Như đă bàn trong đoạn viết về bài Di Chúc, Nguyễn Khuyến về hưu năm 50 tuổi và ông dặn bảo con ghi lên bia mộ ông ḍng chữ :
quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu
Điều này làm người đọc có thể hiểu là việc cáo quan của ông là việc khiến ông hài ḷng nhất trong suốt cuộc đời. Hiểu như vậy, trong những trang kế tiếp, cảo luận này theo rơi truyện ông cáo quan trong thơ của ông.
Điểm đáng chú ư là việc ở hay về là một việc bất cứ nhà nho nào đă từng đem sở học ra pḥ vua giúp nước đều phải đương đầu khi cao tuổi. Thế mà trong thơ, kề từ ngày Nguyễn Khuyến trở lại Vườn Bùi người đọc thường gặp những h́nh ảnh tiêu biểu của Đào Tiềm. Ai cũng biết là Đào Tiềm, qua bài Quy Khứ Lai Hề Từ, đă là nguồn thi hứng cho hầu hết những nhà thơ đời đời sau ông, trong ḍng thơ về truyện ở hay về trên toàn cơi Đông Á. H́nh ảnh ba luống cúc, năm cây liễu rồi ư muốn nghỉ việc quan v́ ra làm quan không v́ năm thưng gạo đă là những h́nh ảnh cổ điển hay đúng hơn, không it th́ nhiều đă quen thuộc với người đọc thơ Đông Á. Ngoài những h́nh ảnh kể trên, Đào Tiềm c̣n được xưng tụng v́ nết ưa rượu. Thoại kể rằng ông ra làm quan, công điền nhà vua cấp cho ông, ông bắt cấy nếp đễ lấy gạo nấu rượu. Bà Đào Tiềm phải van nài măi ông mới cho phép cấy một it lúa tẻ đề cho gia đ́nh ông đủ bát ăn.
Ngoài đức uống rượu, Đào Tiềm c̣n nổi danh v́ góp tiếng cười vào Ba Tiếng Cười Suối Hổ, Tam Tiếu Hổ Khê. H́nh ảnh Đào Tiềm bên Suối Hổ, là h́nh ảnh tiêu biểu cho Đào Tiềm trong những năm tháng cuối đời ông. Trong tiểu sử Đào Tiềm, A. R Davis 25 trích sách Lư Sơn Tạp Kư của Mao Đức Kỳ cho biết là từ khi từ quan, Đào Tiềm về ở ẩn tại đất Lật Lư , thường lui tới Chùa Đông Lâm, lúc đó nhà sư Tuệ Viễn chủ tŕ. V́ mến Đào Tiềm, nhà sư Tuệ Viễn phá lệ, cho người đi mua rượu để tiếp đón Đào Tiềm. Tuệ Viễn là người đă sáng lập ra phái Tịnh Thổ và Bạch Liên Hội vào năm 402 26. Hội Bạch Liên này c̣n tồn tại tới nay. Trích sách Lư Sơn Kư, A. R. David cho hay thêm là bên chùa Đông lâm có một con suối nhỏ, tại đó có nhiều hổ, mỗi khi nhà sư Tuệ Viễn bước qua suối th́ đàn cọp gầm lên vang dội. Do dó ḍng suối mang tên là Hổ Khê, hay Suối Hổ. Một hôm nhà sư Tuệ Viễn tiễn Đào Uyên Minh và nhà nho đạt đạo Lục Tu Tỉnh, vô t́nh bước qua ḍng suối, ba người bàn bạc cười nói át cả tiếng hổ. H́nh ảnh ba người cười nói này gợi hứng cho họa sư Thạch Khác, thế kỷ thứ X, vẽ thành bức Tam Tiếu Hổ Khê, sau đó Tô Đông Pha, đời Tống, có viết một bài tán bức tranh này. Trước đó, đời Đường, Lư Bạch có bài Tứ Tuyệt đầu đề là Biệt Đông Lâm Tự Tăng cũng lấy hứng từ truyện kể trên. Ngày nay, bức ảnh và truyền thuyết về Tam Tiếu Hổ Khê là tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa tam giáo, Nho Lăo Phật. Riêng đối với Đào Tiềm, sau khi từ quan về Lật Lư vui cảnh đồng ruộng, phải chăng Đào Tiềm cũng đổi hướng cuộc sống, quay về cơi diệu huyền của Lăo Giáo vào khúc cuối đời?
Trở lại với thơ Nguyễn Khuyến, người đọc thấy nết hay rượu cũng là một nét đặc thù của người thơ. Hơn nữa, hơi khác với Đào Tiềm là ngoài những bài thơ bàng bạc sắc Đạo, Nguyễn Khuyến c̣n có nhiều bài khác mênh mang mầu Thiền.
Trong ḍng thơ Việt Âm, Nguyễn Khuyến viết nhiều bài ghi lại ỳ muốn noi gương Đào Tiềm về sống với ruộng vườn. Bài thứ nhất là bài :
dịch là
Hai câu kết cho người đọc thơ thấy ước mong của Nguyễn Khuyến sóm được quay Vườn Bùi sống vui cảng điền viên như Đào Tiềm trước mười lăm thế kỷ.
Bài thứ hai là bài :
dịch là
Để có căn bản đối chiếu thơ Đào Tiềm và thơ Nguyễn Khuyến, trên mach thơ đi từ việc buông bỏ vật thể ngoại thân, từ quan về vườn rồi chuyển dần tới lẽ huyền, người đọc thơ xin chép lại đây bài văn vần nổi danh của Đào Tiềm:
dịch là
Bài từ trên đây dường là nguồn hứng của Nguyễn Khuyến sáng tác bài hát nói
Bài hát nói trên đây tương ứng với bài từ Việt Âm:
Điểm đặc sắc của Bài Bùi Viên Cựu Trạch Ca là nhịp điệu hát nói của bài thơ Việt Âm. Đó cũng là điểm đặc biệt để ǵới nghiên cứu âm nhạc trong thi ca đào sâu .
