IV
Về Vườn

Như đă bàn trong đoạn viết về bài Di Chúc, Nguyễn Khuyến về hưu năm 50 tuổi và  ông dặn bảo con ghi lên bia mộ ông ḍng chữ :

quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu

Điều này làm người đọc có thể hiểu là việc cáo quan của ông là việc khiến ông hài ḷng nhất trong suốt cuộc đời.  Hiểu như vậy, trong những trang kế tiếp, cảo luận này theo rơi truyện ông cáo quan trong thơ của ông.

Điểm đáng chú ư là việc ở hay về là một việc bất cứ nhà nho nào đă từng đem sở học ra pḥ vua giúp nước đều phải đương đầu khi cao tuổi. Thế mà trong thơ, kề từ ngày Nguyễn Khuyến trở lại Vườn Bùi người đọc thường gặp những h́nh ảnh tiêu biểu của Đào Tiềm. Ai cũng biết là Đào Tiềm, qua bài Quy Khứ Lai Hề Từ, đă là nguồn thi hứng cho hầu hết những nhà thơ đời đời sau ông, trong ḍng thơ về truyện ở hay về trên toàn cơi Đông Á. H́nh ảnh ba luống cúc, năm cây liễu rồi ư muốn nghỉ việc quan v́ ra làm quan không v́ năm thưng gạo đă là những h́nh ảnh cổ điển hay đúng hơn, không it th́ nhiều đă quen thuộc với người đọc thơ Đông Á. Ngoài những h́nh ảnh kể trên, Đào Tiềm c̣n được xưng tụng v́ nết ưa rượu. Thoại kể rằng ông ra làm quan, công điền nhà vua cấp cho ông, ông bắt cấy nếp đễ lấy gạo nấu rượu. Bà Đào Tiềm phải van  nài măi ông  mới cho phép cấy một it lúa tẻ đề cho gia đ́nh ông đủ bát ăn.

Ngoài đức uống rượu, Đào Tiềm c̣n nổi danh v́ góp tiếng cười vào Ba Tiếng Cười Suối Hổ, Tam Tiếu Hổ Khê. H́nh ảnh Đào Tiềm bên Suối Hổ, là h́nh ảnh tiêu biểu cho Đào Tiềm trong những năm tháng cuối đời ông. Trong tiểu sử Đào Tiềm, A. R Davis 25 trích sách Lư Sơn Tạp Kư của Mao Đức Kỳ cho biết là từ khi từ quan, Đào Tiềm về ở ẩn tại đất Lật Lư , thường lui tới Chùa Đông Lâm, lúc đó nhà sư Tuệ Viễn chủ tŕ. V́ mến Đào Tiềm, nhà sư Tuệ Viễn phá lệ, cho người đi mua rượu để tiếp đón Đào Tiềm. Tuệ Viễn là người đă sáng lập ra phái Tịnh Thổ và Bạch Liên Hội vào năm 402 26. Hội Bạch Liên này c̣n tồn tại tới nay. Trích sách Lư Sơn Kư, A. R. David cho hay thêm là bên chùa Đông lâm có một con suối nhỏ, tại đó có nhiều hổ, mỗi khi  nhà sư Tuệ Viễn bước qua suối th́ đàn cọp gầm lên vang dội. Do dó ḍng suối mang tên là Hổ Khê, hay Suối Hổ. Một hôm nhà sư Tuệ Viễn tiễn Đào Uyên Minh và nhà nho đạt đạo Lục Tu Tỉnh, vô t́nh bước qua ḍng suối, ba người bàn bạc cười nói át cả tiếng hổ. H́nh ảnh ba người cười nói này gợi hứng cho  họa sư Thạch Khác, thế kỷ thứ X, vẽ thành bức Tam Tiếu Hổ Khê, sau đó Tô Đông Pha, đời Tống, có viết một bài tán bức tranh này. Trước đó, đời Đường,  Lư Bạch có bài Tứ Tuyệt đầu đề là Biệt Đông Lâm Tự Tăng cũng lấy hứng từ truyện kể trên. Ngày nay, bức ảnh và truyền thuyết về Tam Tiếu Hổ Khê là tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa tam giáo, Nho Lăo Phật. Riêng đối với Đào Tiềm, sau khi từ quan về Lật Lư vui cảnh đồng ruộng, phải chăng Đào Tiềm cũng đổi hướng cuộc sống, quay về cơi diệu huyền của Lăo Giáo vào khúc cuối đời?

Trở lại với thơ Nguyễn Khuyến, người đọc thấy nết hay rượu cũng là một nét đặc thù của người thơ. Hơn nữa, hơi khác với Đào Tiềm là ngoài những bài thơ bàng bạc sắc Đạo, Nguyễn Khuyến c̣n có nhiều bài khác mênh mang mầu Thiền.

Trong ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyến viết nhiều bài ghi lại ỳ muốn noi gương Đào Tiềm về sống với ruộng vườn. Bài thứ nhất là bài :

Sơ Chí Đà Tẫn Phụng Tống
Đương Sự Chư Quan27 

Hồi thủ cô lăng lệ ám san
Hạc thư tạo dạ đáo tùng quan
Đương niên khởi hạp trung hưng tá
Thánh thế năng dung tích bệnh nhân
Vị tử gian nan sầu bạch phát
Tử sinh lăo tán ái thanh san
Cố viên nhẫn sự hoàng hoa ước
Nguyện phóng Uyên Minh tam kính hoàn.

dịch là

Mới Tới Cửa Biển Đà Nẵng
Kính Gửi Chư Vị Đương Sự

Ngước nh́n thành nội lệ giàn
Tuân lệnh vua tới cửa Hàn đêm qua
Trung hưng nào thiếu tài ba
Xin vua cho kẻ bệnh già về hưu
Tóc sương buồn cảnh xế chiều
Non xanh nước biếc là điều ước mơ
Hoa vàng chót lỡ hẹn ḥ
Uyên Minh ba luốn vườn xưa xin về.

Hai câu kết cho người đọc thơ thấy ước mong của Nguyễn Khuyến sóm được quay Vườn Bùi sống vui cảng điền viên như Đào Tiềm trước mười lăm thế kỷ.

Bài thứ hai là bài :

Họa Đáp Hoàng Tham Tri
Tặng Hồi Nguyên Vận28

Tái xuất hà tâm bác nhất quan
Thẩn lao nhị thụ tthập niên gian
Thiếiu Lăng ly loạn tần ngâm khổ
Bành Trạch Quy lai cửu ái nhàn
Lăo nhỡn kỷ hồi kinh kiến hải
Dư sinh thử nhật hảo hoàn san
Tế thời bằng quận quần công lực
Vô sự sài môn vĩnh tự quan.

dịch là

Họa Nguyên Vận Thơ Hoàng Tham Tri
Tặng Ngày Hồi Hưu

Lại ra lần nữa làm quan
Thân này hai bận mười năm đủ rồi
Ngâm thơ Đổ Phủ thương đời
Noi gương Bành Trạch yên vui cảnh vườn
Mắt già dâu biền ngại ngần
Sống thừa t́m chốn gửi thân yên ḷng
Giúp đời nhờ sức chư ông
Cửa sài đóng chặt nhưng mong bấy rầy.

Để có căn bản đối chiếu thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Khuyến, trên mach thơ đi từ việc buông bỏ vật thể ngoại thân, từ quan về vườn rồi chuyển dần tới lẽ huyền, người đọc thơ xin chép lại đây bài văn vần nổi danh của Đào Tiềm:

歸 去 來 兮 詞
Quy Khứ Lai Hề Từ

歸 去 來 兮 田 園 將 蕪 胡 不 歸
Quy khú lai hề điền viên hoang vu hồ bất quy
既 自 以 心 形 惕 奚 惆 悵 而 獨 悲
Kí tự dĩ tâm vi h́nh dịch hề trù trưóng nhi độc bi
悟 已 往 之 不 諫 知 來 者 之 可 追
Ngộ dĩ văng chi bất gián tri lai giả chi khả truy
實 迷 途 其 未 遠 覺 今 是 而 胙 非
Thực mê dồ ḱ vị viễn giác kim thị nhi tạc phi
舟 搖 搖 以 輕 颺 風 飄 飄 而 吹 衣
5Chu dao dao dĩ khinh dưong phong phiêu phiêu nhi xuy y
問 征 夫 以 前 路 恨 晨 光 之 熹 微
Vấn chinh phu dĩ tiền lộ hận thần quang chi hi vi
乃 瞻 衡 宇 載 欣 載 奔
Năi chiêm hành vũ tái hân tái bôn
僮 僕 歡 迎 稚 子 候 門
Đồng bộc hoan nghênh trĩ tử hậu môn
三 徑 就 荒 松 匊 猶 存
Tam kính tựu hoang tùng cúc do tồn
攜 幼 入 室 有 酒 盈 撙
10Huề ấu nhập thất hữu tửu doanh tôn
引 壺 觴 以 自 酌 眄 庭 柯 以 怡 顏
Dẫn hồ thương dĩ tự chước miện đ́nh kha dĩ di nhan
倚 南 窗 以 寄 傲 審 容 膝
Ỷ nam song dị kí ngạo thẩm dong tất chi dị an
園 日 涉 以 成 趣 門 雖 設 而 常 關 
Viên nhật thiệp dĩ thành thú môn tuy thiét nhi thương quan
策 扶 老 以 流 憩 時 矯 首 而 遐 觀
Sách phù lăo dĩ lưu khế thời kỷ thủ nhi hà quan
雲 無 心 以 出 岫 鳥 倦 飛 而 知 還
15Vân vô tâm dĩ xuất tụ điểu quện phi nhi tri hoàn
景 翳 翳 以 將 入 撫 孤 松 而 盤 桓
Cảnh ế ế dĩ tương nhập phủ cô tùng nhi bàn hoàn
歸 去 來 兮 請 息 交 以 絕 游
Quy khứ lai hề Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du
世 與 我 而 相 遺 復 駕 言 兮 焉 求
Thế dữ ngă nhi tương di phục giá ngôn hề yên cầu
悅 親 戚 之 情 話 樂 琴 書 以 消憂
Duyệt thân tích chi t́nh thoại lạc cầm thư dĩ tiêu ưu
農 人 告 余 以 春 及 將 有 事 於 西 疇
20Nông nhân cáo dư dĩ xuân cậptương hữ sư ư tây trù
或 命 巾 車 或 棹 孤 舟
Hoặc mệnh cân xa hoặc trạo cân chu
既 窈 以 尋 壑 亦 崎 嶇 而 輕 邱
Ki yểu điệu dĩ tầm hác diệc ḱ khu nhi kinh khưu
木 欣 欣 以 向 榮 泉 涓 涓 而 始 流
Mộc hân hân dĩ hướng vinh tuyền quyên quyênnhi thủy lưu
羨 萬 物 之 得 時 感 吾 生 之 行 休
Tiện vạn vật chi đắc thời cảm ngô sinh chi hành hưu
已 矣 乎
25Dĩ hĩ hồ
寓 形 宇 內 復 幾 時 曷 不 委 心 任 去 留
Ngụ h́nh vũ nội phục kỷ th́ hạt bất ủy tâm nhiệm khứ lưu
胡 為 遑 遑 欲 何 之
Hồ vi hoàng hoàng dục hà chi
富 貴 非 吾 願 帝 鄉 不 可 期
Phú quư phi ngô nguyện đế hương bất khả kỳ
懷 良 辰 以 孤 往 或 植 杖 而 耘 耔
Hoài lương thần dĩ cô văng hoặc thực trượng nhi vân ti
登 東 皋 以 舒 嘯 臨 清 流 而 賦 詩
Đang đông cao dĩ thư khiếu lâm thamh lư nhi phú thi
聊 乘 化 以 歸 盡 樂 夫 天 命 復 奚 疑
30Liêu thừa hóa dĩ qui tận lạc phù thiên mệnh phục hề nghi.

