Quay về với ruộng vườn là t́m nẻo ḥa ḿnh với thiên nhiên. Nh́n theo tiến tŕnh của con người theotiến tŕnh Nguyễn Khuyến - Gabriel Marcel đó là thẳng tiến vào lẽ diệu huyền của cuộc sống. Phải chăng đó cũng chính là ư nghĩa của việc Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến từ quan về với ruộng vườn thuận theo con tạo vui cùng cảnh thiên nhiên?
Nguyễn khuyến ngâm vịnh cảnh thiên nhiên trong ḍng thơ ghi lại những thắng cảnh của đất nước trong nhiều chuyến ông vào kinh ra bắc. Từ ngày từ quan về Vườn Bùi, thắng cảnh ông ngâm vịnh, cả bằng thơ Việt Âm và thơ nôm, là những thắng cảnh nơi quê nhà. Đặc biệt là Núi An Lăo ở thôn An Lăo, xă Quế Sơn, huyện B́nh Lục, tỉnh Hà Nam. Núi này c̣n gọi là Quế Sơn, Nguyễn Khuyến lấy làm biệt hiệu cho ḿnh. Ngoài ra Nguyễn Khuyến c̣n ngâm vịnh núi Long Đội, tên nôm là Núi Đọi, ở xă Long Đội, huyện Duy Tiên, Hà Nam, trên núi có ngôi chùa Đọi. H́nh ảnh ngôi chùa này sâu đậm trong trí nhớ Nguyễn Khuyến khiến ông viết thành hai bài thơ Nôm và hai bài thơ Việt Âm, một trong hai bài đó như sau:
Nguyễn Khuyến tự dịch là:
Như ghi rơ trong đầu đề bài thơ, Nguyễn Khuyến không đối cảnh sinh t́nh mà dùng nhưng h́nh ảnh ghi trong trí nhó mà viết ra hai bài thơ củng một hứng thơ bằng hai ngôn ngữ. Nh́n trên mặt dịch thơ, bài thơ dịch như thể không phải là thơ dịch. Tỷ như câu thứ hai trong bài thơ Việt Âm có nghĩa là:
Nhớ lại chuyền đi chơi trước đây, ḷng cũng bùi ngùi
Câu tương ứng trong bài thơ nôm nói rơ tại sao tác giả bùi ngùi:
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay
Chữ mới ở đây là chữ làng chơi, đó là chữ tác giả tự xưng hay là bằng chứng tác giả nhớ các bạn cùng đi chơi trước kia, nay đă mấy đi một vài ngựi khiến tác giả bùi ngùi tấc dạ? Bốn câu kế tiếp, cả trong bài Việt Âm và bài nôm cùng là một bức tranh thiền với ngôi chùa nhỏ trong khóm trúc, duới tầng mây chêng vênh trên vách đá. Có một điểm bất ngờ là có người khách đứng đợi thuyền trên bến nuơng dâu. H́nh ảnh nương dâu gợi cho người đợc hai chữ dâu biển trong tiếng Việt Nam là h́nh ảnh sự biến đổi lớn và trong không khí thiền của bài thơ dường như tiêu biểu cho ư niệm vô thường của nhà Phật. H́nh ảnh người khách đợi thuyền bên bến băi dâu này c̣n gợi cho người con Phật đọc thơ ḍng mật chú trong Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh:
theo Ḥa Thượng Tuệ Sỹ 51có nghĩa là :
Đơn giản hơn, h́nh ảnh người đợi đ̣ trong nương dâu này là h́nh ảnh con người trong cơi vô thương chờ bè pháp sang bên bờ bên kia bến mê.
Hai câu kết bài thơ Việt Âm cùng một ư thơ với bài thơ nôm :
Chuông xưa vẳng tiếng người không biết
cùng mang đến cho người đọc bức tranh trâu thứ mười một, ngoài mười bức tranh trâu thường gặp trong nhiều chùa. Mười bức tranh trâu cổ điển là mười bức tranh mô tả mười giai đoạn công tŕnh của người tu tập đi t́m cái tính của ḿnh bởi để đạt được trạng thái kiến tính thành Phật. Trong mười giai đọan đó người tu tập phải kiên tŕ vất vả đi t́m con trâu, tượng trưng cho cái tính của ḿnh. Trong hai câu kết bài thơ, dường như ông lăo quê, không biết tới tiếng chuông, thả trâu bên sườn non, nằm ngủ dưới gốc cây. Phải chăng h́nh ảnh ông lăo quê này chính là h́nh ảnh Nguyễn Khuyến tự họa?