Cảnh Đào Tiềm diễn tả trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ là cảnh thơ ngày ông từ quan trở về Lật Lư. Đó cũng là cảnh thơ Nguyễn Khuyến ghi lại trong bài Trở Về Vườn Cũ ngày ông từ quan trở về Vườn Bùi. Ngày đó Đào Tiềm mới ngoài bốn mươi và Nguyễn Khuyến ngoài sáu mươi. T́nh thơ hai người có nhiều điểm tương đồng. Trong bốn câu đầu bài Quy Khứ Lai Hề Từ, Đào Tiềm tự nhủ với ḿnh là phải quên truyện mà ông tự coi là lầm đường để nh́n về tương lai. Câu truyện đó phải chăng là truyện ông đă ra làm quan? Hai câu đầu bài Trở vể Vườn Bùi Nguyễn Khuyến cho hay ông là nay ông đă già mới được trở lại chốn cũ sau bốn mươi năm xa cách.
Trở lại bài Quy Khứ lai hề Từ, tới tám câu tiếp theo, Đào Tiềm tả một cách tường tận tử lúc thuyền gần tới bến, từ xa ông nh́n thấy mái nhà thanh bạch của ông, tới lúc ông tới cổng được các con cùng tiểu đồng của ông ra đón, vào tới nhà cơm rượu đă sẵn sàng ông nhấp rượu nh́n hàng cây cảnh,tựa song nam cám ơn trời đă cho ông dùng đủ hàng ngày. Tiếp tới là bốn câu mô tả cảnh ông ḥa ḿnh với tụ nhiên trong nhưng ngày đầu tiên trở lại quê xưa. Gậy cầm trong tay, tựa bên gốc thông ông thấy cánh chim chiều đang bay về tổ, và ngẩng nh́n ra xa ông chỉ thấy mây tỏa bồng bềnh. Con chim về tổ này phải chăng tượng trưng chính ông, mây tỏa chân trời kia phải chăng là cảnh phù hoa nơi đô hội mà ông đă để lại sau lưng?
Trở lại bài Trở Vê Vườn Cũ, hai câu ba và bốn dường như Nguyễn Khuyến tự nhủ là, nay đă về già, thú lâm tuyền là thú chăm sóc mấy chồi cây ngay trong sân nhà, và thứ đọc sách, bạn với ông Huyện Bành Trạch Đào Tiềm với Ôn Công Tư Mă Quang, làm thơ uống rượu, bởi nay tóc đă bạc rồi, truyện t́m gặp Lỗ Hầu, trổ tài trị quốc b́nh thiên hạ, trong t́nh thế nương dâu băi biển là giấc mơ đả tàn. Rồi ông ngâm câu đầu tiên của bài Quy Khứ Lai Hề Từ :
Quy khứ lai hề hồ bất quy..
H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cao cuối trời tiêu biểu chi ư muốn từ quan về ẩn trên đây cũng là hai h́nh ảnh Nguyễn Khuyến dùng trong bài :
dịch là
Trong bài thơ trên, h́nh ảnh con chim chiều về tổ trong thơ Đào Tiềm chuyển biến thành con chim tránh rét trong thơ Nguyễn Khuyến, mây đùn đầu núi trong thơ Đào Tiềm chuyển thành đám mây khói trên bụi lau. Con chim trốn lạnh phải chăng vẫn tượng trưng cho người thơ muốn về hưu, và đám mây khói trong bụi lau phải chăng vẫn là h́nh ảnh cuộc đời làm quan mà tác giả đă để lại trong triều? Đằng khác, h́nh ảnh đồng lúa chín vàng, thửa ruông thiếu mưa chưa cày để trồng khoai trồng đỗ, tác giả nh́n thấy bên đường, là nhưng h́nh ảnh gần như it ai dùng trong thơ Việt Âm và thơ nôm. Đưa những h́nh ảnh đó vào bài thơ ghi lại buổi giă biệt kinh đô về nghỉ hưu, phải chăng Nguyễn Khuyến bắt đầu suy nghĩ về mối ưu tư cửa nhà nông thay v́ những ưu tư v́ vua v́ nước? Về mặt văn học, h́nh ảnh đồng lúa ruộng khoai vườn đỗ cũng là những h́nh ảnh thường gặp trong thơ Đào Tiềm, khiến người đời sau đồng thanh chấp nhận Đào Tiềm là người khơi nguồn cho ḍng thơ điền viên Phải chăng những h́nh ảnh đó trong thơ Nguyễn Khuyến đă khiến nhiều nhà phê b́nh cũng coi Nguyễn Khuyến là một nhà thơ Điền Viên?
H́nh ảnh con chim chiều về tổ và đám mây đùn cuối trời cùng h́nh ảnh lũ con đứng bên cổng mừng cha và h́nh ảnh tiểu đồng đón chủ, ngày Đào Tiềm về tới nhà cũng là h́nh ảnh sống động chủ chốt Nguyễn Khuyến dùng trong bài
dịch là
Chú tiểu đồng nhanh nhẩu trong thơ Đào Tiềm đổi thành h́nh ảnh ông bạn già người cùng xóm biến đổi bài thơ khởi hứng từ thơ Trung Quốc thành một bài thơ nôm mang mầu sắc làng xóm Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một điểm đặc biệt trong thơ Nguyễn Khuyến.
