn cho người đọc thấy là vấn đề công b́nh là một vấn dề rất chủ quan khó biết đúng sai. Tiếp tới câu thứ sáu Nguyễn dùng bốn chữ dực, chỉ, giác, nha, rút trừ bài Thiên Nhân Tam Sách của Đổng Trọng Thư, nói lên lẽ công b́nh của tạo hóa: vật có nanh th́ không có sừng, vật có cánh thi bớt chân. Trong câu thứ sáu, Nguyễn Khuyến dùng bốn chữ quỳ huyền, sà và mục rút từ thiên Thu Thủy, sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Nhượng Tống dịch như sau 63

Quỳ thương rết ... Rết thương rắn ... Rắn thương gió ... Gió thương mắt ...Mắt thương ḷng ...
Qùy bảo rết rằng:
- Ta dùng một chân mà đi., ngươi không bằng rồi. Nay một ḿnh ngươi mà sai khiếnbấy nhiêu chân, làm ra làm sao?
Rết nói:
- Không thế rồi! [...] Nay động tới máy trời của ta, ta không biết làm sao nữa.
Rết lại bảo rắn:
- Ta đi bằng nhiều chân mà không bằng ngươi không chân, sao vậy?
Rắn đáp:
- Sự cử động của máy trời, có thể đổi sao được. Ta có dùng chân làm chi?
Rắn bảo gió :
- Ta vận động xương sống xương sườn ta mà đi, [...]. Nay ngươi áo áo nổi từ biển Bắc, ào ào thổi vào biển Nam mà h́nh như không có, sao vậy?
Gió nói :
- Phải! Ta ào ào nổi từ biển Bắc thổi vào biển Nam. Thế nhưng chỉ ta th́ được ta. Đạp ta th́ được ta. Tuy vậy bẻ gẫy cây to, xô đổ nhà lớn, chỉ có ta là có thể. Cho nên ta 
góp nhiều cái không được nhỏ lại làm cái được lớn.

Dùng bốn chữ qùy huyền sà mục của sách Trang Tữ Nam Hoa Kinh để đối với bốn chữ dực chỉ giác nha của Đổng Trọng Thư người đọc thơ như cảm thấy Nguyễn Khuyến muốn lấy hai chữ vô vi của Lăo Giáo để đối với hai chữ hữu vi của Khổng Giáo dể t́m hiểu về sự vận hội vần xoay. Phái hữu vi do người định đoạt, phái vô vi nhờ máy trời vần xoay. Câu kết dường như tác giả cho thấy là ông tin rằng Hồng Hoang, có thể sẽ quay lại một lần nữa.

Nguyễn Khuyến c̣n dùng hai chữ hồng hoang, hai lần trong hai câu mởđầu bài sau đây :

漫 吟
Mạn Ngâm

上 溯 鴻 荒 混 沌 初
Thượng tố hồng hoang hỗn độn sơ
鴻 荒 之 後 是 誰 歟
Hồng hoang chi hậu thị thùy dư
隆 污 世 運 當 何 極
Long ô thế vận đương hà cực
厚 薄 人 情 漸 不 如
Hậu bạc nhân t́nh tiệm bất như
開 闢 以 來 天 或 老
Khai tịch dĩ lai thiên hoặc lăo
紘 埏 之 外 地 應 除
Hành duyên ci ngoại địa ưng trừ
若 知 古 後 無 窮 事
Nhược tri cổ hậu vô cùng sự
合 補 瀛 寰 不 盡 書
Hợp bổ doanh hoàn bất tận thư.

dịch là

Mạn Ngâm

Trước hồng hoang hỗn độn xưa
Sau hồng hoang đến bây giờ những ai
Thịnh suy suy thịnh vơi đầy
Ḷng người bạc bẽo bấy chầy khác xa
Từ khai tịch trời nay già
Đất ngoài tám cơi hết đà từ lâu
Bằng hay được việc ngàn sau
Gom làm bộ sách hoàn cầu đọc chung.

Điểm đáng lưu ư là Nguyễn Khuyến dùng hai chữ hồng hoang trong sáu bài :  Độc Dịch, U Sầu, Hữu Cảm, Cảm Xúc Ngẫu Thành và Mạn Ngâm. Phải chăng đó là điểm Nguyễn Khuyến thắc mắc về lẽ suy thịnh đầy vơi mà đi t́m trong sách Lăo Trang để giải thích.

Giới chú thích thơ Nguyễn Khuyến văn tắt giảng chữ hồng hoang là đời thương cổ khi mới có loài người. Trang Tử viết về cảnh hồng hoang và cảnh suy thoái của hồng hoang trong thiên Mă Đề sách Nam Hoa Kinh như sau 64:

[...] Ḱa dân vốn có tính thường : dệt mà mặc, cày mà ăn, cái đó gọi là đức chung. Một mà không bè đảng, gọi là mặc trời. Cho nên về đời rất đạo đức, họ đi chắc chắn, họ nh́n thẳng thán. Đường lúc ấy : núi không có kẽm, chầm không có thuyền, đập; sinh vật sống thành đàn, cỏ cây đua lớn. Ḱa đời rất đạo dức, người ngang cùng muôn vật; có biết ǵ là quân tử với tiểu nhân. [...]