Tuổi mỗi năm một cao, bè bạn mỗi ngày một thưa vắng, Nguyễn Khuyến bớt đi thăm viếng danh lam thắng cảnh mà ở nhà ngâm vịnh thiên nhiên qua biến đổi bốn mùa làm vui.
Trong những tuyển tập thơ của An Lăo Tam Nguyên Công, người đọc đếm được khoảng trong ngoài hai mười bài thơ viết về mùa xuân , hai chục bài viết về mùa hè, mươi bài về mủa thu, và năm sáu bài về mùa đông
Điển h́nh nhánh thơ mùa xuân của Nguyễn Khuyến là ba bái cùng một đề tài như sau :
dịch là
Ba bài Ngày Xuân trên đây có thể coi là bài tiêu biểu cho nếp sinh hoạt hàng ngày của Nguyễn Khuyến.
Trong bài thứ nhất, Nguyễn Khuyến tỉnh giấc khi trời chưa sáng, và người thơ cảm thấy buồn buồn. Ông nghĩ tới gị thủy tiên mới gọt chua ra hoa, hạt quất gieo chưa trổ mầm. Rồi trời củng sáng ra, ông nh́n thấy ngọn tre chĩu sương và thoáng nghe tiếng hạc bay ngang trời. Nhưng trời lạnh khiến ông lười tung chăn mặc áo, và như c̣n buồn nỗi thưa vắng bè bạn tới thăm. Chuỗi h́nh ảnh trên đây cho thấy tác giả nôn nóng sống một ngày mới để buồn v́ trời chậm sáng, thủy tiên chậm ra hoa, hạt quất gieo chẳng nẩy mầm. Nhưng điều mong uớc nho nhỏ đó, trong tầm với của một người tuổi đă cao, là những hy vọng Nguyễn Khuyến tự tạo cho ḿnh, mong được sớm thực hiện, và cũng là mối khắc khoải chở đợi trong cảnh hưu quan. Vị hưu quan c̣n cái sung sướng nằm lười trên giường không phải chịu cảnh chạy theo giờ giấc như thủa c̣n tại chức. Bù lại, phải chăng, cổng mở rộng mà vắng khách viếng thăm là cái giá người thơ phải trả cho nhưng giây phút năm lười trong chăn ấm này?
Sang bài thứ hai, trong hai câu mở đầu là cảnh lúc trời đă sáng rơ, Nguyễn Khuyến đă mặc áo đóng khăn ra ngồi trên ghế mây nh́n nhọn tre chĩu sương mai, nghe tiếng trẻ con hàng xóm học sách Tam Tự Kinh, nghe vẳng tiếng chim kêu. Nguyễn Khuyến lại thoát tục lảm thơ, người thơ nhấp rượu để thêm hùng tâm nh́n đời. Tuy nhiên, bù lại cái buồn thiếu vắng bạn, Nguyễn Khuyến liên tưởng tới cây đàn không dây của Đào Tiềm. Qua ư thơ, này phải chăng là Nguyễn Khuyến đă nhớ tới truyện Đào Tiềm chỉ muốn thưỏng thức tiếng nhạc mà không cần nghe tiếng giây tơ rung, thời niềm vui với bạn phải chăng đâu cần phải gặp bạn?