Dầu là ở Trung Quốc hay ở Việt Nam, cuộc sống của nhưng ông quan về hưu cũng có nhiều điểm giống nhau. So sánh cuộc sống của Đào Tiềm tại Lật Lư với cuộc sống của Nguyễn Khuyến ở Vườn Bùi, qua nửa thứ hai của bài Quy Khứ Lai Hề Từ, dường như Đào Tiềm có phần vất vả hơn Nguyễn Khuyến. Đào Tiềm phải nhúng tay vào việc canh tác: ông phải đánh xe mui, chèo thuyền nan đi coi đồng cùng bạn điền:
Cuộc sống lao động không làm ông mệt mà trái lại cho ông nhiều giây phút sảng khoái, cũng như nhiều th́ giờ ngắm cảnh đồng quê:
Trở về với thơ Nguyễn Khuyến người đọc nhớ tới bài:
dịch là
Việc đống áng bận rộn ngày hè làm nguyễn Khuyến xốn xang, nhưng qua bái thơ trên đây, dường như ông không phải trực tiếp mó tay vào một việc ǵ như Đào Tiềm.
So với Nguyễn Khuyến, trong mùa gặt hái, Đào Tiềm dường như bận rộn hơn nhiều. Đào Tiềm ghi lại cảnh bận rộn đó trong bài ngũ ngôn dưới đây 31:
dịch là
Giới nghiên cứu thơ Đào Tiềm cho rằng chữ đạo Đào Tiềm dùng trong câu thứ nhất bài thơ này là đạo Khổng. V́ hai chữ Thư và Nịch trong câu thứ 17 đưa người đọc thơ về sách Luận Ngữ, thiên XVIII: Vi Tử, chương 6, Lê Phục Thiện dịch như sau 32:
Trường Thư, Kiệt Nịch đang cùng nhau cày ruộng. đức Khổng Tử đi qua, sai thầy Tử Lộ hỏi thămbến đ̣. Trường Thư hỏi: “Người cầm cương ngựa ngồi trên xe là ai?” Tử lộ đáp: “Là Thầy Khổng Khâu”. Trường Thư hỏi:”Có phải Khổng Khâu nước Lỗ không?” Tử Lộ đáp; “Phải”. Trường thư nói:: “Phải th́ đă biết bến đ̣ rồi”.
Tử Lộ lại
hỏi Kiệt Nịch. Kiệt Nịch nói:’ Ngươi
là ai?” Tử Lộ đáp: “Tôi là Trọng Do ».
Kiệt Nịch hỏi: “Có phải là học tṛ
Khổng Khâu không?” Tử Lộ thưa rằng:
“Phải”. Kiệt Nịch nói;” Thiên hạ đều
loạn lạc như nước chẩy cuồn cuộn;
Khổng tử sẽ cùng ai thay đổi được?
Vả lại ngươi đi theo kẻ sĩ tránh người
vô đạo, sao bằng ta đi theo kẻ sĩ tránh
đời?” Kiệt Nịch lại tiếp tục
bừa phủ lúa giống, không ngừng.
Tử Lộ đi đến xe tŕnh
lại. Đức Khổng Tử ngậm ngùi nói rằng:
“Loài chim, loài thú không thể cùng người ta họp
bầy. Nếu ta không thân với mọi người th́
thân với ai? Nều thiên hạ có đạo, Khâu này không
cần phải sửa đổi nữa.”
Qua chương Luận Ngũ trên, Chu Hy cho thấy là Trường Thư và Kiệt Nịch là hai người ở ẩn. Ngẫu là cùng nhau cày ruộng. Câu truyện xẩy ra khi Khổng Tử tử nước Sở trở về nước Thái.
B́nh chương sách này, Tŕnh Tử nói rằng: “Thánh nhân không dám quên nhăng việc thiên hạ, nên nói như thế.” Trương Tử nói rằng: “Ḷng nhân của Thánh Nhân không v́ kẻ vô đạo mà bỏ mặc việc thiên hạ, nên ngài luôn luôn cố gắng t́m cách giúp đời”.
Trở lại bài thơ của Đào Tiềm. Sau một ngày mùa gặt với công việc đồng áng nặng nề, tắm rửa xong, nhấp một đấu rượu, nằm nghỉ bên hiên, nhớ tới hai ẩn sĩ Trương Thư và Kiệt Nịch, thấy là ước mong trị nước b́nh thiên hạ không thắng nổi ước mong được sống tiếp trong hoàn cảnh vất vả chân tay nhưng đầu óc thư thả hiện tại. Phải chăng v́ vậy, Đào Tiềm cảm thấy việc về với ruộng vườn của ḿnh là một quyết định thích đáng?
Niềm vui của Đào Tiềm trong cảnh cáo quan về với ruộng vườn, dầu có vất vả tay chân, khiến người đọc thông cảm với mối lo của Nguyễn Khuyến bị triệu ra làm quan, trong bài:
dịch là
Về nghỉ hưu đă sáu năm, lại thêm đau ốm, Nguyễn Khuyến vẫn lo bị vua triệu ra làm quan. Như con chim từng bị trúng tên, nay sợ làn cây cong, Nguyễn Khuyến thấy bóng sai nha là đă lo, nhưng lần này lại mừng là nha lại lầm nhà lạc lối. Thoát ṿng danh lợi, lại không vất vả tay chân, như vậy phải chăng chính là điều hợp với sở thích của Nguyễn Khuyến? Hơn nữa, vui niềm vui sống cùng làng say phải chăng chính là niềm vui của cả hai người thơ Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến?