dịch là

Bài Từ Trở Về

Về đi sao chẳng về đi
Ruộng hoang đồng cỏ đợi chi chưa về
H́nh này bó buộc thân kia
Biết ai than thở vợi chia nỗi sầu
Việc qua chuộc lại được nào
Từ nay riêng chuyện mai sau lo lường
Lạc chưa xa dẫu lầm đường
Khôn nay nghĩ lại thẹn thùng dại xưa
Con đ̣ thuận gió nhẹ đưa
Áo bay lờ lững chèo khua lững lờ
Hỏi thăm đường lối bạn đ̣
Giận trời chậm sáng mới mờ rạng đông
Mái quê thanh bạch xa trông
Bước chân rảo bước sớm mong đến nhà
Tiểu đồng đón chủ chạy ra
Lũ con bên cổng mừng cha đă về
Hoang vu ba luống nảo nề
Cúc tùng mới đó bộn bề khác xưa
Bước vào tay giắt con thơ
Rượu ṿ cơm bữa đơn sơ sẵn sàng
Chuốc ḿnh nghiêng chén uống tràn
Ngắm hàng cây cảnh hân hoan mỉm cười
Song nam ngối dựa thảnh thơi
Duỗi chân đủ chỗ duyên trời khéo may
Thăm vườn thành thú ngày ngày
Cổng ngoài lấp kín then cài kín bưng
Dạo quanh gậy chống bước ngừng
Chân trời xa thẳm mịt mùng vời trông
Đầu non mây tỏa bềnh bồng
Lối về đà mỏi cánh hồng nản bay
Bóng chiều bát ngát miệt tây
Gốc tùng đứng dựa phút rầy thảnh thơi
Chuyến này về thực về rồi
Lời chào nhắn gừi cùng người tới lui
Mùi đời chẳng hợp ngán mùi
Lẽ nào gắng gượng kịp lùi hóa hay
Xóm làng thân thuộc xum vầy
Vui cùng đèn sách tháng ngày rảnh thân
Bạn điền báo dịp đầu xuân
Luỗng Tây coi lúa đồng lần phiên ta
Xe mui vượt quăng đường xa
Băng sông cậy lá thuyền hoa thăm đồng
Trong veo khe uốn khúc ṿng
Bên đường g̣ chất đống chồng vây quanh
Mênh mông cỏ mượt cây xanh
Suối tuôn róc rách dập dềnh nước trôi
Đương mùa vạn vật xanh tươi
Riêng ta đà chút già rồi ngán thay
Đường đời đà tới khúc này
C̣n bao năm tháng nữa đây mà chờ
Ở về sao măi lững lờ
C̣n chi suy nghĩ vẩn vơ nhọc ḷng
Lợi danh chẳng đợi chẳng mong
Cung tiên xa thẳm cũng không có màng
Ước mong được buổi rảnh rang
Nghỉ tay vun xới chiều vàng dạo chơi
Lên cao thở mạnh một hơi
Bên khe thi tứ đầy vơi dạt dào
H́nh hài phó mặc trời cao
Thuận theo con tạo vui nào vui hơn.

Bài từ trên đây dường là nguồn hứng của Nguyễn Khuyến sáng tác bài  hát nói

Trở Về Vườn Cũ

Vườn Bùi chốn cũ
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây
Trông ngoài sân dua nở mấy chồi cây
Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế
Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế
Ôn Công rượu nhạt chuốc chiều xuân
Ngọn gió đông ngoảnh lại lệ đầm khăn
Tính thương hải tang điền qua mấy lớp
Người chớ giận Lỗ hầu chẳng găp
Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi
Muốn về sao chẳng về đi.

Bài hát nói trên đây tương ứng với bài từ Việt Âm:

裴 園 舊 宅 歌
Bùi Viên Cựu Trạch Ca

裴 園 吾 舊 宅
Bùi viên ngô cựu trạch
四 十 年 今 日 賦 歸 來
Tứ thập niên kim nhật phú quy lai
松 松 菊 菊 梅 梅 
Tùng tùng cúc cúc mai mai
膘 然 有 丘 壑 林 泉 之 逸 趣
Phiêu nhiên hũu khâu hác lâm tuyền chi dật thú
彭 澤 素 琴 吟 舊 句
Bành Trạch tố cầm ngâm cựu cú
溫 公 樽 酒 樂 餘 春
Ôn Công tôn tửu lạc dư xuân
東 風 回 首 淚 沾 巾
Đông phong hồi thủ lệ triêm cân
渺 茫 際 滄 海 桑 田 經 幾 度
Diểu mang tế thương hải tang điền kinh kỉ độ
君 莫 嘆 魯 侯 之 不 遇
Quân mặc thán Lỗ hầu chi bất ngộ
鬅 鬆 白 髮 復 何 為
Bằng tông bạch phát phục hà vi
歸 去 來 兮 胡 不 歸
Quy khứ lai hề hồ bất quy.

Điểm đặc sắc của Bài Bùi Viên Cựu Trạch Ca là nhịp điệu hát nói của bài thơ Việt Âm. Đó cũng là điểm đặc biệt để ǵới nghiên cứu âm nhạc trong thi ca đào sâu .

Cảnh Đào Tiềm diễn tả  trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ là cảnh thơ ngày ông từ quan trở về Lật Lư. Đó cũng là cảnh thơ Nguyễn Khuyến ghi lại trong bài Trở Về Vườn Cũ ngày ông từ quan trở về Vườn Bùi. Ngày đó Đào Tiềm mới ngoài bốn mươi và Nguyễn Khuyến ngoài sáu mươi. T́nh thơ hai người có nhiều điểm tương đồng. Trong bốn câu đầu bài Quy Khứ Lai Hề Từ, Đào Tiềm tự nhủ với ḿnh là phải quên truyện mà ông tự coi là lầm đường để nh́n về tương lai. Câu truyện đó phải chăng là truyện ông đă ra làm quan? Hai câu đầu bài Trở vể Vườn Bùi Nguyễn Khuyến cho hay ông là nay ông đă già mới được  trở lại chốn cũ sau bốn mươi năm xa cách.

Trở lại bài Quy Khứ lai hề Từ, tới tám câu tiếp theo, Đào Tiềm tả một cách tường tận tử lúc thuyền gần tới bến, từ xa ông nh́n thấy mái nhà thanh bạch của ông,  tới lúc ông tới cổng được các con cùng tiểu đồng của ông ra đón, vào tới nhà cơm rượu đă sẵn sàng ông nhấp rượu nh́n hàng cây cảnh,tựa song nam cám ơn trời đă cho ông dùng đủ hàng ngày. Tiếp tới là  bốn câu mô tả cảnh ông ḥa ḿnh với tụ nhiên trong nhưng ngày đầu tiên trở lại quê xưa. Gậy cầm trong tay, tựa bên gốc thông ông thấy cánh chim chiều đang  bay về tổ, và ngẩng nh́n ra xa ông chỉ thấy mây tỏa bồng bềnh. Con chim về tổ này phải chăng tượng trưng chính ông, mây tỏa chân trời kia phải chăng là cảnh phù hoa nơi đô hội mà ông đă để lại sau lưng?

Trở lại bài Trở Vê Vườn Cũ, hai câu ba và bốn dường như Nguyễn Khuyến tự nhủ là, nay đă về già, thú lâm tuyền là thú chăm sóc mấy chồi cây ngay trong sân nhà, và thứ đọc sách, bạn với ông Huyện Bành Trạch Đào Tiềm với Ôn Công Tư Mă Quang, làm thơ uống rượu, bởi nay tóc đă bạc rồi, truyện t́m gặp Lỗ Hầu, trổ tài trị quốc b́nh thiên hạ, trong t́nh thế nương dâu băi biển  là giấc mơ đả tàn. Rồi ông ngâm câu đầu tiên của bài Quy Khứ Lai Hề Từ :

Quy khứ lai hề hồ bất quy..