Kíp đến khi thánh nhân cặm cụi làm nhân tập tễnh làm nghĩa, mà thiên hạ mới sinh ngờ. Lan man làm nhạc, khún núm làm lễ, mà thiên hạ mới phân chia. Cho nên gỗ mộc không tàn, lấy ǵ làm chén son? Ngọc trắng không nát, lấy ǵ làm khuê, chương? Đạo Đức không phế, lấy đâu ra nhân nghĩa? Tính t́nh không ĺa dùng ǵ làm lễ nhạc?Năm sắc không loạn lấy ǵ làm văn vẻ? Năm tiếng không rối, lấy ǵ làm sáu luật? Ḱa tàn hải gỗ mộc mà làm đồ dùng, đó là tội của thợ mộc. Hủy hoại đạo đức để làm nhân nghĩa, đó là tội của thánh nhân. [...] Kíp đến đời các thánh nhân, bắt bẻ theo lễ nhạc để bó buộc người đời; treo cao nhân nghĩa để yên ủi ḷng người đời : nên dân mới bắt đầu cạnh khóe thích tranh khôn, tranh nhau về lợi, không thể ngăn được nữa. Đó là cái lỗi của thánh nhân vậy.

Trở lại bài Mạn Ngâm của Nguyễn Khuyến, thiên Đạo Chích 65 sách Nam Hoa Kinh trả lời rành mạch câu hỏi này.

Sách chép Đạo Chích là em của Liễu Hạ Quư, một người quen biết của Khổng Khâu. Đạo Chích có chín ngàn người theo, dọc ngang thiên hạ, cướp của giết người. Muôn dân khổ v́ hắn, muôn quân đánh dẹp khổ v́ hắn. Khổng Khâu bàn cùng Liễu Hạ Quư đi thuyết Đạo Chích. Liễu Hạ Huệ hết lời can ngăn. Thầy Khổng nhất quyết không nghe lời can, sai Nhan Hồi đánh xe, Tử Cống đúng kèm bên phải sang ra mắt Đạo Chích

Đạo Chích khi đó đang dưỡng quân tại phía nam núi Thái Sơn, thái gan sống của người mà ăn. Thầy Khổng xuống xe xưng danh với viên thông báo của Đạo Chích. Sau ba lần thưa bẩm Đạo Chích mới cho Khổng Khâu ra mắt dưới trướng.

Trong cuộc đối thoại với Khổng Khâu, Đạo Chích không dùng hai chữ hồng hoang, nhưng mô tả cảnh hồng hoang như sau:

Xưa kia dân không biết vận xiêm áo. Mùa hè chứa nhiều củi, mùa đông th́ đốt nó sưởi. Cho nên gọi họ là dân biết sống Về đời vua Thần Nông, nằm th́ thuể thoả, dậy th́ tung tăng. Dân biết có mẹ mà không biết có cha. Cùng ở với hưu nai. Cày mà ăn ...Dệt mà mặc ...Không có ḷng hại nhau ... Đó là lúc đức cả đương thịnh.

Trả lời câu Nguyễn Khuyến hỏi trong câu thứ hai bài Mạn Ngâm, người đọc t́m thấy trong lời Đạo Chích nói tiếp:

Thế nhưng vua Hoàng Đế không gây được đức cho đến nơi, cùng Xuy Vưu đánh nhau ở nội Trác Lộc, máu chẩy hàng trăm dặm.

Nghiêu Thuấn lên, lập ra các quan ... Thang đưổi vua của ḿnh ... Vũ giết vua Trụ ... Từ đó về sau lấy mạnh lấn yếu. Lấy dông hiếp ít. Từ Thang Vủ tới giờ đều là bọn làm loạn cả

Người đọc dường như có thể hiểu đươc hai câu tiếp theo trong bài Mạn Hứng, vẫn theo lời Đạo Chích :

Hoàng Đế chằng toàn được đức [...] Nghiêu th́ bất từ, Thuấn th́ bất hiếu, Vũ th́ hại người Thang th́ đuổi vua, Vũ Vương th́ đánh Trụ, Văn Vương th́ bị giam ở Dữu Lư. Sáu người dó là nhưng kẻ đời nay chuộng. Bàn cho kỹ, đều là hạng đem lợi làm mê đời thực, mà cường trái lại tính t́nh. Nết của họ thật đáng xấu hổ. Này nhưng hạng mà đời nay gọi là người giỏi: Bá Di Thúc Tề chối ngôi vua nước Cô Trúc, mà chết đói ởnúi Thú Dương, xương thịt không người chôn. Băo Tiều sửa nết, chê đời, ôm cây mà chết. Thân Đồ Địch can vua không được, đội đá, tự gieo ḿnh xuống sông, bị cá giải ăn thịt. Giới Tử Thôi là kẻ rất trung, tự cắt thịt đùi để nuôi Van Công.  Văn Công ssau đó phụ hắn ... Tử Thôi giận bỏ đi , ôm cây mà chết cháy.  Vĩ Sinh hẹn với đứa con gái nơi đầu cáu ... Đứa con gái chẳng lại ... Nưóc tới không đi, ôm cột cầu mà chết đuối. Bồn người ấy đều không khác ǵ chó thui lợn mổ, hay kẻ vác bát ăn xin.  Đều là hạng ĺa danh khinh chết, không nghĩ gốc để nôi lấy tuổu thọ. Người mà đời gọi là tôi trung không ai bằng Vương Tử Tỷ Can, Ngũ Tử Tư... Từ Tư phải chết ch́m, Tỷ Can phải moi tim. Hai người ấy , đời gọi là trung thần mà rút lại để cho thiên hạ cười. Từ trên mà xem xuống, cho đến Tử Tử Can, thẩy đều không đáng quư.