Nhàn rỗi, Nguyễn Khuyến chống gậy đi dạo quanh thăm bà con. Đó là những dịp cảnh xóm làng gợi hứng cho ông viết những bài mô tả cảnh quê linh động, tỷ như bài:
Tác giả tự dịch là:
Bài Hạ Nhật Phỏng Biểu Huynh Đặng Thai Quy Tác của Nguyễn Khuyến có một vài điểm tương ứng với bài sau đây của Đào Tiềm:
dịch là
Giới nghiên cứu về thi văn Đào Tiềm cho rằng Đào Tiềm sáng tác bài Hoàn Cựu Cư này năm ông mới chừng ba mươi lăm tuổi, và đă về nghỉ lần thứ nhất 33. Trong thơ Đào Tiềm kể rằng Thượng Kinh là nơi ông sống cùng gia đ́nh trong một thời gian, sau đó dời về quê đă được sáu năm, bữa đó ông có dịp qua thăm ngôi nhà cũ. Cảnh trí quanh ngôi nhà cũ làm ông xúc động, liên tưởng tới lẽ vô thường. Ông trở vể với sách Lẽ Kư để thấy đời người có bốn lần đại hóa, tiêu biểu bằng h́nh ảnh lạnh nồng, tưong ứng với hai mùa nóng lạnh trong một năm, từ một thiếu nhi thành một thiếu niên, rồi thiều niên thành thanh niên, thanh niên thành trung niên và trung niên lên lăo niên. H́nh ảnh Đại Hóa ngừng xoay là h́nh ảnh cái chết. Cái chết tới lúc khi lực ông chưa suy. Giới Hán Học giảng chữ suy này bằng sách Lễ Kư, Chương Vương Chế :
nghịa là [sức khỏe] suy kém lúc tuổi chưa đầy năm mươi. Như vậy, qua hai câu 13 và 14 trong bài thơ Đào Tiềm tỏ ư lo sợ ông sẽ chết trước năm năm mươi tuổi. Ông cố quên ư nghĩ chết chóc đen tối này bằng cách uống cạn một thưng rượu cho say li b́.
Trở lại bài Đến Chơi Nhà Bác Đặng. Nguyễn Khuyến chống gậy từ nhà ông ở thôn vị Hạ sang nhà người anh con cô con cậu ruột với ông là cụ Đặng Ư ở thôn Vị Thượng. Hai anh em ông cùng đă râu tóc tuổi tác qua câu:
Câu này chảng khác ǵ câu ông khóc Dương Khuê:
Cái biến đổi trên bản thân dường như nhắc nhở Nguyễn Khuyến những đổi dời ngoại thân tại thôn Vị Thượng:
Cuộc dạo chơi này chính là cảnh thơ của bài Hoàn Cựu Cư của Đào Tiềm. Nhưng khác với cảnh hoang vu của Thượng Kinh trong thơ Đào Tiềm, dường như thôn Vị Thượng vẫn c̣n giữ được trù phú với qua h́nh ảnh con trâu già ph́ pḥ bên bụi cây, và qua tiếng chó sủa bên kia ao. Tiếng chó sủa bên kia ao gợi cho người đọc nhớ tới chương 80 sách Đạo Đúc Kinh của Lăo Tử 34. Cho đến đây, bài Đến Chơi Nhà Bác Đặng của Nguyễn Khuyến dương như tương ứng với bài Hoàn Cựu Cư của Đào Tiềm. Nhưng từ câu thứ năm thơ Nguyễn Khuyến tách dời thơ Đào Tiềm. Hai câu kế tiếp:
có lẽ đây là bức tranh điền viên nổi tiếng nhất trong ḍng thơ nôm. Đồng thời hai câu này c̣n gợi cho người đọc hiểu cái ư ngoài lời của tác giả gửi gắm trong bài thơ. Con trâu già nằm nghỉ dưới bóng cây c̣n thở ph́ ra hơi nóng phải chăng chính là h́nh ảnh vị hưu quan thôn Vị Hạ? Tiếng chó sủa bên kia bờ ao là h́nh ảnh một làng nhỏ yên b́nh, có thể coi là lư tưởng, trong sách Đạo Đức Kinh, của Lăo Tử, nhưng trong mạch thơ Nguyễn Khuyến ở đây, phải chăng người đọc có thể coi h́nh ảnh đó là h́nh ảnh tiêu biểu cho điều Nguyễn Khuyến buông bỏ thế sự mặc bọn đàn em lo liệu?
Trong hai câu kết, Nguyễn Khuyến không về sách Lễ Kí như Đào Tiềm mà về sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử:
Tiếng sáo lưng trời đây không phải là tiếng sáo diều quen thuộc chốn đồng quê, mà là tiếng sáo trời mà Trang Tử đă mô tả trong sách Nam Hoa Kinh, đoạn mở đầu chương thứ hai Tề Vật Luận: 35:
Nam Quách Tử Kỳ ngồi dựa ghế, [...] Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước mặt. [...]
Tử Kỳ nói:
- [...] Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của đất mà chưa nghe tiếng sáo của trời [...]
Tử Du nói:
- Tiếng sáo đất là tiếng ḥa của muôn khiếu. Tiếng sáo của người là tiếng ḥa của ống trúc. Dám xin hỏi thế nào là tiếng sáo của Trời?
Tử Kỳ nói :
- Ḱa như gió thổi khiến muôn tiếng đồng vang lên, nhưng lại khiến cho nó tự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là ǵ đấy?