H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cao cuối trời tiêu biểu chi ư muốn từ quan về ẩn trên đây cũng là hai h́nh ảnh Nguyễn Khuyến dùng trong bài :

Kinh Đề Sơ Phát29 

Trù trướng kim chiêu ngă độc hành
Tân vân nhất mạt viên sơn thanh
Thu đa thử khí ḥa tiên thực
Vũ thấp sa điền vị khả canh
Dă đỗ bất tri hà xứ thực
Hàn cầm do học khứ niên thanh
Tà duơng hồi thủ vân yên ngoại
Đa thiểu tương tri tại Lạc Thành.

dịch là

Vừa ra Khỏi Kinh Thành

Đường dài ngại bước xa xôi
Xanh lam đầu núi cuối trời mây giăng
Nắng thu đồng lúa sớm vàng
Mưa chưa đủ nước đồng hoang khó cày
Chưa vào mùa đỗ mùa khoai
Chim về trốn lạnh lạc loài xôn xao
Sậy lau mây khói dạt dào
Kinh thành bạn cũ c̣n bao nhiêu người

Trong bài thơ trên, h́nh ảnh con chim chiều về tổ trong thơ Đào Tiềm chuyển biến thành con chim tránh rét trong thơ Nguyễn Khuyến, mây đùn đầu núi trong thơ Đào Tiềm chuyển thành đám mây khói trên bụi lau. Con chim trốn lạnh phải chăng vẫn  tượng trưng cho người thơ muốn về hưu, và đám mây khói trong bụi lau phải chăng vẫn là h́nh ảnh cuộc đời làm quan mà tác giả đă để lại trong triều? Đằng khác, h́nh ảnh đồng lúa chín vàng, thửa ruông thiếu mưa chưa cày để trồng khoai trồng đỗ, tác giả nh́n thấy bên đường, là nhưng h́nh ảnh gần như it ai dùng trong thơ Việt Âm và thơ nôm. Đưa những h́nh ảnh đó vào bài thơ ghi lại buổi giă biệt kinh đô về nghỉ hưu, phải chăng Nguyễn Khuyến bắt đầu suy nghĩ về mối ưu tư cửa nhà nông thay v́ những ưu tư v́ vua v́ nước? Về mặt văn học, h́nh ảnh đồng lúa ruộng khoai vườn đỗ cũng là những h́nh ảnh thường gặp trong thơ Đào Tiềm, khiến người đời sau đồng thanh chấp nhận Đào Tiềm là người khơi nguồn cho ḍng thơ điền viên  Phải chăng những h́nh ảnh đó trong thơ Nguyễn Khuyến đă khiến nhiều nhà phê b́nh cũng coi Nguyễn Khuyến là một nhà thơ Điền Viên?

H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cuối trời cùng h́nh ảnh lũ con đứng bên cổng mừng cha và h́nh ảnh tiểu đồng đón chủ, ngày Đào Tiềm về tới nhà cũng là h́nh ảnh sống động chủ chốt Nguyễn Khuyến dùng trong  bài

Hoàn Gia Tác30 

Phong trần thập tải nhất hoàn gia
Mấn dỉ thành sương nhăn hựu hoa
Cự kính tùng trung đa thác ngạn
Phi hồng vân ngoại độc tư ta
Hậu môn đồng hỷ ông quy hỹ
Trương tiết nhân truyền tử thị da
Tỷ ỷ hàn song vô nhất thoại
Canh thâm lộ trọng nguyệt sơ tà

dịch là

Tới Nhà

Mười năm gió bụi tới nhà
Mắt mờ tóc bạc ḷng già ngổn ngang
Lùm thông ngơ cũ ngỡ ngàng
Cánh hồng đơn chiếc mây giăng bộn bề
Trẻ reo bên cổng ông về
Bạn xưa dừng gậy hề hề mừng ông
Khôn lời ngồi tựa bên song
Canh khuya sương lạnh trăng trong xế dần.

Chú tiểu đồng nhanh nhẩu trong thơ Đào Tiềm đổi thành h́nh ảnh ông bạn già người cùng xóm biến đổi bài thơ khởi hứng từ thơ Trung Quốc thành một bài thơ nôm mang mầu sắc làng xóm Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một điểm đặc biệt trong thơ Nguyễn Khuyến.

Dầu là ở Trung Quốc hay ở Việt Nam, cuộc sống của nhưng ông quan về hưu cũng có nhiều điểm giống nhau. So sánh cuộc sống của Đào Tiềm tại Lật Lư với cuộc sống của Nguyễn Khuyến ở Vườn Bùi, qua nửa thứ hai của bài Quy Khứ Lai Hề Từ, dường như Đào Tiềm có phần vất vả hơn Nguyễn Khuyến. Đào Tiềm phải nhúng tay vào việc canh tác: ông phải đánh xe mui, chèo thuyền nan đi coi đồng cùng bạn điền:

Bạn điền báo dịp đầu xuân
Luỗng ây coi lúa đồng lần phiên ta
Xe mui vưọt quăng đường xa
Băng sông cậy lá thuyền hoa thăm đồng

Cuộc sống lao động không làm ông mệt mà trái lại cho ông nhiều giây phút sảng khoái, cũng như nhiều th́ giờ ngắm cảnh đồng quê:

Trong veo khe uốn khúc ṿng
Bên dựng g̣ chất đống chồng vây quanh 
Đương mùa cỏ mượt cây xanh
Suối tuôn róc rách dập dềnh nước trôi.

Trở về với thơ Nguyễn Khuyến người đọc nhớ tới bài:

觀 穫
Quan Hoạch

暑 氣 炎 烝 夏 日 長
Thử khí viêm chưng hạ nhật trựng
儒 家 田 事 太 紛 忙
Nho gia điền sự thái phân mang
每 愁 有 粟 多 生 熱
Mỗi sầu hữu túc đa sinh nhiệt
又 恐 無 禾 且 乏 粮
Hự khủng vô ḥa thả phạp lương
薪 飯 兼 收 連 本 榖
Tân phăn kiêm thu liên bản cốc
庾 囷 只 在 及 肩 墻
Dữu khuân chỉ tại cập kiên tường
世 間 萬 事 能 如 願
Thế gian vạn sự năng như nguyện
風 欲 盈 門 粟 滿 堂
Phong dục doanh môn túc măn đường.

dịch là

Xem Gặt

Ngày hè nắng chói nắng chang
Nhà nho mùa gặt xốn xang bận ḷng
Thóc hơn e nóng nực hơn
Thóc cao lại sợ chẳng ḅn đủ ăn
Bếp rơm gạo mới ngon cơm
Vựa đầy tường thấp ngang tầm bờ vai
Sự cầu nếu ứng được ngay
Xin cơn gió mát thóc đầy một kho.

Việc đống áng bận rộn ngày hè làm nguyễn Khuyến xốn xang, nhưng qua bái thơ trên đây, dường như ông không phải trực tiếp mó tay vào một việc ǵ như Đào Tiềm.

So với Nguyễn Khuyến, trong mùa gặt hái, Đào Tiềm dường như bận rộn hơn nhiều. Đào Tiềm ghi lại cảnh bận rộn đó trong bài ngũ ngôn dưới đây 31:

庚 戌 歲 九 月 中 
Canh Tuất Tuế Cửu Nguyệt Trung 
於 西 田 穫 旱 稻
Ư Tây Điền Hạn Hoạch

人 生 歸 有 道
Nhân sinh quy hữu đạo
衣 食 固 其 端
Y thực cố kỳ đoan
孰 是 都 不 營
Thục thị đô bất doanh
而 以 求 自 安
Nhi dĩ cầu tự an
開 春 理 常 業
Khai xuân lư thường nghiệp
歲 功 聊 可 觀
Tuế công lư khả quan
晨 出 肆 微 勒
Thần xuất tứ vi lặc
日 入 負 禾 還
Nhật xuất phụ ḥa hoàn
中 山 饒 霜 露
Trung sơn nhiêu sương lộ
風 氣 亦 先 寒
Phong khí diệc tiên hàn
田 家 豈 不 苦
Điền gia khởi bất khổ
弗 獲 辭 此 難
Phất hoạch từ thử nan
四 體 誠 乃 疲
Tứ thể thành năi b́
庶 無 異 患 干
Thứ vô dị hoạn can
盥 濯 息 簷 下
Quán trạc tức diêm hạ
斗 酒 散 襟 顏
Đẩu tửu tán khâm nhan
遙 遙 洎 溺 心
Diêu diêu Tư Nịch tâm
千 載 乃 相 關
Thiên tải năi tương quan
但 願 長 如 此
Đăn nguyện trường như thử
躬 耕 非 所 歎
Cung canh phi sở thán.

dịch là

Gặt Lúa Mùa Tại Tây Điền
Giữa Tháng Chín Nam Canh Tuất

Là người chữ đạo hằng noi
Đủ ăn đủ mặc ai thời chẳng mong
Đói cơm thiếu áo long đong
Cách nào noi đạo an ḷng hôm mai
Đầu xuân lo việc cấy cày
Đến ngày được gặt là ngày nên công
Rạng đông đă vội ra đồng
Chiều vàng lúa cạn c̣ng lưng quảy về
Đường đồi suơng xuống lạnh tê
Muộn thu gió lốc bốn bề gian nan
Nghề nông vất vả muôn vàn
Ngày mùa đồng áng nhọc nhằn đà quen
Mỏi ṛi mỏi ră tay chân
Chẳng lo tai vạ yên thân bấy chầy
Tắm xong nằm nghỉ hiên ngoài
Rượu ṿ một đấu nhấp hoài thiu thiu
Nịch Tư tích cũ đuổi đeo
Ngàn năm t́nh nghĩa vẹn điều bấy nay
Mong sao được măi như như vầy
Tự tay vun bón cấy cầy chẳng than.

Giới nghiên cứu thơ Đào Tiềm cho rằng chữ đạo Đào Tiềm dùng trong câu thứ nhất bài thơ này là đạo Khổng. V́ hai chữ Thư và Nịch trong câu thứ 17 đưa người đọc thơ về sách Luận Ngữ, thiên XVIII: Vi Tử, chương 6, Lê Phục Thiện dịch như sau 32:

Trường Thư, Kiệt Nịch đang cùng nhau cày ruộng. đức Khổng Tử đi qua, sai thầy Tử Lộ hỏi thămbến đ̣. Trường Thư hỏi: “Người cầm cương ngựa ngồi trên xe là ai?” Tử lộ đáp: “Là Thầy Khổng Khâu”. Trường Thư hỏi:”Có phải Khổng Khâu nước Lỗ không?” Tử Lộ đáp; “Phải”. Trường thư nói:: “Phải th́ đă biết bến đ̣ rồi”.