Tới hai câu sáu và bẩy trong bài mạn hứng, Nguyễn Khuyến dường như gấp sách sổ, nh́n vào đời sống trước mắt ông. Ông thấy như cơ tạo cũng đă già nua cùn ṃn, đất trời cho chẳng c̣n nơi nào con người chưa khai thác. Phải chăng đó là cảnh trước mắt đă tới lúc dĩ cùng. Mà người ta ai ai củng tin rằng dĩ cùng tắc biến, tới lúc cùng ắt phải biến đổi. Cái biến đổi đó trong mạch thơ gồm sáu bài của Nguyễn Khuyến trích dẫn trên đây, phải chăng là sự quay về thời hồng hoang? Và hai câu kết phải chăng là Nguyễn Khuyến thấy rằng câu truyện quay lại hồng hoang này là một đề tài đáng viết thành một cuốn sách cho thiên hạ xem chung?

Đi xa hơn nữa, người đọc thơ Nguyễn Khuyến, sau sáu bài với cùng một đề tài hồng hoang trên đây, không khỏi nghĩ rằng nhung ngày tháng nghiền ngẫm sách Lăo Trang, Nguyễn Khuyến đă dần dần chuyển vị từ một thạc nho hữu vi thành một chân nhân vô vi.

Người đọc dường như c̣n cảm thấy rằng sự biến đổi nói trên trong thơ Nguyễn Khuyến không phải chi riêng do việc đọc sách Lăo Trang mà c̣n do sự biến đổi hàng ngày trong đời sống của tác giả. Đó là sự thâm nhập của tiến bộ Tây phương vào nếp sống Việt Nam.  Nguyễn Khuyến ghi lại sự thâm nhập đó trong một đôi bài trong Quế Sơn Thi Tập, tiêu biểu là bài:

鬥 巧 記 聞
Đấu Xảo Kư Văn

鬥 巧 長 開 百 勿 陳
Đấu xảo trường khai bách vật trần
噫 何 巧 也 巧 而 新
Y hà xảo dă xảo nhi tân
近 來 誰 鑿 乾 坤 孔
Cận lai thuỷ tạc kiền khôn khổng
到 此 方 知 宇 宙 春
Đáo thử phương tri vũ trụ tân
遠 國 服 裝 真 詭 異
Viễn quốc phục trang chân quỷ dị
深 林 鳥 獸 絕 其 珍
Thâm lâm điểu thú tuyệt kỳ trân
尋 常 敝 邑 無 他 巧
Tầm thường tệ ấp vô tha xảo
聊 作 冠 常 木 偶 人
Liêu tác quan thường mộc ngẫu nhân.

dịch là

Ghi những Điều Nghe Thấy Trong Cuộc Đấu Xảo

Mở kỳ đấu xảo trưng bày
Trăm điều mới lạ khéo hay tuyệt vời
Kiền khôn khoen thủng khen người
Cảnh xuân vũ trụ tới nơi mới tường
Nước xa quần áo lạ lùng
Rừng sâu vật hiếm chim muông đủ loài
Xứ tôi khéo vụng cùng ai
Bày pho tượng gỗ cân đai góp phần.

Nguyên năm 1902 nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương nhân dịp khánh thành cầu Doumer bắc ngang sông Hồng Hà, mở cuộc đấu xảo tŕnh bày kỷ nghệ tân tiến. Chắc chắn là Nguyễn Khuyến có đi xem đấu xảo và ghi lại nhưng điều tai nghe mắt thấy trong bài tho trên. Câu thứ ba nhắc tới mô h́nh đường xe lửa với nhưng hầm đục xuyên qua núi. Hai câu kết người đọc thơ không khỏi bùi ngùi cùng tác giả về sự góp phần nhỏ nhoi của người bản xứ trong kỳ đấu xảo này. Ngoài ra, h́nh ảnh những bức tượng gỗ với đủ áo xuêm không khỏi nhắc tới h́nh ảnh nhưng vị đường quan đương thời.

H́nh ảnh những tượng gỗ đủ áo xiêm tiêu biểu cho các vị đường quan trong bài thơ trên c̣n nhắc người đọc thơ Nguyễn Khuyến nhớ tới hai bài thơ nôm sau đây :

Vịnh Tiến Sĩ Giấy

I

Rơ chú hoa man khéo vẽ tṛ
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi
Giấy má nhà bay đáng mấy xu
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ
Bảng vàng bia đá vẫn ngh́n thu
Hỏi ai muốn ước cho con cháu
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.


II

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rơ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ là đồ thật hóa đồ chơi.

Nều trong bài Đấu Xảo Kỳ Văn, h́nh ảnh những vị đường quan trở thành nhưng bức tượng gỗ, và trong hai bài Vịnh Tiến Sĩ Giấy, cái đỗ đạt cũng trở thành một thứ đồ chơ, dứ trẻ con. Phải chăng đó là nhưng dấu hiệu mất chỗ đứng độc tôn của nho giáo tại Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX?