Hai câu mở đầu bài thứ ba Nguyễn Khuyến ghi lại cảnh mưa xuân, khiến tác giả như không thấy xuân về. Đó là tâm cảnh người thơ lúc đó, nhưng con tạo không v́ người thơ mà ngưng tiến hóa. Ao sau cá vẫn lội, trời cao chim vẫn bay. Trong tâm người thơ, hạc vàng vẫn bỏ cơi trần này bay đi như câu mở đầu bài Hoàng Hạc Lâu của thi sĩ Thôi Hiệu đời Đường:
昔 人 已 乘 黃 鶴 去
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
kể lại tích người tiên Phí văn Phi một thủa cỡi hạc về thăm lầu Hoàng Hạc ngay nay chẳng ai biết ở nơi đâu. H́nh ảnh hạc vàng bỏ cơi trần tượng trưng cho cái cảnh ngựi tiên về cơi tiên. H́nh ảnh chim biển trắng giữa biển khơi trong câu tiếp theo là h́nh ảnh tiêu biểu cho cảnh phóng khoáng không giàng buộc. Phải chăng, đặt hạc vàng đối với âu trắng, rồi tiếp tới hai câu kết, mối hùng tâm sau tuần rượu, Nguyễn Khuyến muốn xỏ giép leo núi cao khiến người đọc nhớ tới chuỗi h́nh ảnh đoạn cuối bài Quy Khứ Lai Hề Từ của Đào Tiềm:
富 貴 非 吾 願, 帝 鄉 不 可 期
Phú qúy phi ngô nguyện, đế hương bất khả kỳ
懷 良 辰 以 孤 往, 或 植 扙 而 耘 耔
Hoài lương thời dĩ cô văng, hoặc thực trượng hoặc nhi vân tỉ
登 東 皋 以 舒 嘯, 臨 清 流 而 賦 詩
Đăng đông cao dĩ thư khiếu, lâm thanh lưu nhi phú thi
dịch là
Lợi danh chẳng đợi chẳng mong
Cung tiên xa thẳm cũng không có màng
Ước mong được buổi rảnh dang
Nghỉ tay vun xới chiều vàng dạo chơi
Lên cao thở mạnh một hơi
Bên khe thi tứ đầy vơi dạt dào
Sang mùa hè, tiết trời thay đổi, cảnh thơ của Nguyễn Khuyến cũng đổi thay như ghi trong bài:
dịch là
Cảnh thơ là một ngày đầu mùa hè. Người thơ vẫn tiếp tục ngâm thơ nhấp rượu, nhưng cổng ngoài có người ra vào.: có bà hàng vải, có thôn ông bán cá. Tiếng trĩ kêu làm Nguyễn Khuyến tỉnh giấc. Nhưng duờng như ông chợt quên một câu sách cữ vội t́m sách kiểm lại trí nhớ. Phải chăng v́ vậy mà Nguyễn Khuyến chợt thấy ḿnh già, cảnh già dưới mái dạ tường phên, mà tự hỏi rồi ra đường đời sẽ ra sao. Đằng khác câu:
nhắc người đọc câu:
nghỉa là:
trong bài Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ của Đào Tiềm
Ư nghĩ buồn buồn này chỉ thoáng qua, Nguyễn Khuyến ghi lại một cảnh chiều hè khác lạc quan hơn:
dịch là
Cũng như trong bài Quan Hoạch, Xem Gặt, ngày mùa hạ mọi người bận rộn trai lo đậy thóc tránh mưa gái lo khép của tránh gió cho tằm, người làm đồng mặt trời lặn chưa muốn về, riêng tác giả ung dung nhàn nhă hong tóc trước gió mát. Đó là điểm khác biệt giữa cảnh hưu quan của Nguyễn Khuyến và cảnh Đào Tiềm từ quan về sinh sống bằng nghề nông. Tuy nhiên giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến có một điểm chung bất biến. Đó là cả hai nhà thơ cùng là những ông say như Nguyễn Khuyến ghi trong bài:
Bài thơ Việt Âm tương ứng là bài:
Hai câu mở đầu bài thơ cho thấy dường như Nguyễn Khuyến muốn bàn tới một truyện mà hàng ngày ông thường bận tâm suy nghĩ. Mối suy nghĩ đó bực bội như cái oi bức mùa hè. Chuỗi h́nh ảnh trong câu ba và bốn trong hai bài Vịnh Mùa Hè của Nguyễn Khuyến rất khác thường. Câu:
làm người đọc liên tưởng tới câu chót bài ca dao Lính Thù Đời Xưa 52:, tiêu biểu cho giấc mơ của người lính thú
H́nh ảnh con bướm trong câu tiếp:
làm người đọc nhớ tới con bướm trong giấc mơ của Trang Châu, trong sách Nam Hoa Kinh 53:
Xưa Trang Châu chiêm bao thấy ḿnh là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không c̣n biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, th́ lại thấy ḿnh là Châu. Không bết Châu chiêm bao làm bướm, hay bướm chiêm bao là Châu.