Tử Lộ lại hỏi Kiệt Nịch. Kiệt Nịch nói:’ Ngươi là ai?” Tử Lộ đáp: “Tôi là Trọng Do ». Kiệt Nịch hỏi: “Có phải là học tṛ Khổng Khâu không?” Tử Lộ thưa rằng: “Phải”. Kiệt Nịch nói;” Thiên hạ đều loạn lạc như nước chẩy cuồn cuộn; Khổng tử sẽ cùng ai thay đổi được? Vả lại ngươi đi theo kẻ sĩ tránh người vô đạo, sao bằng ta đi theo kẻ sĩ tránh đời?” Kiệt Nịch lại tiếp tục bừa phủ lúa giống, không ngừng.

Tử Lộ đi đến xe tŕnh lại. Đức Khổng Tử ngậm ngùi nói rằng: “Loài chim, loài thú không thể cùng người ta họp bầy. Nếu ta không thân với mọi người th́ thân với ai? Nều thiên hạ có đạo, Khâu này không cần phải sửa đổi nữa.”

Qua chương Luận Ngũ trên, Chu Hy cho thấy là Trường Thư và Kiệt Nịch là hai người ở ẩn. Ngẫu là cùng nhau cày ruộng. Câu truyện xẩy ra khi Khổng Tử tử nước Sở trở về nước Thái.

B́nh chương sách này, Tŕnh Tử nói rằng: “Thánh nhân không dám quên nhăng việc thiên hạ, nên nói như thế.” Trương Tử nói rằng: “Ḷng nhân của Thánh Nhân không v́ kẻ vô đạo mà bỏ mặc việc thiên hạ, nên ngài luôn luôn cố gắng t́m cách giúp đời”.

Trở lại bài thơ của Đào Tiềm. Sau một ngày mùa gặt với công việc đồng áng nặng nề, tắm rửa xong, nhấp một đấu rượu, nằm nghỉ bên hiên, nhớ tới  hai ẩn sĩ Trương Thư và Kiệt Nịch, thấy là ước mong trị nước b́nh thiên hạ không thắng nổi ước mong được sống tiếp trong hoàn cảnh vất vả chân tay nhưng đầu óc thư thả hiện tại. Phải chăng v́ vậy, Đào Tiềm cảm thấy việc về với ruộng vườn của ḿnh là một quyết định thích đáng?

Niềm vui của Đào Tiềm trong cảnh cáo quan về với ruộng vườn, dầu có vất vả tay chân, khiến người đọc thông cảm với mối lo của Nguyễn Khuyến bị triệu ra làm quan, trong bài:

見 吏
Kiến Lại

一 官 歸 去 六 年 餘
Nhất quan quy khứ lục niên dư
病 臥 猶 然 畏 簡 書
Bệnh lại do nhiên úy giản thư
叩 戶 卻 聞 來 有 吏
Khấu hộ khước văn lai hữu lại
迷 途 常 恐 出 無 車
Mê đồ thường khủng xuất vô cư (xa)
百 年 屈 指 今 逾 半
Bách niên khuất chỉ kim du bán
十 事 人 心 九 不 如
Thập sự nhân tâm cửu bất như
役 役 胡 勞 名 利 夢
Dịch dịch hồ lao danh lợi mộng
何 妨 長 與 醉 鄉 居
Hà phương trường dữ túy hương cư.

dịch là

Thấy Nha Lại Tới

Cáo quan đă sáu năm rồi
Ốm đau vẫn sợ lệnh đ̣i chầu vua
Chợt đâu thấy có sai nha
Lại mừng v́ dă lầm nhà qua đây
Đời người quá nửa xuân này
Mười điều cả chín đều sai ư ḿnh
Gớm cho giấc mộng công danh
Làng say yên sống sao đành ra đi.

Về nghỉ hưu đă sáu năm, lại thêm đau ốm, Nguyễn Khuyến vẫn lo bị vua triệu ra làm quan. Như con chim từng bị trúng tên, nay sợ làn cây cong, Nguyễn Khuyến thấy bóng sai nha là đă lo, nhưng lần này lại mừng là nha lại lầm nhà lạc lối. Thoát ṿng danh lợi, lại không vất vả tay chân, như vậy phải chăng chính là điều hợp với sở thích của Nguyễn Khuyến? Hơn nữa, vui niềm vui sống cùng làng say phải chăng chính là niềm vui của cả hai người thơ Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến?

-o-o-o-

Nhàn rỗi, Nguyễn Khuyến chống gậy đi dạo quanh thăm bà con. Đó là những dịp cảnh xóm làng gợi hứng cho ông viết những bài mô tả cảnh quê linh động, tỷ như bài:

夏 日 訪 表 兄 鄧 台 歸 作
Hạ Nhật Phỏng Biểu Huynh Đặng Thai Quy Tác

攜 杖 捫 蘿 遶 徑 行
Huề trượng môn la nhiễu kính hành
偶 然 來 訪 鄧 家 兄
Ngẫu nhiên lai phỏng Đạng gia huynh
相 看 鬚 髮 誰 為 老
Tương khan tu phát thùy vi lăo
曾 見 閭 閻 半 未 更
Tằng kiến lư diêm bán vị canh
臥 樹 疲 牛 噓 暑 氣
Ngọa thụ b́ ngưu hư thử khí
隔 池 小 犬 吠 人 聲
Cách tŕ tiểu khuyển phệ nhân thanh
逍 遙 笑 指 天 公 健
Tiêu diêu tiếu chỉ thiên công kiện
盡 日 當 空 一 笛 橫
Tận nhật đương không nhất địch hoành.

Tác giả tự dịch là:

Đến Chơi Nhà Bác Đặng

Gậy men ngơ trúc dạo đường quai
Quá bướclên nhà bác Đặng chơi
Một lũ tóc râu đều tuổi tác
Nửa phần làng xóm đă thay dời
Trâu già gốc bụi ph́ hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
Ngửa mặt ông kia chơi mới khỏe
Suốt hôm một sáo thổi lưng trời.

Bài Hạ Nhật Phỏng Biểu Huynh Đặng Thai Quy Tác của Nguyễn Khuyến có một vài điểm tương ứng với bài sau đây của Đào Tiềm:

還 舊 居
Hoàn Cựu Cư

疇 昔 家 上 京
Trù tích gia thượng kinh
六 載 去 還 歸
Lục tải khứ hoàn quy
今 日 始 復 來
Kim nhật thỉ phục lai
惻 愴 多 所 悲
Trắc sảng đa sỏ bi
阡 陌 不 移 舊
Thiên mạch bất di cựu
邑 屋 或 時 非
Ấp ốc hoặc th́ phi
履 歷 周 故 居
Lư lịch chu cố cư
鄰 老 罕 復 遺
Lân lạo hăn phục di
步 步 尋 往 迹
Bộ bộ tầm văng tích
有 處 特 偯 偯
Hữu xứ đặc y y 
流 幻 百 年 中
Lưu huyễn bách niên trung
寒 暑 日 相 推
Hàn thử nhật tương thôi
常 恐 大 化 盡
Thường khủng đại hóa tận
氣 力 不 及 衰 
Khí lực bất cập suy
撥 置 且 莫 念
Bát trí thả mạc niệm
一 觴 聊 可 揮
Nhất thương liêu khả huy.

dịch là

Thăm Nhà Cũ

Thượng Kinh một thủa bôn ba
Dời về quê cũ nay đà sáu năm
Hôm nay chốn cũ về thăm
Những điều trông thấy động tâm ai hoài
Cảnh dường không đổi đồng ngoài
Xóm trong dẫy phố thiếu vài ba căn
Ngơ quanh nhà cũ bước lần
Xóm giềng ngày trước quây quần nay đâu
Hoang vu lối trước ngơ sau
T́nh xưa nghĩa cũ rầu rầu tiếc thương
Trăm năm trong cơi vô thường
Lạnh nồng nồng lạnh đôi đường đổi thay
Sợ điều Đại Hóa ngừng xoay
Trước khi khí lực thân này chưa suy
Nghỉ quanh nghĩ quẩn làm chi
Một thưng uống cạn li b́ tỉnh say.

Giới nghiên cứu về thi văn Đào Tiềm cho rằng Đào Tiềm sáng tác bài Hoàn Cựu Cư này năm ông mới chừng ba mươi lăm tuổi, và đă về nghỉ lần thứ nhất 33. Trong thơ Đào Tiềm kể rằng Thượng Kinh là nơi ông sống cùng gia đ́nh trong một thời gian, sau đó dời về quê đă được sáu năm, bữa đó ông có dịp qua thăm ngôi nhà cũ. Cảnh trí quanh ngôi nhà cũ làm ông xúc động, liên tưởng tới lẽ vô thường. Ông trở vể với  sách Lẽ Kư để thấy đời người có bốn lần đại hóa, tiêu biểu bằng h́nh ảnh lạnh nồng, tưong ứng với hai mùa nóng lạnh trong một năm, từ một thiếu nhi thành một thiếu niên, rồi thiều niên thành thanh niên, thanh niên thành trung niên và trung niên lên lăo niên. H́nh ảnh Đại Hóa ngừng xoay là h́nh ảnh cái chết. Cái chết tới lúc khi lực ông chưa suy. Giới Hán Học giảng chữ suy này bằng sách Lễ Kư, Chương Vương Chế :

五 十 始 衰
ngũ thập thủy suy

nghịa là [sức khỏe] suy kém lúc tuổi chưa đầy năm mươi. Như vậy, qua hai câu 13 và 14 trong bài thơ Đào Tiềm tỏ ư lo sợ ông sẽ chết trước năm năm mươi tuổi. Ông cố quên ư nghĩ chết chóc đen tối này bằng cách uống cạn một thưng rượu cho say li b́.