Đằng khác, đặt ba bài Đấu Xảo Kư Văn và hai bài Vịnh Tiến Sĩ Giấy trên đây, trên nẻo đường buông bỏ cái có ngoại thân để về cơi huyền, theo mẫu mực của Gabriel Marcel, người đọc dường như thấu rơ hơn những lời Nguyễn Khuyến dặn ḍ con cháu trong bài Di Chúc Văn:

Việc tống táng nhung nhăng qua quít
Cúng cho thầy một it rươu hoa
Đề vào mấy chữ trong bia
Rắng “quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu”.

Rơ ràng là Nguyễn Khuyến chỉ muốn người đời sau nhớ tới việc ông từ quan về vườn Bùi, và qua h́nh ảnh một ông say với chén rượu trong tay như trên bức chân dung của ông. Đó là điểm tương ứng  giữa Nguyễn Khuyến và Đào Tiềm. Giới nghiên cứu thơ Đào Tiềm đồng ư là rượu là điểm quan trọng thứ hai trong thơ Đào Tiềm, đứng sau việc Đào Tiềm từ quan về với vườn ruộng. Khác với Đào Tiềm để lại hai mươi bài thơ dưới cùng đề tài Ẩm Tửu, đồng thời trong đa số các bài khác Đào Tiềm đều nói tới rượu, Nguyễn Khuyến không ngâm vịnh riêng đề tài nhấp rượu, nhưng cũng như Đào Tiềm, khi bất đắc chí, lúc gặp truyện buồn, Nguyễn Khuyến đều nhấp rượu.  Đúng như giới phê b́nh đă nhận xét, Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến uống rượu v́ cái đức của rượu. Chữ đức của rượu đưa người đọc về với Lưu Linh, qua bài Tửu Đức Tụng  dưới đây 66, dịch là:

Đức Uống Rượu


Có một tiên sinh đại nhân lấy giời đất làm một buổi, lấy muôn năm làm một chốc, lấy mặt giời mặt giăng làm cửa làm ngơ, lấy cả thiên hạ làm sân, làm đường; di không thấy vết xe, ở không có nhà cửa, ǵời tức là màn, đất tức là chiếu, ư muốn thế nào th́ thế. Lúc ở th́ nâng chén, lúc đi th́ vác chai, xách nậm, lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè, không c̣n biết đến ǵ nữa.

Có một công tử và một vị quan sang nghe tiếng tiên sinh như thế, bèn đến tận nơi, xắn tay vén áo, người th́ trừng mắt nghiến răng, người th́ trần lễ thuyết pháp, những dọng thị phi đâu bấy giờ ầm ỹ xôn xao như đàn ong vậy.

Lúc đó tiên sinh mớio ôm ṿ rượu, ghé vào thưng rượu, tợp cả chén rượu, phồng mồm những rượu, vểnh bộ râu lên, ngồi giạng hai chân, gối đầu vào men, lăn lưng vào bă, không nghĩ không lo, hớn hở vui thú, ngất ngưởng say sưa, thoáng rồi lại tỉnh. Lắng tai cũng không nghe thấy tiếng sấm sét, nh́n kỹ cũng không thấy h́nh Thái Sơn, nực rét thiết đến thân cũng không biết; lợi dục cảm dến t́nh cũng không hay; cúi xuống trông vạn vật rối rít ở trước mắt khắc nào như bèo nổi bồng bềnh trên sông Giang sông Hán.

Hai vị kia đúng cạnh tiên sinh bấy giờ xem cũng như con ṭ ṿ, con sâu róm mà thôi.

Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân b́nh bài Tửu Đức Tụng như sau:

Uống rượu say được như tiên sinh thực là hiếm có. Say mà đến lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu, trút sạch được hết lợi dục, quên bỏ được hết việc đời, kẻ sang giầu,  ngựi quyền thế trong c̣n như con sâu róm, con ṭ ṿ, th́ quả là một cái say thú vị, làng say vị tất mấy ai đă hưởng được. Nên tưỏng những kẻ chưa tới được cảnh say, chưa biết được cái say như thế là ǵ, cũng chẳng nên nghị luận cái say, cười người say chưa thấy đâu, lại phải người say cười lại. C̣n những hạng người say mà nói nhảm làm càn, phạm vào nhưng điều thương luân bại lư mà vin Lưu Linh th́ lại là tội nhân của Lưu Linh, chớ không phải đồ đệ của Lưu Linh. Nói rộng ra, giới tửu mà không uống rượu, theo đúng như Phật dậy, cố nhiên là đáng trọng, nhưng uống rượu mà vui tươi tao nhă như thần tiên, th́ cũng không thể khinh được.

Lưu Linh là một trong Trúc Lâm Thất Hiền. Bẩy người hiền này, theo Donal Holzman 67 là Kê Khang (223-262), Nguyễn Tịch (211-264), Vương Duy (234-305), Sơn Đào (205-283), Hương Tú (223-300) duy có Nguyễn Hàm và Lưu Linh không rơ năm sinh năm mất cùng gia thế sự nghiệp. Năm người kia đều làm quan cho triều đ́nh nhà Tấn sau khi Tư Mă Ư cướp ngôi nhà Ngụy,  loại trừ phái Lăo Gia theo Tào Sảng và thiên về phía Danh giáo.