Cùng là những giấc mơ, nhưng giấc mơ cũa người lính thú là giấc mơ thoát khỏi ṿng trói buộc của một người đang sống trong ṿng trói buộc, giấm mơ của Trang Châu là giấc mơ của một chân nhân đă thoát ṿng cương tỏa.
Chữ Đào trong câu thứ năm chỉ Đào Tiềm, một nhà thơ Trung quốc từng hai lần từ qua vê vui sống với vườn ruộng, mà Nguyễn Khuyến lấy làm mẫu mực. Chữ Liễu trong câu thứ sáu trong bài Vịnh Mùa Hè chỉ Liễu Nguyên Tông, tức Tử Hậu, tên gọi trong bài thơ Việt Âm, người đời nhà Đường. Họ Liễu bị vua Đường bắt tội, nên phải về quê nương náu. Ông tự cho ḿnh là ngu nên mới bị vua bắt tội, nên đặt tên con suối quanh nhà ông là Ngu Khê, và khu đất nhà ông là Ngu Khâu.
Hai câu kết, cho thấy tác giả dường như muốn viết ra điều ḿnh suy nghĩ, nhưng trời nổi gió đông,khiến cái oi bức cùng nỗi bận tâm tan biến.
Xét toàn thể hai bài thơ cùng một ư thơ này cho thấy phải chăng Nguyễn Khuyến bận tâm v́ câu truyện chân/giả trong việc từ quan về vườn? Nét duyên dáng của bài thơ là tác giả cho thấy cái day dứt của câu truyện làm tác giả bận tâm, tan biến cùng cái oi bức của ngày hè khi có ngọn gió đông chợt tới.
Mùa thu là mùa ngâm vịnh của thi nhân. Trong ḍng thơ Việt Âm Nguyễn Khuyến để lại khoảng mười lăm bài thơ viết về mùa thu. Khi c̣n là một thư sinh, thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến mang nhiều h́nh ảnh thường gặp trong thơ Trung Quốc, với cây ngô đồng với tiếng chày đập vải với tiếng thu của Âu Dương Tu, một nhà thơ đời Tống. Rồi tới khi luống tuổi ,thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến điển h́nh qua những cảm nghĩ nhân ngày lễ Trùng Dương, nhằm ngày 9 tháng 9 âm lịch, hôi này người xưa thường họp bạn đi chơi núi.. Năm kỷ sửu 1889, Nguyễn Khuyến làm hai bài thơ vào dịp lễ Trung Dương như sau:
dịch là
Đặc điểm của cả hai bài thơ hội trùng dương trên đây là điểm tác giả dùng cảnh ḿnh đang sống làm cảnh thơ. Trong bài thứ nhất đó là mực nước ao lên cao, nhưng khóm hoa vàng, có lẽ là hoa cúc, năm ngoái nở rộ năm nay chưa ra hoa. Mặt trời lúc đó đă xuóng thấp dưới ngọn cây liễu, Sương chiều quên trên ngọn tre. Riêng tác giả không đi trèo núi nằm ngủ dưới cửa sổ bên hũ rưọu. Trong bài thứ hai, tác giả ngồi một ḿnh nhàn tản suy nghĩ. Hoa chậm nở v́ sợ sớm nở th́ sớm tàn, Lăo say ham rượu nên phải uống dè hóa thành người kiêng rượu.Rồi ghi lại cảnh ngơ ngập nước mưa đêm bửa qua thời bữa nay trăng lại sáng. Nhưng trong cơn say mắt lại kém tác giả chỉ nh́n thất cảnh vật mờa aỏ như thật như hư như sương như khói. Phải chăng đó là bằng chứng để thấy Nguyễn Khuyến làm thơ chữ nho, nhưng không dùng thi liệu Trung Quốc mà trái lại đưa h́nh ảnh đồng quê Việt Nam vào thơ Việt Âm?