C̣n cái ông suốt hôm sáo thổi lưng trời phải chăng chính là ông Trời hay chính là Đạo? Trang Tử trả lời câu hỏi này trong đọn mở đầu chương Thiên Vận, sách Nam Hoa Kinh 36:
Trời vận động chăng? Đất ở yên chăng? Mắt trời mặt trăng tranh chỗ chăng? Ai chủ trương những cái ấy? Ai giữ giàng những cái ấy? [...] Gió nổi từ phương Bắc, một Tây, một Đông, cái lồng bốc lên xoay quanh. Ai thở hót những cái ấy? Ai ở rỗi không việc mà phe phẩy những cái ấy? Dám hỏi : Cớ ǵ?
Vu Hàm Siêu nói :
- Lai đây! Ta bảo mi : [...] Thế gọi là Thượng Hoàng..
Trở về Lật Lư Đào Tiềm viết trong bài Quy Khứ Lai Hề Từ, dịch là
Chuyến này về thực về rồi
Lời chào nhắn gửi cùng người tới lui
Mùi đời chẳng hợp ngán mùi
Lẽ nào gắng gượng kíp lùi hóa hay
Xóm làng thân thuộc xum vầy
Vui cùng đèn sách tháng ngày rảnh thân
Uớc mong này của Đào Tiềm cũng là điều Nguyễn Khuyến thật sự sống trong những tháng năm về ở Vườn Bùi.
Năm Nguyễn Khuyến năm mươi lăm tuổi, ông theo lệ làng lên lăo và ông ghi lại h́nh ảnh ngày đó trong bài:
Hai câu năm và sáu cho thấy là tác giả đă buông bỏ nhưng thành đạt khoa hoạn của ḿnh, coi đó như ngoại vật, và hoà ḿnh cùng bà con lối xóm.
Nguyễn Khuyến ghi lại nét thanh đạm nhân ngày ông có bạn, (phải chăng là một người bạn cũng thành đạt như ông trên đường khoa hoạn) tới thăm ông, trong bài thơ nôm, mà người Việt Nam không mấy ai không biết:
Đă nhiều người b́nh giải bài thơ này. Ngay đầu đề bài thơ cũng chép khác nhau : có đầu đề là Gặp Bạn Ngồi Chơi Suông, có đầu đề khác là Suông T́nh. Người th́ cho là bởi ông bạn tới thăm với hai tay không, khiến Nguyễn Khuyến khởi hứng viết bài thơ trên đây trách nhẹ. Có người lại giảng là ông khách tới chơi không báo trước, khiến Nguyễn Khuyến không sửa soạn kịp để đón tiếp chu đáo, làm bài thơ này để gián tiếp xin lỗi bạn. Có người lại cho rằng Nguyễn Khuyến viết bài thơ này để tŕnh bày với bạn cảnh nhà thanh bạch của ḿnh với hy vọng được bạn gíup đỡ. Cả ba giả thiết đều nghe xuôi tai, nhưng không giả thiết nào đua ra bằng chứng và dường như chỉ là phỏng đoán. Đồng thời khó liên kết được những giả thiết trên với ba chữ ta vói ta.
Người đọc thơ hiểu ba chữ ta với ta này là h́nh ảnh tiêu biểu cái ta của Nguyễn Khuyến và cái ta của ông bạn, hoà hợp thành cái đôi ta tựa như sự hoà hợp của một giọt nước với một giọt nước khác thành một giọt nước độc nhất để tiêu biểu sự ḥa đồng của Nguyễn Khuyến với ông bạn. H́nh ảnh ḥa hợp giữa hai giọt nước tạo nên một giọt nước duy nhất gợi lên cho người đọc thơ, chữ thủy của Trang Tử, chương Sơn Mộc, trong câu 37 :
Nhượng Tống dịch là 38:
Trang Tử nói rơ hơn :
Giao t́nh của tiểu nhân ngọt như rượu ủ. Quân tử nhạt rồi thân. Tiểu nhân ngọt rồi tuyệt.
Như vậy, nếu quả thật mối giao t́nh của Nguyễn Khuyến cùng ông bạn đạm như thủy 39, thời ông bạn tới thăm Nguyễn Khuyến đâu cần mang theo quà cáp, đâu cần phải hẹn trước, cũng như Nguyễn Khuyến đâu cần phải có mâm cao cỗ đầy, cơm gà cá gỏi tiếp đón, hay cần phải có khay trà cơi trâu câu chuyện mới đậm đà. Tất cả ngoại vật đó đều vô nghĩa: Nguyễn Khuyến và ông bạn hoà hợp thành ta với ta trong lẽ huyền của cuộc sống.
Ba chữ ta với ta này dường như không phải là cḥ chơi chữ của Nguyễn Khuyến, mà phải chăng cái t́nh bạn nhạt như nước này đă là nếp sống của những nhà nho như Nguyễn Khuyến, và Nguyễn Khuyến dùng thi tài của ông, qua ba chữ này chuyển dịch chữ nghĩa thánh hiền sang ngôn từ Việt Nam? Hơn nữa, ba chữ ta với ta này phải chăng ngắn gọn biểu lộ cái nhu cầu của cái ta, trong bất kỳ ai, cũng có lúc cần có cái đôi ta?
Đào Tiềm cũng như Nguyễn Khuyến cùng lưu tâm tới việc răn dậy các con. Đào Tiềm đề lại môt bài văn xuôi như một lá thư ông viết cho con trưởng là Nghiễm và các em như sau:
dịch là
Bài Răn Nghiễm và Đàn Em
Răn Nghiễm, Sĩ, Phận, Dật, Đồng Mệnh trời đất, có sinh là có chết. Từ cổ xưa, thánh hiền chẳng ai thoát khỏi mệnh này. Tử Hạ nói : chết sống do mệnh, giầu sang bởi trời.. Bốn bạn đều ghi lời.Lời này ngụ ư là thành đạt không nên vội vàng đeo đuổi, thọ yểu không thể cầu xin mà được.