Lưu Linh hiện diện trong thơ Việt Âm của Nguyễn Du qua bài:

劉 伶 幕
Lưu Linh Mộ

劉 家 之 子 不 成 才
Lưu Linh chi tử bất thành tài
荷 插 揚 言 死 便 埋
Hà sáp dương ngôn tử tiện mai
醉 裡 已 能 齊 萬 物
Túy lư dĩ năng tề vạn vật
死 時 何 必 念 遺 骸
Tử thời hà tất niệm di hài
千 年 古 幕 長 荊 棘
Thiên niên cổ mộ trường kinh cức
萬 里 官 道 多 風 挨
Vạn lư quan đạo đa phong ai
何 似 清 醒 看 世 事
Hà tự thanh tỉnh khan thế sự
浮 萍 撓 撓 更 堪 哀
Phù b́nh nhiễu nhiễu cành kham ai.

dịch là

Mộ Lưu Linh

Lưu Linh dầu chẳng thành tài
Chết đâu vùi đó lời này c̣n lưu
Lúc say muôn sự như nhau
Di hài nhắm mắt lẽ đâu bận ḷng
Ngàn năm gai phủ mồ hoang
Bên trời muôn dăm đường quan bồi hồi
Há như lúc tỉnh nh́n đời
Sắt se bèo nước nổi trôi dập dềnh.

Chú thích bài Lưu Linh Mộ trên đây, trong cuốn Nguyễn Du Toàn Tập, Mai Quốc Liên, không cho biết xuất xứ, ghi chi tiết về tiểu sử Lưu Linh như sau 68:

Lưu Linh (210-270) người đời Tấn, quê đất Bái, nay thuộc Từ Châu, Giang Tô, tên chữ là Bá Luân.

Lưu Linh thường ngồi xe đi chơi, đem theo rượu, có người đem theo mai đi hầu, nói rằng: “chết chỗ nào chôn chỗ đó”. Nguyễn Du căn cứ vào thoại này mà viết bài Lưu Linh Mộ trên đây.

Điểm đáng ghi nhận qua bài Tửu Đức Tụng của Lưu Linh và bài Lưu Linh Mộ của Nguyễn Du, là điều cái say có khả năng giúp người say tạm quên cảnh bèo nước trôi nổi của cảnh đời trong chốc lát, cho tới khi tỉnh.

Trở lại Quế Sơn Thi Tập, dường như Nguyễn Khuyến khác với Đào Tiềm. Đó là điểm Nguyễn Khuyến không viết nhiếu bài dưới đề tài Âm Tửu như Đào Tiềm, và rượu dường như là thi liệu ông dùng nhiều nhất trong ḍng thơ nôm cũng như ḍng thơ Việt Âm.

Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài hát nói:

Uống Rượu Ở Vườn Bùi

Túy ông ư chẳng say v́ rượu
Say v́ đâu nước thẳm với non cao
Non lặng ngắt nước tuôn ào
Tôi với bác xưa nay cùng thích thế
Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ
Có người say rượu tiếng c̣n nay
Cho nên say khướt cả ngày
Say mà chẳng biết rằng say ngă đùng
Chu Bá Nhân thủa trước sang sông
Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải it1
Kêu gào thế cười chi cho mệt
Chớ buồn khi nghe tiếng hát làng say
Xin người gắng cạn chén này.

Bản Việt Âm cũng viết theo thể  hát nói, nhưng mỗi câu trích dẫn một câu thơ cổ của Trung quốc:

裴 園 對 飲 摘 句 哥
Bùi Viên Đối Ẩm Trích Cú Ca

醉 翁 之 意 不 在 酒
Túy ông chi ư bất tại tửu
而 在 乎 山 水 之 間
Nhi tại hồ sơn thủy chi gian
山 漠 漠 水 潺 潺
Sơn mịch mịch thủy sàn sàn
吾 與 子 之 所 共 適
Ngô dữ tử chi sở cộng thích
5古 來 聖 賢 皆 寂 寞
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
惟 有 飲 者 留 其 名
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
所 以 終 日 醉 頹 然 臥 前 楹
Sở dĩ chung nhật túy đồi nhiên ngọa tiền doanh
周 伯 仁 渡 江 三 日 醒 不為 少
Chu Bá Nhân độ giang tam nhật tỉnh bất vi thiểu
莫 叫 莫 叫
Mạc khiếu mạc khiếu
10何 似 當 初 莫 笑
Hà sự đương sơ mạc tiếu
酒 酣 拔 劍 斫 地 歌 莫 哀
Tửu hàm bạt kiếm chước địa ca mạc ai
勸 君 更 盡 一 杯
Khuyến quân cánh tận nhất bôi.