Nhánh thơ nôm ca vịnh mùa Thu của Nguyễn Khuyến có ba bài nổi tiếng. Bài thư nhát là bài Thu Điếu, hau Câu cá Mùa Thu, mà cảo luận này sẽ bàn tới trong một đoạn sau. Hai bài kia lần lượt là
Rồi tới bài:
Hai bài thơ ngâm vịnh mùa thu của Nguyễn Khuyến trên đây dường như nhắc tới bài ngũ ngôn dưới đây của Đào Tiềm:
dịch là
Bài ngũ ngôn trên đây của Đào Tiềm là bài thơ mà giới Trung Hoa học chọn làm tiêu biểu cho thi ca Trung quốc. Bài thơ này đă đi vào văn học Việt Nam trong bài ngũ ngôn dưới đây cũa Nguyễn Trăi:
dịch là
Trước hết là đầu đề Thu Ẩm của bài thứ nhất. Hai chữ này gợi cho người đọc bài Ẩm Tửu dệ ngũ thủ bởi lể bởi lẽ trong đp̣i đề bài này có chữ Ẩm và h́nh ảnh chủ chốt trong bài là khóm cúc dưới chân rào tượng trưng cho mùa thu Trung Quốc. Trong bài Thu Vịnh, hai câu kết dường như gán liền với hai câu kết trong thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Trăi. Cả hai bài thơ của Nguyễn Khuyến đều là đề tài cho giói nghiên cứu.
Bàn về bài Thu Ẩm, Xuân Diệu 54 viết:
Bài thơ này, theo tôi, không phải chỉ nói trong một thời điểm, là trong một đêm trăng hạn định, mà là tổng hợp nhiều thời điểm, khái niệm, khái quát về cảnh thu. Nếu chỉ nói nói cảnh một đêm thu có trăng, th́ bài thơ là tù túng và thiếu lô-gích.
Tiếp đó Xuân Diệu dài ḍng biện luận là câu ngơ tối đêm sâu mâu thuẫn với câu làn áo long lanh ánh trăng loe. Đưa cảnh lưng dậu phát phơ mầu khói nhạt vào một đêm có trăng th́ không hợp, không điển h́nh ǵ cả ... Mặt khác, Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt chắc chắn không phải là trời một đêm trăng, mà phải là một buổi chiều...
Có điều là Xuân Diệu không có cặp mắt đau của Nguyễn Khuyến, cặp mắt nh́n một cảnh vật mà thấy có khoảng tỏ có khoảng mờ. Khoảng mờ nhiều khi nẩy đom đóm, khoảng sáng đôi lúc chói loé, (cái nh́n như cái nh́n của người viết những gịng này khi chưa mổ mắt thong manh). Cảnh trong bài thơ là cảnh chung quanh mà Nguyễn Khuyến thực t́nh nh́n thấy như một bức tranh siêu thực. Đó là điểm mà Xuân Diệu với ư muốn hiểu thơ bằng lô-gích không tài nào hiểu được. Người đọc thơ chợt nhớ tới truyện xưa hoàng khuyển ngọa hoa tâm mà thương hại cho kẻ múa bút sửa thơ ngựi.
Ngoại trừ bốn câu đầu bài Ẩm Tử đệ ngũ thủ, xét trên h́nh ảnh, người đọc thơ thấy như có sự song song với bài Du Sơn Tự của Nguyễn Trăi và bài Thu Ẩm của Nguyễn Khuyến. cảnh thơ của bài Ẩm Tửu đệ ngũ thủ, trải rộng tử khóm cúc chân rào đông, chuyền sang rặng núi trời nam rồi tới vách đá mây giăng, rồi hướng lên cao lưng trời thấy cánh chim chiều. Trong không gian bao la đó, thực sự nẩy ra một ư lạ. Đào Tiềm t́m chữ nói ra th́ t́m không thấy lời. Điểm then chốt là sụ kiện không có lời để giăi ư của tác giả. Cái không này, biết đâu là Đào Tiềm đă chẳng huyền đồng, nhưng v́ câu thứ hai của bộ Đạo Đức Kinh:
Danh khả danh vô thường danh
mà khiến Đào Tiềm không có lời giăi tỏ. Bởi cái ư nẩy ra trong cảnh bao la trức mắt Đào Tiềm, mà không có chữ giăi bày.