Trở lại bài Đến Chơi Nhà Bác Đặng. Nguyễn Khuyến chống gậy từ nhà ông ở thôn vị Hạ sang nhà người anh con cô con cậu ruột với ông là cụ Đặng Ư ở thôn Vị Thượng. Hai anh em ông cùng đă râu tóc tuổi tác qua câu:

Một lũ tác râu đều tuổi tác

Câu này chảng khác ǵ câu ông khóc Dương Khuê:

Bác già tôi cũng già rồi.

Cái biến đổi trên bản thân dường như nhắc nhở Nguyễn Khuyến những đổi dời ngoại thân tại thôn Vị Thượng:

Nửa phần làng xóm đă thay dời.

Cuộc dạo chơi này chính là cảnh thơ của bài Hoàn Cựu Cư của Đào Tiềm. Nhưng khác với cảnh hoang vu của Thượng Kinh trong thơ Đào Tiềm, dường như thôn Vị Thượng vẫn c̣n giữ được trù phú với qua h́nh ảnh con trâu già ph́ pḥ bên bụi cây, và qua tiếng chó sủa bên kia ao. Tiếng chó sủa bên kia ao gợi cho người đọc nhớ tới chương 80 sách Đạo Đúc Kinh của Lăo Tử 34. Cho  đến đây, bài Đến Chơi Nhà Bác Đặng của Nguyễn Khuyến dương như tương ứng với bài Hoàn Cựu Cư của Đào Tiềm. Nhưng từ câu thứ năm thơ Nguyễn Khuyến tách dời thơ Đào Tiềm. Hai câu kế tiếp:

Trâu già gốc bụi ph́ hơi nóng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người

có lẽ đây là bức tranh điền viên nổi tiếng nhất trong ḍng thơ nôm. Đồng thời hai câu này c̣n gợi cho người đọc hiểu cái ư ngoài lời của tác giả gửi gắm trong bài thơ. Con trâu già nằm nghỉ dưới bóng cây c̣n thở ph́ ra hơi nóng phải chăng chính là h́nh ảnh vị hưu quan thôn Vị Hạ? Tiếng chó sủa bên kia bờ ao là h́nh ảnh một làng nhỏ yên b́nh, có thể coi là lư tưởng, trong sách Đạo Đức Kinh, của Lăo Tử, nhưng trong mạch thơ Nguyễn Khuyến ở đây, phải chăng người đọc có thể coi h́nh ảnh đó là h́nh ảnh tiêu biểu cho điều Nguyễn Khuyến buông bỏ thế sự mặc bọn đàn em lo liệu?

Trong hai câu kết, Nguyễn Khuyến không về sách Lễ Kí như Đào Tiềm mà về sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử:

Ngửa mặt ông kia chơi mới khỏe
Suốt hôm một sáo thổi lưng trời.

Tiếng sáo lưng trời đây không phải là tiếng sáo diều quen thuộc chốn đồng quê, mà là tiếng sáo trời mà Trang Tử đă mô tả trong sách Nam Hoa Kinh, đoạn mở đầu chương thứ hai Tề Vật Luận: 35:

Nam Quách Tử Kỳ ngồi dựa ghế, [...] Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước mặt. [...]

Tử Kỳ nói:

-     [...] Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của đất mà chưa nghe tiếng sáo của trời [...]

Tử Du nói:

-    Tiếng sáo đất là tiếng ḥa của muôn khiếu. Tiếng sáo của người là tiếng ḥa của ống trúc. Dám xin hỏi thế nào là tiếng sáo của Trời?

Tử Kỳ nói :

-    Ḱa như gió thổi khiến muôn tiếng đồng vang lên, nhưng lại khiến cho nó tự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là ǵ đấy?

C̣n cái ông suốt hôm sáo thổi lưng trời phải chăng chính là ông Trời  hay chính là Đạo? Trang Tử trả lời câu hỏi này trong đọn mở đầu chương  Thiên Vận, sách Nam Hoa Kinh 36:

Trời vận động chăng? Đất ở yên chăng? Mắt trời mặt trăng tranh chỗ chăng? Ai chủ trương những cái ấy? Ai giữ giàng những cái ấy? [...] Gió nổi từ phương Bắc, một Tây, một Đông, cái lồng bốc lên xoay quanh. Ai thở hót những cái ấy? Ai ở rỗi không việc mà phe phẩy những cái ấy? Dám hỏi : Cớ ǵ?

Vu Hàm Siêu nói :

-    Lai đây! Ta bảo mi : [...] Thế gọi là Thượng Hoàng..

Trở về Lật Lư Đào Tiềm viết trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ, dịch là

Chuyến này về thực về rồi
Lời chào nhắn gửi cùng người tới lui
Mùi đời chẳng hợp ngán mùi
Lẽ nào gắng gượng kíp lùi hóa hay
Xóm làng thân thuộc xum vầy
Vui cùng đèn sách tháng ngày rảnh thân

Uớc mong này của Đào Tiềm cũng là điều Nguyễn Khuyến thật sự sống trong những tháng năm về ở Vườn Bùi.

Năm Nguyễn Khuyến năm mươi lăm tuổi, ông theo lệ làng lên lăo và ông ghi lại h́nh ảnh ngày đó trong bài:

Lên Lăo

Ông chẳng hay ông tuổi đă già
Năm lăm ông cũng lăo đây mà
Anh em làng xóm xin mời cả
Xôi bánh trâu heo cũng gọi là
Chú Đáo bên người lên với tớ
Ông Tử xóm chợ lễ cùng ta
Bây giở đến bực ăn dung nhỉ
Có rượu thời ông chống gậy ra.

Hai câu năm và sáu cho thấy là tác giả đă buông bỏ nhưng thành đạt khoa hoạn của ḿnh, coi đó như ngoại vật, và hoà ḿnh cùng bà con lối xóm.

Nguyễn Khuyến ghi lại nét thanh đạm nhân ngày ông có bạn, (phải chăng là một người bạn cũng thành đạt như ông trên đường khoa hoạn)  tới thăm ông, trong bài thơ nôm, mà người Việt Nam không mấy ai không biết:

Bạn Đến Chơi Nhà

Đă bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa
Ao sâu nước cả khôn chài cá
Vường rộng rào thưa khó đưổi gà
Cải chửa ra cây trà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa
Đầu tṛ tiếp khách trầu không có.
Bác đến chơi đây ta với ta.

Đă nhiều người b́nh giải bài thơ này. Ngay đầu đề bài thơ cũng chép khác nhau : có đầu đề là Gặp Bạn Ngồi Chơi Suông, có đầu đề khác là Suông T́nh. Người th́ cho là bởi ông bạn tới thăm với hai tay không, khiến Nguyễn Khuyến khởi hứng viết bài thơ trên đây trách nhẹ. Có người lại giảng là  ông khách tới chơi không báo trước, khiến Nguyễn Khuyến không sửa soạn kịp để đón tiếp chu đáo, làm bài thơ này để gián tiếp xin lỗi bạn. Có người lại cho rằng Nguyễn Khuyến viết bài thơ này để tŕnh bày với bạn cảnh nhà thanh bạch của ḿnh với hy vọng được bạn gíup đỡ. Cả ba giả thiết đều nghe xuôi tai, nhưng không giả thiết nào đua ra bằng chứng và dường như chỉ là phỏng đoán. Đồng thời khó liên kết được những giả thiết trên với ba chữ ta vói ta.

Người đọc thơ hiểu ba chữ ta với ta này là h́nh ảnh tiêu biểu cái ta của Nguyễn Khuyến và cái ta của ông bạn, hoà hợp thành cái đôi ta tựa như sự hoà hợp của một giọt nước với một giọt nước khác thành một giọt nước độc nhất để tiêu biểu sự ḥa đồng của Nguyễn Khuyến với ông bạn. H́nh ảnh ḥa hợp giữa hai giọt nước tạo nên một giọt nước duy nhất gợi lên cho người đọc thơ,  chữ thủy của Trang Tử, chương Sơn Mộc, trong câu 37 :

君 子 之 交 淡 若 水
Quân tử chi giao đạm nhược thủy

Nhượng Tống dịch là 38:

Giao t́nh của người quân tử nhạt như nước.

Trang Tử nói rơ hơn :

Giao t́nh của tiểu nhân ngọt như rượu ủ. Quân tử nhạt rồi thân. Tiểu nhân ngọt rồi tuyệt.

Như vậy, nếu quả thật mối giao t́nh của Nguyễn Khuyến cùng ông bạn đạm như thủy 39, thời ông bạn tới thăm Nguyễn Khuyến đâu cần mang theo quà cáp, đâu cần phải hẹn trước, cũng như Nguyễn Khuyến đâu cần phải có mâm cao cỗ đầy, cơm gà cá gỏi tiếp đón, hay cần phải có khay trà cơi trâu câu chuyện mới đậm đà. Tất cả ngoại vật đó đều vô nghĩa: Nguyễn Khuyến và ông bạn hoà hợp thành ta với ta trong lẽ huyền của cuộc sống.

Ba chữ ta với ta này dường như  không phải là cḥ chơi chữ của Nguyễn Khuyến, mà phải chăng cái t́nh bạn nhạt như nước này đă là nếp sống của những nhà nho như Nguyễn Khuyến, và Nguyễn Khuyến dùng thi tài của ông, qua  ba chữ này chuyển dịch chữ nghĩa thánh hiền sang ngôn từ Việt Nam? Hơn nữa, ba chữ ta với ta này phải chăng ngắn gọn biểu lộ cái nhu cầu của cái ta, trong bất kỳ ai, cũng có lúc cần có cái  đôi ta?