Theo giới nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến th́ câu thứ hai là câu ông trích tử bài Túy Ông Đ́nh Kư của Âu Dương Tu đời Tống. Câu thứ bốn từ bài Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha đời Tống. Hai câu năm và sáu trích từ bài Tương Tiến Tửu của Lư Bạch, đời Đường. Câu thứ bẩy từ bài Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí của Lư Bạch. Câu thứ tám trích thư của Trần Tuyên đời Lương. Câu thứ mười trích trích Tống Sử điển các đạo sĩ làm phép để hoàng nam con vua Chân Tông, tục truyền là con Ngọc Hoàng giáng thế, khi mời sơ sinh nín khóc. Câu mười một trích bài Đoản Ca Hành Tặng Vương Lang Tư Trực của Đỗ Phủ đời Đương, và câu mười hai trích từ bài Vị Thành Khúc của Vuơng Duy, dời Đường. Cùng một ư thơ, Nguyễn Khuyến viết thành hai bài thơ trong hai ngôn ngữ, bài Việt Âm trang trọng với những câu thơ nôi tiếng của thơ cổ Trung Quốc, chuyển sang thơ nôm mang vẻ hài hước tạo nên h́nh ảnh một ông lăo say, không say v́ rượu mà say v́ cảnh nước thẳm non cao ngoài ṿng cương tỏa.

Trong ḍng thơ say, dùng thi liệu Trung Quốc, Nguyễn Khuyến để lại cho người ngày nay bài:

酒
Tửu

天 生 飲 食 世 皆 然
Thiên sinh ẩm thực thế giai nhiên
儀 狄 應 為 一 小 天
Nghi Định ứng vi nhất tiểu thiên
堯 舜 以 前 無 酒 誥
Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô tửu cáo
商 周 之 後 有 賓 筵
Thương Chu chi hậu hữu Tân Diên
若 教 麴 蘗 非 佳 品
Nhược giao khúc nghiệt phi giai phẩm
何 以 文 章 更 別 傳
Hà dĩ văn chương cánh biệt truyền
吾 道 至 今 蕭 索 葚
Ngô đạo chí kim tieu tác thậm
攜 壺 獨 此 醉 中 仙
Huề hồ độc thử túy trung tiên.

dịch là

Rượu

Người sinh ăn uống nếp trời
Một bà Nghi Định đời đời vinh danh
Trước Nghiêu Thuấn rượu thả dàn
Sau Thương Chu mới luận bàn Tân Diên
Ví bằng rượu độc v́ men
Sao văn chương vẫn biệt truyền xưa nay
Đạo ta rơi rụng bấy chầy
Đeo bầu riêng một lăo này là tiên.

Giới chú giải thơ Nguyễn Khuyến ghi là bà Nghi Định là vợ vua Đại Vũ nhà Hạ, là người đầu tiên chế ra rượu. Nghiêu Thuấn cũng là hai vị vua đời Đường và đời Ngu, những triều đại trước nhà Hạ. Tữu cáo là một chương trong Kinh Thi, chép lời Chu Thành Vương răn Khang Thúc chớ đam mê rượu. Cả câu thứ ba có nghĩa là trước đời NghiêuThuấn không có truyện ngăn cấm uống rượu. Thương Chu là hai triều đại kế tiếp nhà Hạ. Tân Diên là thơ Tân chi sơ diên, chép trong Kinh Thi bàn về việc tiếp rượu mời khách. Cả câu thứ tư này có nghĩa là mọi truyện nhiêu khê khách sáo trên chiếu rượu chỉ có sau thời Chu Thương. Qua hai câu thứ ba và thứ tư này, người đọc thơ Nguyễn Khuyến chợt nhớ tới hai chữ hồng hoang mà Nguyễn Khuyến đă dùng trong sáu bài thơ khác như đă tŕnh bày trên đây. Hai câu này, tuy không có chữ hồng hoang, nhưng dường chính là định nghĩa chữ này. Phải chăng là mối thắc mắc của Nguyễn Khuyến về chữ hồng hoang đeo đuổi Nguyễn Khuyến vào tới rượu? Hay là Nguyễn Khuyến có ư tự giễu ḿnh quá thắc mắc về việc thế gian quay trở lại cảnh hồng hoang?

Ngoài một số nhỏ thơ say mang nhiều điển tích Trung Quốc như hai bài Bùi Viên Đối Ẩm Trích Cú Ca và bài Tửu trên đây, phấn lớn thơ say của Nguyễn Khuyến, dầu viết bằng chữ nho cũng trái lại mang nhiều h́nh ảnh nơi quê hương của tác giả. Tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài:

醉 後
Túy Hậu

五 十 休 翁 半 畝 瑭
Ngũ thập niên ông bán mẫu đường
北 窗 高 臥 半 清 涼
Bắc song cao ngọa bán thanh lương
肥 泥 水 織 荷 衣 密
Ph́ nê thủy chức hà y mật
幽 徑 風 牽 草 帶 長
U kính phong khiên thảo đái trường
雜 句 不 須 人 共 賞
Tạp cú bất tu nhân cộng thưởng
閒 情 惟 有 酒 相 當
Nhàn t́nh duy hữu tửu tương đương
殘 春 病 眼 無 分 別
Tàn xuân bệnh nhăn vô phân biệt
日 影 熹 微 一 樣 黃
Nhật ảnh hy vi nhất dạng hoàng.

dịch là

Sau Bữa Say

Nửa mẫu ao lăo năm mươi
Bên song mát mẻ nằm lựi thú sao
Bùn sâu sen phủ mặt ao
Cỏ xanh gió thoảng ngơ sâu ngả dài
Câu thơ viết họa chẳng ai
Nhàn rồi c̣n rượu c̣n say hào hùng
Mắt đau nh́n chẳng thấy đường
Vàng hoe một bóng vừng dương lờ mờ.