Rồi sang bài Du Sơn Tư của Nguyễn Trăi. Người thơ buộc thuyền gác chèo vội vă lên chùa lậy Phật vào một buổi chiều. Người thơ lên chùa không thấy tượng Phật, không thấy tiếng chuông tiếng mơ, mà chỉ thấy mây từ xa về làm lạnh giương thiền, thấy hoa rụng xuống suối đưa hương, Chỉ nghe thấy tiếng vượn chỉ nh́n thấy bóng trúc trên đồi hoang, để rồi trong tâm nhà thơ nẩy ra một ư lạ, mà Nguyễn Trăi t́m lời nói ra liền quên lời. Sự t́m lời rồi quên lời phải chăng là Nguyễn Trăi đă kiếm dược ra lời, nhưng bởi chủ trương:
bất lập văn tự
của thiền giả mà thành Nguyễn Trăi quên liền.
Trong bài Thu Vịnh, Nguyễn Khuyến ngẩng nh́n trời cao xanh ngắt, rổi hạ tầm mắt xuống cần trúc gió đưa, xuống mặt nước khói phủ rồi nh́n trong nhà thấy bóng trăng lọt qua song, ngó ra vườn thầy khóm cúc trồng từ năm trước và văng vẳng tầng không là tiếng ngỗng bay ngang trời. Nhưng h́nh ảnh đó gợi hứng cho Nguyễn Khuyến, nhưng khi cất bút bỗng thấy thẹn với ông Đào, tức Đào Tiềm.
V́ sao Nguyễn Khuyến thẹn với Đào Tiềm, Xuân Diệu tiếp tục nói thay Nguyễn Khuyến về nỗi thẹn này 55:
Sao ta c̣n bị buộc chân ở đây, sa lầy trong ṿng danh lợi ô bẩn phi nghĩa này? Sao ta chưa trả mũ từ quan qui khứ như Đào Uyên Minh cho nhẹ nhơm trong ḷng?
Giới phê b́nh thơ trách Xuân Diệu là Xuân Diệu viết như trên mà không có bằng cớ là Nguyễn Khuyến viết bài Thu Vịnh trên đây khi chưa từ quan về Vườn Bùi.
Đằng khác, người đọc thơ thấy là Nguyễn Khuyến vừa toan cất bút đă vội thẹn với ông Đào phải chăng v́ Nguyễn Khuyến tự xét là ḿnh, cũng như Đào Tiềm, chưa vào được cơi huyền đồng, v́ bởi câu mở đầu sách Đạo Đức Kinh:
Đạo khả đạo phi thường Đạo
khiến ông ngưng bút.
Sang mùa Đông, lạnh lẽo, đêm dài ngày ngắn, Nguyễn Khuyến cũng để lại cho đời sau một số bài thơ mang những tia nắng mang niềm ấm áp.
Tiêu biểu là ba bài sau đây, và bắt đầu là bài:
dịch là
Đông chí, nhằm ngày 22 hoặc 23 tháng muời hai dương lịch, đó là ngày ngắn nhất trong năm nhưng cũng là ngày từ đó mỗi ngày một dài ra. Người làm âm lịch th́ coi ngày đông chí là ngày khí âm thịnh nhất và cũng là ngày khí dương bắt đầu hồi. Trong thi ca, nhiều nhà thơ khởi hhúng trong ngày đông chí, kèm theo chút hùng khí như thấy trong bài trên đây của Nguyễn Khuyến. Thời tiết dẫu vẫn c̣n âm u, nhưng chim muông cây cỏ dường như bắt đầu một năm mới. Riêng túy ông, vẫn cần có rượu giải sầu, vẩn c̣n cầm lồng ấp ban đêm, nhưng đă muốn gắng dậy đem xem mấy làn thủy tiên.