Cha nay đà quá năm mươi, thời trẻ cùng khổ, gia đ́nh nghèo khó, khiến phải bôn tẩu hết đông lại tây. Tính th́ cương trực, tài th́ vụng về, thêm thói hay điều chống đối. Tự xét cảnh ḿnh, c̣n bôn ba c̣n hoạn nạn. Nên ta từ giă từ cuộc sống đưa tranh, khiến các con gặp cảnh đói rét. Ta thường cảm nhớ lời bà vợ hiền của Nhu Trọng40. Thân mặc áo vải thô, ta đâu thẹn với đàn con . Đó là một điều [khiến ta từ quan] Mà ta hận xóm làng không có ai như hai lăo Trọng 41, trong nhà không có ai đáng xánh vời vợ lăo Lai 42.Nỗi khổ tâm đó khiến ta cảm thấy quanh quẽ cô đơn.
Khi c̣n trẻ ta chuyên đọc sách và chơi đàn. Bỗng thành tật chỉ thích nhàn tĩnh. Mở quyển sách thấy điều đắc y mải mê đọc tới quên ăn. Khi nh́n thấy cây giao bóng, nghe thấy chim đồi tiếng hót là lúc ta vui vẻ thỏe thê trong ḷng. Và kỳ tháng năm tháng sáu, năm bên sing Bắc đón ngọn gió mát, ta thấy sung sướng chẳng khác ǵ vua Phục Hy thời thượng cổ.
Ư nông biết cạn, nhưng lời này cũng đáng qúy. Ngày qua tháng lại ta chẳng ham điều kỹ xảo.Nh́n lại truyện qua, mọi điều điều mờ mit. Từ ngày bệnh hoạn, sức suy lực giảm Người thân kẻ thuộc thuốc thang nâng dấc. Nhưng ta vẫn e số trời có hạn.
Con c̣n trẻ, nhà lại nghèo, không nơi tựa nương. Gánh củi quảy nước việc ǵ chẳng tới tay, điều đó bận ḷng ta mà chẳng biết nói sao. Các con tuy chẳng cùng một mẹ, nên phải nghĩ đến điều bốn bể cũng là anh em. Bảo Thúc Quản Trọng43 lợi lộc chia đều. Quy Sinh Ngũ Cử 44 nằm chiếu gai bàn sách cổ, v́ đổi bại mà thành, v́ thua nên công.. Đó là truyện người dưng, huống chi là anh em cùng một bố.Hàn Nguyên Trường người đất Toánh Xuyên, đời mạt Hán, làm quan tới bậc khanh tá, sống ngoài tám chục, anh em sống cùng nhau cho tới ngày răng rụng.Phạn Trĩ Xuân, người Tế Bắc, lừng danh đời Tấn, bẩy đời hân hoan chung sống một nhà.
Kinh Thi có câu :
Ngẩng nh́n núi cao
Thẳng đường bước rảo
Bằng chưa làm nổi, con hăy để tâm. Ǵn giữ thân con. Cha nay dứt lời.
Trong ḍng thơ gửi cho đàn con, ngoài bài giới trên đây, Đào Tiềm c̣n để lại loạt bài 命子, Mệnh Tử gồm mười bài mỗi bài tám câu mỗi câu bốn chữ, và bài ngũ ngôn 青子 Thanh Tử dài mười bốn câu. Căn cứ vào ba áng thơ văn này, giới nghiên cứu đồng ư rằng Đào Tiềm không bắt buộc đàn con sống đời nông dân như ḿnh và cho con ăn học rồi tùy con chọn con đường xuất xử cho ḿnh. Ông tỏ lời hối tiếc v́ ư muốn về sống với vườn ruộng của ḿnh khiến đàn con bị thiệt tḥi trên đường học vấn. Giới nghiên cứu kết luận là Đào Tiềm dậy con theo đường lối Khổng Học 45.
Trong ḍng văn học Trung Quốc, trước Đào Tiềm có Khổng Minh Gia Cát Lưọng, nggười đời Tam Quốc, vốn là ẩn sĩ ở Nam Dương, sau nể t́nh ra giúp Lưu Bị, làm tướng trị nước Thục, cũng để lại một lá thư viết cho con, Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân trích dịch như sau 46:
[...] Việc làm của người quân tử: tĩnh để tu lấy thân, kiệm để bồi dưỡng lấy đức. Nếu không đạm bạc, th́ không thể nào sáng được cái chí. Nều không ninh tĩnh th́ không thể nào đi xa được.
Lấy lư mà nói: muốn học cần phải tĩnh, có tài cần phải học. Không học th́ không rộng được cái tài; không tĩnh th́ không thành được cái học. Lười biếng khinh mạn th́ chẳng thể biết dược tường. Hiểm hóc táo bạo th́ chẳng thể sửa được tính.
Mỗi năm một tuổi, mỗi tuổi một kém, rồi thành ra con người khô héo, dài thở van ngắn trong chỗ xó nhà, bấy giờ mới hối th́ con sao kịp nữa [...]
Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bàn lời Gia Cát Lượng như sau:
Có những thói xấu như nông nổi, thô thiển, khinh bạc, người thường c̣n hại vừa, người thông minh hại mới nặng. Hại nặng nghĩa là thiệt đời tài hoa như không. Cho nên Khổng Minh dạy con phải theo gương quân tử ngay từ thủa c̣n ít tuổi cho thành thói quen. Quân tử dùng cách ǵ để tu thân, để dưỡng đức, để có tài năng, để thành học nghiệp, để rộng được trí thức, để gánh vác được công việc trọng đại ở đời. Ông nói tóm tắt mà rất phân minh. Câu “Mỗi năm một tuổi ...”lại càng thống thiết. Ư ông lại c̣n mong cho conlàm thế nào để cho tư tưởng cũng ăn nhịp với thời đại mà một ngày một tiến bộ măi lên, chớ đùng để tư tưởng cứ cùng theo tuổi lăo đại mà cằn cỗi dần th́ ươn hèn lắm. Nói tóm: Ông chú ư mong con sao thành người đừng để sau hối mà nhỡ hóa ra con người sống thừa ở đời vậy.
Trong văn học Việt Nam, theo Dương Quảng Hàm 47, Nguyễn Trăi (1380-1422) sáng tác tập Gia Huấn Ca, gồm sáu bài ca:
1. Dạy vợ con,
2. Dạy con ở cho có đức,
3. Dạy con gái,
4. Vợ khuyên chồng,
5. Dạy học tṛ ở cho có đạo,
6. Khuyên học tṛ phải chăm học
Tác giả chủ ư mang nhưng điều cốt yếu trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà con trẻ đọc.Tuy nhiên tác giả quyển sách này thực sự là ai vẫn c̣n là một nghi vấn trong văn học sử.
Đối với giới nhà nho Việt Nam, bậc cha anh thường ngăn cản con em đọc thơ thơ văn Đào Tiềm.Theo Trần Lê Sáng 48 viết trong cuốn Phùng Khắc Khoan Cuộc Đời và Thơ Văn:
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong thời gian theo học Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, học rất gịi, “người Đông Bắc chẳng ai không biết tiếng”nhưng thường đi chơi với bạn đạo sĩ Vân Canh, thân phụ sợ Khắc Khoan chểnh mảng việc học đă gửi cho Khắc Khoan bài thơ [chép trong Ngôn Chí Thi Tập, Quyển 1] như sau:
Trần Lê Sáng dịch là:
Khi nhận được thư của cha, Khắc Khoan có trả lời. Ư nói ông vẫn chăm chỉ học nghĩa lư Khổng học, song ngoài cái đó, ông c̣n muốn học cái hay trong văn chưong Đào Tiềm. Bài họa làm đủ tám câu [Trần Lê Sáng] trích hai câu 3 và 4 như sau:
Nghiên ma nghĩa lư tâm vi lệ
Đoàn luyện văn chương lực tự đào.
dịch là
T́m sâu nghĩa lư ḷng nghiền ngẫm
Tham cứu văn chương sức tự rèn
Theo Phùng Khắc Khoan, ghi trong Ngôn Chí Thi Tập, sự việc này xẩy ra vào năm Ất Tỵ, 1545, năm ông mười tám tuổi.
Đoạn trích dẫn trên đây cho thấy nhà nho Việt Nam dưới đời Lê Mạt coi thơ văn Đào Tiềm, không những là một thứ ngoại thư mà c̣n là sản phẩm có thể làm loạn tâm thuật người đi học, chẳng khác ǵ sách Lăo Trang.
Trở lại thơ Nguyễm Khuyến, trên mạch thơ răn dậy các con, người đọc thấy Nguyễn Khuyến để lại trong thơ Việt Âm sáu bài, trong số dó có một bài ông dịch sang thơ nôm.
Bắt đầu là bài Nguyễn Khuyến dậy con nhân ngày đầu xuân :
dịch là
Trong lời Nguyễn Khuyến dạy con trên đây, người đọc nh́n thấy nhiều h́nh ảnh tiêu biểu cho nề nếp nhà nho. Truóc hết là điểm Nguyễn Khuyến nói tới hai chữ 君恩 quân ân, tức ơn vua, gợi cho người đọc nhớ tới lề thói quân sư phụ. Rồi tới câu thứ sáu:
Lề nho đói rét chẳng ai ngại ngần
vẽ nên h́nh ảnh Nhan Hồi, một giỏ cơm một b́nh nước, sống ngơ hẻm mà vẫn vui của sách Luận Ngữ.
Tiếp tới là bài :
Xuân Nhật Thị Chư Nhi49
kỳ II
Đồi nhiên mao phát tiệm sam sam
Bất giác niên đăng ngũ thập tam
Đương thế văn chương hà sở dụng
Lăo lai quan đái thượng đa tàm
Loạn ly vô sắc chân vô lại
Ư khổ nhân t́nh cử bất kham
Đối thử quan âm hà dĩ úy
Chư nhi do tự tửu ca hàm.
Tác giả tư dịch là:
Ngày Xuân Dạy Các Con
Tuổi thêm được tóc râu phờ
Nay đă năm mươi có lẻ ba
Sách vở ích chi cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lăi thẹn thân già
Xuân về ngày loạn càng lơ láo
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng
Sao con đàn hát vẫn say sưa.
Đầu đề nói rơ là đầu xuân dạy các con, nhưng nội dung bài thơ dường như lời tác giả nói với chính ḿnh nhiều hơn. Nguyễn Khuyến than tuổi già làm râu tóc bơ phờ. Tất cả sự nghiệp của ông sau ngoài nửa thề kỷ sống trên cơi trần này là hai chữ khoa hoan. Chữ khoa là sách vở thánh hiền, gặp thời loạn đối với ông không c̣n chỗ hành đạo. Chữ hoạn là việc ra làm quan giúp vua trị nước th́ nay thân đă già, mũ cao áo dài không c̣n là điều thích thú. Hai câu đầu Nguyễn Khuyến cho biết là ông đă năm mươi ba tuổi và tự cho là ḿnh đă già.