Thực cảnh là cảnh một hưu quan, thi cảnh là ao sen lá phủ kín mặt ao, là làn gió mát lướt trên đám c̣ dài bên ngơ. Người thơ thiếu bạn cùng ngâm vịnh, nhưng c̣n rượu c̣n vui, riêng có cặp mắt đau nh́n mọi vật không c̣n rơ. Suốt bài thơ không một điển Trung Quốc, tất cả là sáng tác của tác giả. Phải chăng Nguyễn Khuyến, qua bài thơ trên đây đă đưa ḍng thơ Việt Âm ra ngoài tầm ảnh hưởng của thơ Trung Quốc? Phải chăng nhưng bài thơ như vậy là đóng góp của Nguyễn Khuyến, đưa nhưng h́nh ảnh đồng quê Việt Nam vào ḍng thơ Đông Á có chung gốc chữ Hán?

Nối dài ḍng thơ say của Nguyễn Khuyến trong nhưng năm tháng ở Vườn Bùi là bài:

排 悶 
二
Bài Muộn
II
南 山 遠 遠 曉 雷 鳴
Nam sơn viễn viễn hiểu lôi minh
似 向 人 間 訴 不 平
Tự hướng nhân gian tố bất b́nh
一 出 電 光 天 有 瞬
Nhất xuất điện quang thiên hữu thuấn
纔 過 風 信 竹 無 聲
Tài qua phong tín trúc vô thanh
坌 間 鼠 祖 嗔 濃 淡
Bồn gian thử tổ sân nùng đạm
野 外 鳩 夫 妒 雨 晴
Dă ngoại cưu phu đố vũ t́nh
持 酒 隔 籬 對 鄰 叟
Tŕ tửu cách ly đối lân tẩu
何 妨 嘖 嘖 話 桑 耕
Hà phương tắc trách thoại tang canh.

dịch là

Giải Buồn

I

Núi Nam xa sấm đùng đùng
Giận hờn dường muốn tỏ cùng thế gian
Lưng trời chớp nháy sáng choang
Gió ngừng rặng trúc ngỡ ngàng lặng thinh
Trong âu chuột rúc chê canh
Tiếng cưu ngoài nội phụ t́nh nắng mưa
Cách rào nói chuyện tầm tơ
Cùng ông hàng xóm say sưa thỏa ḷng

Cảnh thơ trong bài Giải Buồn I này là cảnh một ngày vắng vẻ, tác giả nghe thấy tiếng sấm từ núi xa, nh́n thấy những làn chớp mà ông coi như trời nháy mắt, thấy gió vờn rặng trúc, nghe thấy tiếng chuột rúc mà ông tưởng như chuột chê canh mặn, nghe thấy tiếng chim cưu ngoài nội như vợ chồng đôi cưu căi nhau. Cách rào ông nói chuyện tằm tang với ông hàng sóm và cùng ông ta uống rượu. Cảnh nói truyện cách rào với ông hàng xóm này gợi cho người đọc h́nh ảnh rất đáng qúy của Nguyễn Khuyến qua bài Lên Lăo :

Chú Đáo bên làng lên với tớ
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta

ngồi cùng một chiếu với ông.

Nét chính trong cảnh thơ bài Giải Buồn này là cảnh đơn lẻ của tác giả từ khi về nghỉ hưu tại Vườn Bùi. Dường như đó là cảnh thơ của ngoài một trăm bài thơ trong đó ông dùng rượu làm thi liệu trong số ngoài bốn trăm bài thơ con lưu truyền tới nay.

Tửu lượng của Nguyễn Khuyến không mấy cao. Ông viết trong bài Uống Rượu Mùa Thu:

Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy
Độ dăm ba chén đă say nhè

Có lẽ v́ cảnh đơn lẻ làm Nguyễn Khuyến buồn và có lẽ ông c̣n buồn hơn v́ tuổi mỗi ngày một cao càng buồn ông càng muốn uống. Đó là điểm ông viết trong bài Tự Thuật:

Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ
Hàm răng mấy chiếc hăy c̣n đây
Câu thơ được chửa thưa rằng được
Chén rưựu say rồi nói chửa say

Ngoài nỗi buồn tuổi tác, cũng như những ai đă về nghỉ hưu, c̣n thêm mối buồn về hiện cảnh đăng lại đằng sau những tiến triển của nghề nghiệp và thời thế. Nỗi buồn này dường như khá nặng khiến Nguyễn Khuyến muốn uống tới say tít cung thang:

Cờ đương dở cuộc không c̣n nước
Bạc chửa thâu canh đă chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén măi tít cung thang.

như ông đă viết trong bài Tự Trào.