-o-o-

Đào Tiềm cũng như Nguyễn Khuyến cùng lưu tâm tới việc răn dậy các con. Đào Tiềm đề lại môt bài văn xuôi như một lá thư ông viết cho con trưởng là Nghiễm và các em như sau:

與 子 儼 等 疏
Dữ Tử Nghiễm Đẳng Sơ

告 儼 俟 份 佚 佟
Cáo Nghiễm Sĩ Phận Dật Đồng
天 地 賦 命, 有 生 必 終.
Thiên địa phú mệnh, hữu sinh tất chung.
自 古 聖 賢, 誰 猶 能 免
Tự cổ thánh hiền, duy do năng miễn
子 夏 有 言 曰: 死 生 有 命
Tử Hạ hữu ngôn viết: tử sinh hữu mệnh
富 貴 友 在 天 . 四 友 之 人,
phú qúy tại thiên. Tứ bạn chi nhân
親 受 音 旨. 登 斯 談 者,
thân thụ âm chỉ. Phát kỳ đàm giả,
將 非 窮 達 不 可 妄 求
tướng bi cùng đạt bất khả vọng cầu,
壽 夭 永 無 外 請 求 耶
thọ yểu vĩnh vô ngoại thỉnh cố da.
吾 年 過 五 十, 少 而 窮 苦
Ngô niên quá ngũ thập, thiếu nhi cùng khổ
每 以 家 弊, 東 西 游 走.
mỗi dĩ gia tẽ, đông tây du tẩu.
性 剛 才 拙, 與 物 多 忤
Tính cương tài chuyết, dữ vật đa ngỗ.
自 量 為 己, 必 貽 俗 患
Tự lượng vô kỷ, tất di tục hoạn.
僶 俛 辭 世, 使 汝 等 幼 而 飢 寒
Mẫn phủ từ thế, sử nhữ đẳng ấu nhi cơ hàn.
余 嘗 感 孺 仲 孺 仲 賢 妻 之 言
Du thường cảm Nhu Trọng hiền thê chi ngôn.
敗 絮 自 擁, 何 慚 兒 子.
Bại nhứ tự ủng, hà tàm nhi tử.
此 既 一 事 矣.
Thử kí nhất sự hĩ.
但 恨 鄰 靡 二 仲, 室 無 萊 妻.
Dăn hận liên mỹ nhị Trọng, thất vô Lai thê.
抱 茲 苦 心, 良 獨 惘 惘
Đăn tư khổ tâm, lương độc vơng vơng.
少 學 琴 書, 偶 愛 閒 靜,
Thiếu học cầm thư, ngẫu ái nhàn tĩnh,
開 卷 有 得, 便 欣 忘 食.
khai quyền hữu đắc, tiện hân vong thực.
見 樹 木 交 蔭, 時 鳥 變 聲,
kiến thụ mộc giao âm, th́ điểu biến thanh,
亦 復 歡 然 有 喜.
diệc phục hoan nhiên hữu hỉ.
常 言 五 六 月 中, 北 窗 下 臥,
Thường ngôn ngũ lục nguyệt trung, bắc song hạ ngọa
遇 涼 風 暫 至, 自 謂 是 羲 皇 上 人
Ngộ lương phong tạm chí, tự vị thi Hy Hoàng thượng nhân.
意 淺 識 陋, 謂 斯 言 可 保.
Ư thiển thức lậu, vị tư ngôn khả bảo.
日 月 逐 往, 機 巧 好 疏.
Nhật nguyệt trục văng, ky xảo hảo sơ.
緬 求 在 昔, 眇 然 如 何.
Miễn cầu tại tịch, miêu nhiên như hà.
病 患 以 來, 漸 就 衰 損.
Bệnh hoạn dĩ lai, tiệm tựu suy tổn.
親 舊 不 遺, 每 以 藥 石 見 救,
Thân cựu bất di, mỗi dĩ dược thach kiến cứu,
自 恐 大 分 將 有 限 也.
tự khủng đại phân tương hữu hạn dă. 
汝 輩 稚 小, 家 貧 無 役,
Nhữ bối trĩ tiểu, gia bần vô dịch,
柴 水 之 勞, 何 時 可 免,
sài thủy chi lao, hà th́ khả miễn,
念 之 在 心, 苦 何 可 言.
niệm chi tại tâm, khổ hà khả ngôn.
燃 汝 等 雖 不 同 生
Nhiên nhữ đẳng tuy bất đồng sinh
當 思 四 海 皆 兄 弟 之 義
đương tư tứ hải giai huynh đệ chi nghĩa.
鮑 叔 管 仲, 分 財 無 猜,
Bào Thúc Quản Trọng, phân tài vô sai,
歸 生 伍 舉, 班 荊 道 舊
Quy Sinh Ngũ Cử, ban kinh đạo cựu,
遂 能 以 敗 為 成, 因 喪 立 功. 
toại năng dĩ bại vi thành, nhân tang lập công.
他 人 尚 爾, 況 同 父 之 人 哉 
Tha nhân thượng nhĩ, huống đồng phụ chi nhân tai.
潁 川 韓 元 長, 漢 末 名 士,
Toánh Xuyên Hàn Nguyên Trường, Hán mạt danh sĩ,
身 處 卿 佐, 八 十 而 終.
thân xứ khanh tá, bát thập nhi chung.
兄 弟 同 居 至 於 沒 齒
Huynh đệ đồng cư chí ư một xỉ.
濟 北 氾 稚 春 晉 時 橾 行 人 也.
Tế Bắc Phạm Trĩ Xuân, Tấn th́ thao hành nhân dă.
七 世 同 財, 家 人 無 怨 色.
Thất thế đồng tài, gia nhân vô oán sắc.
時 曰
Th́ viết :
高 山 仰 止, 景 行 行 止
cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ.
雖 不 能 爾, 至 心 尚 之.
Tuy bất năng nhĩ, chí tâm thượng chi.
汝 其 慎 哉, 吾 復 何 言.
Nhữ kỳ thận tai, ngô phục hà ngôn.

dịch là

Bài Răn Nghiễm và Đàn Em

Răn Nghiễm, Sĩ, Phận, Dật, Đồng Mệnh trời đất, có sinh là có chết. Từ cổ xưa, thánh hiền chẳng ai thoát khỏi mệnh này. Tử Hạ nói : chết sống do mệnh, giầu sang bởi trời.. Bốn bạn đều ghi lời.Lời này ngụ ư là thành đạt không nên vội vàng đeo đuổi, thọ yểu không thể cầu xin mà được.

Cha nay đà quá năm mươi, thời trẻ cùng khổ, gia đ́nh nghèo khó, khiến phải bôn tẩu hết đông lại tây. Tính th́ cương trực, tài th́ vụng về, thêm thói hay điều chống đối. Tự xét cảnh ḿnh, c̣n bôn ba c̣n hoạn nạn. Nên ta từ giă từ cuộc sống đưa tranh, khiến các con gặp cảnh đói rét. Ta thường cảm nhớ lời bà vợ hiền của Nhu Trọng40. Thân mặc áo vải thô, ta đâu thẹn với đàn con . Đó là một điều [khiến ta từ quan] Mà ta hận xóm làng không có ai như hai lăo Trọng 41, trong nhà không có ai đáng xánh vời vợ lăo Lai 42.Nỗi khổ tâm đó khiến ta cảm thấy quanh quẽ cô đơn.

Khi c̣n trẻ ta chuyên đọc sách và chơi đàn. Bỗng thành tật chỉ thích nhàn tĩnh. Mở quyển sách thấy điều đắc y mải mê đọc tới quên ăn. Khi nh́n thấy cây giao bóng, nghe thấy chim đồi tiếng hót là lúc ta vui vẻ thỏe thê trong ḷng. Và kỳ tháng năm tháng sáu, năm bên sing Bắc đón ngọn gió mát, ta thấy sung sướng chẳng khác ǵ vua Phục Hy thời thượng cổ.

Ư nông biết cạn, nhưng lời này cũng đáng qúy. Ngày qua tháng lại ta chẳng ham điều kỹ xảo.Nh́n lại truyện qua, mọi điều điều mờ mit. Từ ngày bệnh hoạn, sức suy lực giảm Người thân kẻ thuộc thuốc thang nâng dấc. Nhưng ta vẫn e số trời có hạn.

Con c̣n trẻ, nhà lại nghèo, không nơi tựa nương. Gánh củi quảy  nước việc ǵ chẳng tới tay, điều đó bận ḷng ta mà chẳng biết nói sao. Các con tuy chẳng cùng một mẹ, nên phải nghĩ đến điều bốn bể cũng là anh em. Bảo Thúc Quản Trọng43 lợi lộc chia đều. Quy Sinh Ngũ Cử 44 nằm chiếu gai bàn sách cổ, v́ đổi bại mà thành, v́ thua nên công.. Đó là truyện người dưng, huống chi là anh em cùng một bố.Hàn Nguyên Trường người đất Toánh Xuyên, đời mạt Hán, làm quan tới bậc khanh tá, sống ngoài tám chục, anh em sống cùng nhau cho tới ngày răng rụng.Phạn Trĩ Xuân, người Tế Bắc, lừng danh đời Tấn, bẩy đời hân hoan chung sống một nhà.

Kinh Thi có câu :

Ngẩng nh́n núi cao
           Thẳng đường bước rảo

Bằng chưa làm nổi, con hăy để tâm. Ǵn giữ thân con. Cha nay dứt lời.

Trong ḍng thơ gửi cho đàn con, ngoài bài giới trên đây, Đào Tiềm c̣n để lại loạt bài 命子, Mệnh Tử gồm mười bài mỗi bài tám câu mỗi câu bốn chữ, và bài ngũ ngôn 青子 Thanh Tử dài mười bốn câu. Căn cứ vào ba áng thơ văn này, giới nghiên cứu đồng ư rằng Đào Tiềm không bắt buộc đàn con sống đời nông dân như ḿnh và cho con ăn học rồi tùy con chọn con đường xuất xử cho ḿnh. Ông tỏ lời hối tiếc v́ ư muốn về sống với vườn ruộng của ḿnh khiến đàn con bị thiệt tḥi trên đường học vấn. Giới nghiên cứu kết luận là Đào Tiềm dậy con theo đường lối Khổng Học 45.

Trong ḍng văn học Trung Quốc, trước Đào Tiềm có Khổng Minh Gia Cát Lưọng, nggười đời Tam Quốc, vốn là ẩn sĩ ở Nam Dương, sau nể t́nh ra giúp Lưu Bị, làm tướng trị nước Thục, cũng để lại một lá thư viết cho con, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân trích dịch như sau 46:

[...] Việc làm của người quân tử: tĩnh để tu lấy thân, kiệm để bồi dưỡng lấy đức. Nếu không đạm bạc, th́ không thể nào sáng được cái chí. Nều không ninh tĩnh th́ không thể nào đi xa được.