Sau tiết đông chí chừng mười bẩy mười tám ngày th́ đến tiết tiểu hàn, một trong 24 tiết theo năm âm lịch, nhằm ngày 6 hoặc 7 tháng giêng dương lịch. Theo kinh nghiệm th́ tại đồng bằng miền Bắc Việt Nam, đó là những ngày rét nhất trong năm. Vào tiết này, Nguyễn Khuyến để lại bài:
dịch là
Nguyễn Khuyến ghi cái rét nhất trong năm bằng cảm xúc chính trên thân ḿnh người tho, tai ù xưuơng buốt khiến ông nghi ngờ cảm giác của ḿnh. Đồng thời cái rét khiến người ra ngơ hay ra đồng dầu nón áo đầy đủ vẫn run rẩy quên cả chào hỏi người quen. Nhưng trước cái rét ác liệt ất, hoa mai vẫn nở, én vẫn về làm tổ, và tác giả vẫn nhấp rượu, so ḿnh với người đời xxưa ông thấy cũng chẳng khác ai.
Nguyễn Khuyến cũng như mọi người thơ thường khởi hứng nhân đêm ba mươi tết, quen gọi là đêm:
dịch là
Đêm ba mươi tết, người ḿnh có tục cúng giao thưà, và ǵới văn thơ làm thơ khai bút. Ba mươi tết năm đó, Nguyễn Khuyến tăng một tuổi thành ông lăo năm mưoi lăm. Sờ lên đầu mái tóc bơ phờ bạc trắng, nhưng điều ông mong ước là sang năm mới bệnh mắt của ông thuyên giảm. Điều đáng mừng là kể từ ngày mai mùa xuân lại về.
Nhưng dân nghèo chỉ có một đên ba mươi tết mới quên lo. Riên ông may mắn là ông c̣n rượu uốn đủ c̣n hứng thơ mạnh nối liền được hai năm.
Nh́n chung những bài thơ Nguyễn Khuyến ghi lại cảnh ông vui sống với thiên nhiên, trong bốn mùa, mùa nào có sắc thái riêng mùa đó, mùa nào cũng là thi cảnh cho ông. Riêng ông luôn luôn tỏ ra vui sống với thiên nhiên, tự tạo cho ông những mong ước không có ǵ cao xa, nhưng đủ cho ông chờ đợi thích thú khi cái ông chờ đợi hàng ngày tới với ông. Cái chờ đợi đó chỉ là một bông thủy tiên, một chậu quất, một cơn gió mát, một khung trời xanh, một bóng trăng xuông, một bông mai non hay một cánh én. Ông không thấy sợ cái già đang tới, điều ông ước mong là bệnh mắt của ông thuyên giảm. Phải chăng đó chính là bí quyết để một hưu quan vui sống dưỡng già nơi quê nhà?
Nhưng con tạo đa doan, không phải năm nào cũng được mùa, mưa thuận gió ḥa. Có những năm tốt, ắt có những năm xấu. Quế Sơn Thi Tâm của Tam Nguyên Công Yên Đổ có nhiều bài ghi lại cảnh những năm mưa dầu nắng lửa, hạn hán lụt lội. Điển h́nh là ba bài thơ nôm ghi lại cảnh nước lụt :
Quai Mễ tức đê làng Mễ Tràng thuộc huyện Thanh Liêm, nggan nước sông Đáy. Namm1890, đê Mê Tràng vỡ, nước sông Đáy tràn vào đồng bằng Hà Nam phá hoại mùa mang gây nạn đói tại vùng B́nh Lục, quê hương của Nguyễn Khuyến. Câu thứ ba và thứ tư tả lại cảnh đói kém của người nông dân, v́ nạn lut, nhưng vẫn không được miễn thuế. Tuy nhiên, trong cảnh ngập lụt đó, Nguyễn Khuyến dường như vẫn c̣n thấy cái cảnh thơ trên nhưng chiếc thuyển duới bóng trăng. Cái giá củacái đẹp đó là nạn cát bồi sau khi nước rút.