C̣n một lẽ khác khiến Nguyễn Khuyến nhấp rượu có lẽ là đôi lúc Nguyễn Khuyến thoáng đối mặt với cái chết. Nhân một đêm tháng chín gió mưa sùi sụt, nghe tin ông già xóm tây mất, Nguyễn Khuyến đang ngồi uống rượu một ḿnh, đă uống thêm không ngửng và viết hai câu kết bài Kỷ Sửu Cửu Nguyệt Liên Dạ Phong Vũ, Độc Tọa Vô Liêu, Dẫn Măn Bất Chỉ Hựu Văn Đồng Ấp Nhất Lăo Tồ Lạc:

醉 矣 添 杯 又 添 醉
Túy hĩ thiêm bôi hựu thiêm túy
憑 窗 仰 面 看 蒼 蒼
Bằng song ngưỡng diện khán thương thương.

dịch là

Say rồi uống nữa say quồng
Bầu trời u ám ngoài song ngẩng nh́n.

Trong một dịp khác, nhân nh́n ảnh ḿnh Nguyễn Khuyến viết trong bài Đề Ảnh:

Bách bôi h́nh tặng ảnh
Thiên tả ngă vị tùy

dịch là

Nh́n h́nh trăm chén chuốc ta
Ngàn sau chẳng biết ta là ai đây

Thêm một lần nữa, trong bài Giải Muộn I, Nguyễn Khuyến tự hỏi :

Thiên niên khứ hạc ngă hà thân

Đó là những thí dụ như thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến những lúc người thơ thoáng đối mặt với cái chết và cạn hết ly này rồi ly khác.

Người đọc tự hỏi, phải chăng v́ những bữa say như vậy mà Khuyến Khuyến, nghĩ đến việc chừa rượu rồi chẳng muốn chừa, như ông viết trong bài :

Chừa Rượu

Nhưng lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chửa.

Tâm cảnh Nguyễn Khuyến trong những giây phút thoáng đối mặt với cái chết này là tâm cảnh của Đào Tiềm trong giờ phút Đào Tiềm viết bài Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ trích dẫn trong đoạn đầu cảo luận này. Thật vậy, Trong bài Ẩm Tửu đệ ngũ thủ, Đào Tiềm hái hoa cúc dưới chân rào, ngước nh́n dẫy núi nam trùng trùng là hai h́nh ảnh mà giới b́nh thơ Đào Tiềm cho là nhưng h́nh ảnh tượng trưng cho một người đă đứng tuổi đi hái thuốc và dẫy núi Nam tiêu biểu cho cái chết ở cuối trời. Tâm cảnh của Đào Tiềm là tâm cảnh một người già thoáng đối mặt với cái chết. Trong cảnh chiều có cánh chim bay về tổ, có làn sương vắt ngang sườn núi, Đào Tiểm chợt nẩy ra chân ư, và không t́m ra lời giăi ư. Giới b́nh thơ Đào Tiềm cho là người thơ đă tới cơi huyền đồng, nôm na là đă về được với đạo.

Điều đáng để ư là Đào Tiềm đă đặt bài thơ này vào ḍng thơ Ẩm Tửu. Như vậy phải chăng rượu đă giúp Đào Tiềm về được với Đạo?

Người đọc thơ Đào Tiềm dường như t́m thấy câu trả lời câu hỏi này trong chương Đạt Sinh sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, quen gọi là đoạn Trụy Xa 69.

Ḱa kẻ say ngă xe, tuy đau mà không chết. Xương cốt cũng như mọi người mà chịu hại khác với người v́ thần họ toàn: lên xe cũng chẳng biết, té xe cũng chẳng hay. Sống chết sơ hăi không vào trong ḷng họ. Thế nên nghịch với vật mà không khiếp. Kẻ ḥa với rượu mà đă được thế, huống chi kẻ đă ḥa được với Đạo.

Nhượng Tống b́nh đoạn Trụy Xa như sau:

Người say rượu có thể ngă xe mà không cảm thấy đau, v́ trong trí họ không có ư niệm đau đớn [...], v́ ḷng họ trấn át nổi nhưng ư niệm đau đớn.

Trở lại với chén rượu trong tay trên bức ảnh của Nguyễn Khuyến, người đọc thơ Nguyễn Khuyến tự hỏi phải chăng, giống như Đào Tiềm, Tam Nguyên Công mượn rượu để xua đuổi trấn áp những ư nghỉ ư nghĩ buồn vui quấy quả cụ, trên đường t́m về với Đạo?




[56] Paul Jacob, Tao Yuan-ming. Oeuvres completes, sách đă dẫn, p. 75.
[57] Đỗ Bằng Đoàn Đỗ Trọng Huề, Việt Nam Ca Trù Biên Khăo, NXB thành phố Hô Chí Minh, 1944, tr.394-404.
[58] Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Nhà sách Khai Trí, Sài G̣n 1965.
[59] Thanh Lê Tử, trong Cổ Học Tinh Hoa, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, NXB Trẻ, tái bàn năm 1991, tr. 86.
[60] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tốn, sách đă dẫn, tr. 274-275.
[61] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 317-318.
[62] Chưa t́m được bản chữ nho
[63] Trang Tử Nam Ha Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Sách đă dẫn, tr. 270-271.
[64] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 170-171.
[65] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 463-465.
[66] Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, sách đă dẫn, tr.311-312.
[67] Donald Holzman,  Les Sept Sages de la Forêt des Bambous et La Société de leur Temps., T’oung Pao,vol.44, 1956, pp 317-346.
[68] Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Du Toàn tập, tập 2, Văn Học 1996, tr.493-494.
[69] Trang Tử Nam Hoa Kinh, Bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 292-293