Lấy lư mà nói: muốn học cần phải tĩnh, có tài cần phải học. Không học th́ không rộng được cái tài; không tĩnh th́ không thành được cái học. Lười biếng khinh mạn th́ chẳng thể biết dược tường. Hiểm hóc táo bạo th́ chẳng thể sửa được tính.

Mỗi năm một tuổi, mỗi tuổi một kém, rồi thành ra con người khô héo, dài thở van ngắn trong chỗ xó nhà, bấy giờ mới hối th́ con sao kịp nữa [...]

Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bàn lời Gia Cát Lượng như sau:

Có những thói xấu như nông nổi, thô thiển, khinh bạc, người thường c̣n hại vừa, người thông minh hại mới nặng. Hại nặng nghĩa là thiệt đời tài hoa như không. Cho nên Khổng Minh dạy con phải theo gương quân tử ngay từ thủa c̣n ít tuổi cho thành thói quen. Quân tử dùng cách ǵ để tu thân, để dưỡng đức, để có tài năng, để thành học nghiệp, để rộng được trí thức, để gánh vác được công việc trọng đại ở đời. Ông nói tóm tắt mà rất phân minh. Câu “Mỗi năm một tuổi ...”lại càng thống thiết. Ư ông lại c̣n mong cho conlàm thế nào để cho tư tưởng cũng ăn nhịp với thời đại mà một ngày một tiến bộ măi lên, chớ đùng để tư tưởng cứ cùng theo tuổi lăo đại mà cằn cỗi dần th́ ươn hèn lắm. Nói tóm: Ông chú ư mong con sao thành người đừng để sau hối mà nhỡ hóa ra con người sống thừa ở đời vậy.

Trong văn học Việt Nam, theo Dương Quảng Hàm 47, Nguyễn Trăi (1380-1422) sáng tác tập Gia Huấn Ca, gồm sáu bài ca:

      1. Dạy vợ con,
      2. Dạy con ở cho có đức,
      3. Dạy con gái,
      4. Vợ khuyên chồng,
      5. Dạy học tṛ ở cho có đạo, 
      6. Khuyên học tṛ phải chăm học

Tác giả chủ ư mang nhưng điều cốt yếu trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà con trẻ đọc.Tuy nhiên tác giả quyển sách này thực sự là ai vẫn c̣n là một nghi vấn trong văn học sử.

Đối với giới nhà nho Việt Nam, bậc cha anh thường ngăn cản con em đọc thơ thơ văn Đào Tiềm.Theo Trần Lê Sáng 48 viết trong cuốn Phùng Khắc Khoan Cuộc Đời và Thơ Văn:

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong thời gian theo học Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, học rất gịi, “người Đông Bắc chẳng ai không biết tiếng”nhưng thường đi chơi với bạn đạo sĩ Vân Canh, thân phụ sợ Khắc Khoan chểnh mảng việc học đă gửi cho Khắc Khoan bài thơ  [chép trong Ngôn Chí Thi Tập, Quyển 1] như sau:

Thị Huấn

Nhĩ ly ngô lư thuộc ngô mao
Tính bản thông minh viễn kiến cao
Nhất quỹ dụng công tu học Khổng
Phân âm quá tích thả sư Đào
Hiển dương nhi tự nghi thâm niệm
Viễn đại tiền tŕnh vật đăn lao
Khỏa táo khác gia giai lệnh tử
Trung hồng phương thả phó ngô bào.

Trần Lê Sáng dịch là:

Răn Dạy

Cách xa cha nhớ thuộc ṇi nào
Tính vốn thông minh kiến thức cao
Một nếp phải lo chuyên học Khổng
Từng giờ cố sức chớ theo Đào
Hiển dương hai chữ cần ghi kỹ
Viễn đại tiền đồ chớ biếng sao. 
Cả họ ngóng trông con hiển đạt
Ngày về vui vẻ bơ công lao.

Khi nhận được thư của cha, Khắc Khoan có trả lời. Ư nói ông vẫn chăm chỉ học nghĩa lư Khổng học, song ngoài cái đó, ông c̣n muốn học cái hay trong văn chưong Đào Tiềm. Bài họa làm đủ tám câu [Trần Lê Sáng] trích hai câu 3 và 4 như sau:

Nghiên ma nghĩa lư tâm vi lệ
           Đoàn luyện văn chương lực tự đào.

dịch là

T́m sâu nghĩa lư ḷng nghiền ngẫm
            Tham cứu văn chương sức tự rèn

Theo Phùng Khắc Khoan, ghi trong Ngôn Chí Thi Tập, sự việc này xẩy ra vào năm Ất Tỵ, 1545, năm ông mười tám tuổi.

Đoạn trích dẫn trên đây cho thấy nhà nho Việt Nam dưới đời Lê Mạt coi thơ văn Đào Tiềm, không những là một thứ ngoại thư mà c̣n là sản phẩm có thể làm loạn tâm thuật người đi học, chẳng khác ǵ sách Lăo Trang.

Trở lại thơ Nguyễm Khuyến, trên mạch thơ răn dậy các con, người đọc thấy Nguyễn Khuyến để lại trong thơ Việt Âm sáu bài, trong số dó có một bài ông dịch sang thơ nôm.

Bắt đầu là bài Nguyễn Khuyến dậy con nhân ngày đầu xuân :

春 日 示 兒
Xuân Nhật Thị Nhi

汝 父 風 陳 鬢 漸 斑
Nhữ phụ phong trần mấn tiệm ban
汝 年 今 亦 已 加 冠
Nhữ niên kim diệc dĩ gia quan
沉 思 絲 粒 君 恩 重
Trầm ân ty lạp quân ân trọng
倍 覺 詩 書 世 業 難
Bôi giác thi thư thế nghiệp nan
學 海 要 宜 防 氾 溢
Học hải yếu nhi pḥng phiếm dật
儒 家 慎 勿 厭 琦
Nho gia thận vật yếm cơ hàn
關 山 遠 跡 心 仍 近
Quan san viễn tích tâm nhưng cận
寄 汝 燈 前 仔 細 看
Kư nhữ đăng tiền tử tế khan.

dịch là

Ngày Xuân Dạy Con

Con nay dến tuổi thành người
Tóc sương bố có đôi lời dậy con
Ơn vua mang nặng ghi ḷng
Thi thư khó nhọc gắng công hội này
Học sao cho có thực tài
Lề nho đói rét chẳng ai ngại ngần
Xa con ḷng bố vẫn gần
Gửi con đọc kỹ ân cần mấy câu.

Trong lời Nguyễn Khuyến dạy con trên đây, người đọc nh́n thấy nhiều h́nh ảnh tiêu biểu cho nề nếp nhà nho. Truóc hết là điểm Nguyễn Khuyến nói tới hai chữ 君恩 quân ân, tức ơn vua, gợi cho người đọc nhớ tới lề thói quân sư phụ. Rồi tới câu thứ sáu:

Lề nho đói rét chẳng ai ngại ngần

vẽ nên h́nh ảnh Nhan Hồi, một giỏ cơm một b́nh nước, sống ngơ hẻm mà vẫn vui của sách Luận Ngữ.

Tiếp tới là bài :

Xuân Nhật Thị Chư Nhi49 

kỳ II

Đồi nhiên mao phát tiệm sam sam
Bất giác niên đăng ngũ thập tam
Đương thế văn chương hà sở dụng
Lăo lai quan đái thượng đa tàm
Loạn ly vô sắc chân vô lại
Ư khổ nhân t́nh cử bất kham
Đối thử quan âm hà dĩ úy
Chư nhi do tự tửu ca hàm.

Tác giả tư dịch là:

Ngày Xuân Dạy Các Con

Tuổi thêm được tóc râu phờ
Nay đă năm mươi có lẻ ba
Sách vở ích chi cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lăi thẹn thân già
Xuân về ngày loạn càng lơ láo
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng
Sao con đàn hát vẫn say sưa.

Đầu đề nói rơ là đầu xuân dạy các con, nhưng nội dung bài thơ dường như lời tác giả nói với chính ḿnh nhiều hơn. Nguyễn Khuyến than tuổi già làm râu tóc bơ phờ. Tất cả sự nghiệp của ông sau ngoài nửa thề kỷ sống trên cơi trần này là hai chữ khoa hoan. Chữ khoa là sách vở thánh hiền, gặp thời loạn đối với ông không c̣n chỗ hành đạo. Chữ hoạn là việc ra làm quan giúp vua trị nước th́ nay thân đă già, mũ cao áo dài không c̣n là điều thích thú. Hai câu đầu Nguyễn Khuyến cho biết là ông đă năm mươi ba tuổi và tự cho là ḿnh đă già.

Câu thứ  ba nhắc cho người đọc hai câu kết một bài Tự Trào của Nguyễn Khuyến:

Nghĩ ḿnh lại gớm cho ḿnh nhỉ
           Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.

Câu thứ tư dường như là ư thơ của  câu:

Ghế gậy cân đai thế cũng là

Nguyễn Khuyến viết trong bài Về Nghỉ Nhà.

Rồi tới chữ loạn trong câu thứ câu năm đặt cạnh chữ đàn hát trong câu tám làm người dọc thơ nhớ tới bài tứ tuyệt của Đỗ Mục 50 đời nhà Đường:

泊 秦 淮
Bạc Tần Hoài

煙 籠 寒 水 月 籠 沙
Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
夜 泊 秦 淮 近 酒 家
Da bạc Tần Hoài cận tửu gia
商 女 不 知 亡 國 恨
Thương nữ bất tri vong quốc hận
隔 江 猶 唱 後 庭 花
Cách giang do xướng Hậu Đ́nh Hoa.

dịch là

Bến Tần Hoài

Trăng mờ khói lạnh cồn xa
Đ̣ đêm buộc bến tửu gia Tần Hoài
Ca nhi hận nước mặc ai
Hậu Đ́nh Hoa vẫn ngân dài bờ khuya.