Tiếp theo là bài:
Hai câu mở đầu bài thơ nhắc tới hai vụ lụt lớn v́ vỡ đê Nhị Hà. Lần thứ nhất nhằm năm Qúi Tị 1893, lần thứ hai nhằn năm Ất Tị (1905) khiến người dân vùng đồng bằng chết đói khá nhiều. Hai câu tiếp có lẽ không có ai tả cảnh nước lụt một cách thực tế như vậy: thuyền bè là cách di chuyển duy nhất khi lụt lội; nưóc ngập vào trong nhà, thuyền bợi ngay bên nhà in bóng lê vách; nước vỗ lên tường tiếng sóng nghe long bong. Di chuyển trong nhà cũng phải bắc bậc đốn chủ; bếp núc phải đóng bè đặt vua bếp thổi nấu. Nguyễn Khuyến chơi chữ gọi việc bắc bậc cho chúa nhà làm bè cho vua bếp là truyện sửa sang cho yên ổn việc nước. Phải chăng đó là cái cựi của Nguyễn Khuyến, cái cựi khuây khỏa trong nạn lụt lội?
Bài thứ ba là bài :
Giữa kỳ nước lụt, Nguyễn Khuyến chèo thuyền đi chơi, cảnh thơ là cảnh trên trời dưới nước, con thuyền lênh đênh với chim trên không cá lượn dưới nước, bèo trôi lúa ch́m. Nhưng Nguyễn Khuyến thuận theo nạn trời không phàn nàn.
Nh́n sang ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyến viết bốn bài Hung Niên, ghi lại cảnh mất mùa đói khổ. Tiêu biểu là bài :
dịch là
Nguyễn Khuyến không ghi rơ năm mất mùa này nhằm năm nào, nhưng rơ ràng là tác giả gặp khó khăn trong nạn mất múa này. Người thơ dùng hai điển Trung Quốc trong bài thơ. Một là điển dùng trong câu thứ năm. Điển này lấy từ lịch sử Trung quốc. Nhà Nguyên khi chiếm đưọc Giang Nam, chia người vùng đó thành mười hạng. Nho giới sắp vào hạng thứ chín, hơn giới ăn mày sắp hạng thứ mười, một bậc.
Điển thứ hai là bài Khất Thực của Đào Tiềm như sau:
dịch là
Dùng hai điển Trung Quốc trên đây, Nguyễn Khuyến đă mô tả rỏ cảnh khó khăn của ông trong nạn đói. Nhà nho nước nhà, trước nạn đói mất thế đứng đầu tứ dân và đúng như câu tục ngữ :
Nhưng chưa đến nỗi phải sắp hàng thứ chín chỉ trên ăn mày đ̣i nhà Nguyên Trung Quốc. Đồng thời người đọc thấy dường như Nguyễn Khuyến tự nhủ rằng ông chưa gặp cảnh khó khăn đến như Đào Tiềm, tuy đă bị đói đến phẳi ăn cả rễ lê, nhưng da dẻ vẫn chưa nhăn nheo, chưa đến phải bỏ quê đi xin ăn như Đào Tiềm.
Nếu đúng vậy, phải chăng đó là một nếp sống của Nguyễn Khuyến hy vọng khi gặp cảnh cùng quẫn khó khăn, theo đúng câu
của nếp sống cổ truyền của người việt Nam.
C̣n truyện Đào Tiềm đi xin ăn, gặp được người biết tài thi văn của Đào Tiềm mà cung phụng cơm rượu truyện tṛ suốt buổi, phải chăng cũng là một tia hy vọng cho Nguyễn Khuyến trong cảnh mất mùa đói kém? Tia hy vọng đẹp nhưng mong manh như cánh hoa mai nở buổi sáng ngày tiết tiểu hàn giá lạnh.
[51]
Thiền Luận Tập Hạ, Bản dịch của
Tuệ Sỹ, Ấn quán Thăng Long, Sai G̣n 1973, tr. 337.
[52] Rectorat de l’Université Indochine, Quốc Văn Giáo Khoa thư
lớp Sơ Đẳng, tr.34
[53] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn
Duy Cần, sách đă dẫn, tr. 242.
[54] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Văn
Học, Hà Nội 1979, tr. 48.
[55] Xuân Diệu trong Thơ Văn Nguyễn Khuyến, sách
đă dẫn, tr.50.