Hiểu như vậy, người đọc thơ tự hỏi là phải chăng Nguyễn Khuyến cho là ḿnh đă tới tuổi già mọi việc đều trao cho đàn con, và điều ông khuyên nhủ đàn con là phải ư thức về cái thú nghe đàn hát trong thời tao loạn.

Điều đáng lưu ư là điểm khác biệt giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến mà người đọc nh́n thấy qua bài trên đây của Nguyễn Khuyến và bài Quy Khứ Lai Hề Từ của Đào Tiềm. Nguyễn Khuyến, cho ḿnh là già, từ quan lui về thú ruộng vườn không một niềm hối tiếc là ḿnh đă ra làm quan, trái lại ông tự cho là ḿnh đă đáp đến đầy đử ơn vua lộc nước:

Thân này hai bận mười năm đủ rồi.

            (Họa Nguyên Vận Thơ Hoàng Tham Tri Tặng Ngày Hồi Hưu)

C̣n về phần Đào Tiềm, ông coi việc ra làm quan là lầm lỡ, may nay về với ruộng vườn kịp thời:

悟 已 往 之 不 諫, 知 來 者 之 可 追
Ngộ dĩ vang chi bất gián, tri lai giả chi khả truy.
實 迷 途 其 未 遠, 覺 今 是 而 昨 非
Thực mê đồ kỳ viễn, giác kim thị nhi tạc phi

dịch là

Việc qua chuộc lại được nào
Từ nay riêng việc mai sau lo lường
Lạc chưa xa dẫu lầm đương
Khôn nay chuộc lại thẹn thùng dại xưa

Trở lại ḍng thơ Nguyễn Khuyến răn dậy các con, người đọc thơ gặp bài:

書 堂 感 示
Thư Đường Cảm Thị
衣 缽 難 忘 且 漫 勞
Y bát nan vong thả măn lao
強 將 書 籍 教 兒 曹
Cưỡng tương thư tịch giáo nhi tào
試 觀 所 貴 當 何 在
Thí quan sở quư đương hà tại
縱 為 爭 名 也 失 操
Túng vị tranh danh dă thất thao
舊 學 至 金 猶 爾 爾
Cựu học chí kim do nhĩ nhĩ
末 流 從 此 亦 滔 滔
Mạt lưu ṭng thử diệc thao thao
皇 天 未 果 斯 文 喪 
Hoàng thiên vị quả tư văn táng
為 彈 為 輪 付 所 遭
Vi đạn vi luân phó sở tao.

dịch là

Cảm Xúc Trong Nhà Học Răn Bảo Đàn Con

Nghiệp nhà chẳng bỏ cố công
Gắng đem sách nhủ đàn con đôi lời
Điều chi đáng qúy trên đời
Chỉ dánh danh hăo uồng đời làm trai
Xưa rày nề nếp như vày
Lớp người nối gót hội này khác đâu
Tư văn trời chẳng bỏ nào
Bánh xe ḥn đạn gặp sao hay vày.

Điểm tương đồng giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến vê việc dạy bảo các con là cả hai nhà thơ không bắt buộc các con phải theo chí hướng vui sống với ruộng vườn của ḿnh. Nguyễn Khuyến có người con trưởng là Nguyễn Hoan, học giỏi đỗ cao, được bổ làm quan. Nhân dịp đó, ông viết hai bài tặng con. Một bài là:

春 日 示 子 歡
Xuân Nhật Thị Tử Hoan

我 已 辭 官 爾 做 官
Ngă dĩ từ quan nhĩ tố quan
做 官 能 會 做 為 難
Tố quan năng hội tố vi nan
名 居 過 滿 憂 凌 節
Danh cư quá măn ưu lăng tiết
仕 有 因 貧 且 抱 關
Sĩ hữu nhân bần thả băo quan
當 日 事 隨 當 日 應
Đương nhật sự tùy đương nhật ứng
一 分 賜 是 一 分 寬
Nhất phân tứ thị nhất phân khoan
行 哉 聊 佐 春 風 贈
Hành tai liêu tá xuân phong tặng
當 爾 噓 禾 釋 躁 丹
Đương nhĩ hư ḥa thích táo đan.

dịch là

Ngày Xuân Khuyên Con Là Hoan

Bố từ quan con làm quan
Làm quan cho xứng muôn vàn gian lao
Danh cao e khí tiết hao
Phận nghèo nên nhận chức nào thấp hơn
Ngày nào việc nấy chuyên cần
Khoan ḥa đôi chút cho dân được nhờ
Con đi mượn gió tiễn đưa
Đề làm đơn thuốc ôn ḥa tặng con.

Nguyễn Khuyến dường nhu lấy kinh nghiệm làm quan của riêng ḿnh để khuyên bảo con. Ông coi việc làm quan là việc nặng nhọc chưc phận càng cao càng thêm gian lao. Ông không nói đến việc trả ơn vua, nhưng ông nhấn mạnh dến truyện ông quan phải chuyên cần để giúp dân. Đó là đơn thuốc làm giảm cái nóng nực trên hoạn lộ ông tặng người con cả của ông.

Như tục ngữ có câu: bàn tay có ngón dài ngón ngắn, không phải tất cả đàn con của Nguyễn Khuyến đều thành đạt trên đường khoa cử như người con cả. Với những người con này, nhân ngày đầu xuân ông có lời răn bảo như sau:

春 日 示 諸 兒
Xuân Nhật Thị Chư Nhi

新 歲 方 來 舊 歲 除
Tân tuế phương lai cựu tuế trừ
青 貧 吾 自 愛 吾 盧
Thanh bần ngô tự ái ngô lư
環 居 不 滿 九 高 土
Hoàn cư bất măn cửu cao thổ
素 業 無 他 一 束 書
Tố nghiệp vô tha nhất thúc thư
擁戶煙深山色迥
Ủng hộ yên thâm sơn sắc quưnh
徬墻雨淺菊花疏
Bạng tường vũ thiển cúc hoa sơ
兒曹或可承吾志
Nhi tào hoặc khả thừa ngô chí
筆硯無荒稻菽蔬 
Bút nghiễn vô hoang đạo thúc sơ.

dịch là

Ngày Xuân Dậy Các Con (I)

Năm mới đến năm cũ qua
Bấy nay nề nếp nhà ta thanh bần
Chín sào một khoảnh vườn sân
Nghiệp xưa sách cũ có ngần này đây
Non xa mờ mịt khói mây
Chân tường mưa ít cúc gầy đơm hoa
Các con bằng nối chí ta
Bút nghiên chẳng lăng lúa cà đậu rau.

Mùa xuân tới là một năm qua, nhưng đó cũng là h́nh ảnh lớp trẻ thay thế lớp già. Cái thực tiễn trước mặt là cảnh thanh bần. Niềm ức vọng cao xa như ngọn núi xa mờ trong mây. Cái vui ngay trước mắt là bụi cúc đơm hoa. Nối chí cha già là chăm việc bút nghiên, nhưng cũng đừng sao lăng việc cấy lúa trồng cà trồng đậu trồng rau. Đó là lời Nguyễn Khuyến răn bảo đàn con.




[25] A.R Davis, T’ao Yun Ming, his works and their Meaning, II, Cambridge University Press, Cambridge, 1983, p 187-188.
[26] Paul Jacob, Tao Yuan Ming, Oeuvres Complètes, Gallimard, Paris 1990 p. 60.
[27] Chưa t́m được bản chữ nho
[28] Chưa t́m được bản chữ nho
[29] Chưa t́m được bản chữ nho
[30] Chưa t́m được bản chữ nho
[31] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 60.
[32] Luận Ngữ, dịch giả Lê Phục Thiện, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1992, tr. 667.
[33] Paul Jacob, Tao Ying Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, tr. 22.
[34] Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, bản dịch của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 387-396.
[35] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần,, tr. 174-175
[36] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, tr. 236.
[37] James R.Ware, The Saying of Chuang Chou, Confucius Publishing Co. Đài Bắc Trung Hoa Dân Quốc năm 69, p.239. Câu này cũng chép trong sách Lễ Kư, quyền 17, tr. 9b-10s.
[38] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương Tống, sách đă dẫn, tr. 314.
[39] Với chữ đạm này, triết gia Francois Julien đă viết thành cảo luận Eloge de la Fadeur, Gallimard, Paris 1997..
[40] Theo sách Hậu hán Thư, vợ Nhu Trọng khuyên chồng trong cảnh từ quan ẩn dật chớ nên buồn v́ con ḿnh chẳng được bằng con người khác
[41] Hai lăo Trong, tên là Cầu Trọng  và Dương Trọng hai ẩn sĩ thường được nhắc nhờ  tới trong thơ văn cổ
[42] Sách Liệt Nữ Truyện chép sự tích vợ Lăo Lai là người khuyên chồng là lăo Lai không ra làm quan với vua nhà Chu.
[43] Quản Trọng và Bảo Thúc là gương sáng cho t́nh bạn trong sử Trung Quốc.Bảo Thúc chăm lo cho Quản Trọng suốt đời khiến Quản Trọng phải thốt thành lời: “Sinh ra ta là cha mẹ ta nhưng hiểu ta là Bảo Thúc”.
[44] Quy Sinh và Ngũ Cử là truyện cổ Trung Quốc chép trong sách Tả Truyện làm gương cho t́nh bạn không đổi từ lúc hàn vi cho tới khi vinh hiển .
[45] Paul Jacob, Tao Yuan Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn, p. 68.
[46] Nguyện Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa, NXB Trẻ, Saigon tái bản, 1991, tr.368-369.
[47] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bản, tại Hoa Kỳ, tr. 270.
[48] Trần lê Sáng, Phùng Khắc Khoan, Cuộc Đời và Thơ Văn, nhà xuất bản Hà Nội 1985, tr.48-49.
[49] Thiếu một vài chữ trong máy tính dể chép bản chũ nho.
[50] Đường Thi Tam Bách Thủ,  sách đă dẫn,
 tr. 244