Câu thứ ba nhắc cho người đọc hai câu kết một bài Tự Trào của Nguyễn Khuyến:
Nghĩ ḿnh lại gớm cho ḿnh nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.
Câu thứ tư dường như là ư thơ của câu:
Ghế gậy cân đai thế cũng là
Nguyễn Khuyến viết trong bài Về Nghỉ Nhà.
Rồi tới chữ loạn trong câu thứ câu năm đặt cạnh chữ đàn hát trong câu tám làm người dọc thơ nhớ tới bài tứ tuyệt của Đỗ Mục 50 đời nhà Đường:
dịch là
Hiểu như vậy, người đọc thơ tự hỏi là phải chăng Nguyễn Khuyến cho là ḿnh đă tới tuổi già mọi việc đều trao cho đàn con, và điều ông khuyên nhủ đàn con là phải ư thức về cái thú nghe đàn hát trong thời tao loạn.
Điều đáng lưu ư là điểm khác biệt giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến mà người đọc nh́n thấy qua bài trên đây của Nguyễn Khuyến và bài Quy Khứ Lai Hề Từ của Đào Tiềm. Nguyễn Khuyến, cho ḿnh là già, từ quan lui về thú ruộng vườn không một niềm hối tiếc là ḿnh đă ra làm quan, trái lại ông tự cho là ḿnh đă đáp đến đầy đử ơn vua lộc nước:
Thân này hai bận mười năm đủ rồi.
(Họa Nguyên Vận Thơ Hoàng Tham Tri Tặng Ngày Hồi Hưu)
C̣n về phần Đào Tiềm, ông coi việc ra làm quan là lầm lỡ, may nay về với ruộng vườn kịp thời:
悟 已 往 之 不 諫, 知 來 者 之 可 追
Ngộ dĩ vang chi bất gián, tri lai giả chi khả truy.
實 迷 途 其 未 遠, 覺 今 是 而 昨 非
Thực mê đồ kỳ viễn, giác kim thị nhi tạc phi
dịch là
Việc qua chuộc lại được nào
Từ nay riêng việc mai sau lo lường
Lạc chưa xa dẫu lầm đương
Khôn nay chuộc lại thẹn thùng dại xưa
Trở lại ḍng thơ Nguyễn Khuyến răn dậy các con, người đọc thơ gặp bài:
dịch là
Điểm tương đồng giữa Đào Tiềm và Nguyễn Khuyến vê việc dạy bảo các con là cả hai nhà thơ không bắt buộc các con phải theo chí hướng vui sống với ruộng vườn của ḿnh. Nguyễn Khuyến có người con trưởng là Nguyễn Hoan, học giỏi đỗ cao, được bổ làm quan. Nhân dịp đó, ông viết hai bài tặng con. Một bài là:
dịch là
Nguyễn Khuyến dường nhu lấy kinh nghiệm làm quan của riêng ḿnh để khuyên bảo con. Ông coi việc làm quan là việc nặng nhọc chưc phận càng cao càng thêm gian lao. Ông không nói đến việc trả ơn vua, nhưng ông nhấn mạnh dến truyện ông quan phải chuyên cần để giúp dân. Đó là đơn thuốc làm giảm cái nóng nực trên hoạn lộ ông tặng người con cả của ông.
Như tục ngữ có câu: bàn tay có ngón dài ngón ngắn, không phải tất cả đàn con của Nguyễn Khuyến đều thành đạt trên đường khoa cử như người con cả. Với những người con này, nhân ngày đầu xuân ông có lời răn bảo như sau:
dịch là
Mùa xuân tới là một năm qua, nhưng đó cũng là h́nh ảnh lớp trẻ thay thế lớp già. Cái thực tiễn trước mặt là cảnh thanh bần. Niềm ức vọng cao xa như ngọn núi xa mờ trong mây. Cái vui ngay trước mắt là bụi cúc đơm hoa. Nối chí cha già là chăm việc bút nghiên, nhưng cũng đừng sao lăng việc cấy lúa trồng cà trồng đậu trồng rau. Đó là lời Nguyễn Khuyến răn bảo đàn con.
[25] A.R Davis, T’ao Yun Ming, his works and their Meaning, II, Cambridge University Press, Cambridge, 1983, p 187-188.
[26] Paul Jacob, Tao Yuan Ming, Oeuvres Complètes, Gallimard, Paris 1990 p. 60.
[27] Chưa t́m được bản chữ nho
[28] Chưa t́m được bản chữ nho
[29] Chưa t́m được bản chữ nho
[30] Chưa t́m được bản chữ nho
[31] Đào Uyên Minh Thi Tuyển, sách đă dẫn, tr. 60.
[32] Luận Ngữ, dịch giả Lê Phục Thiện,
nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1992, tr. 667.
[33] Paul Jacob, Tao Ying Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn,
tr. 22.
[34] Lăo Tử Đạo Đúc Kinh, bản dịch
của Nghiêm Toản, Đại Nam tái bản tại
Hoa Kỳ, tr. 387-396.
[35] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nguyễn
Duy Cần,, tr. 174-175
[36] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng
Tống, tr. 236.
[37]
James R.Ware, The Saying of Chuang Chou, Confucius Publishing Co. Đài
Bắc Trung Hoa Dân Quốc năm 69, p.239. Câu này cũng
chép trong sách Lễ Kư, quyền 17, tr. 9b-10s.
[38]
Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhương
Tống, sách đă dẫn, tr. 314.
[39]
Với chữ đạm này, triết gia
Francois Julien đă viết thành cảo luận Eloge de la
Fadeur, Gallimard, Paris 1997..
[40]
Theo sách Hậu hán Thư, vợ Nhu Trọng khuyên
chồng trong cảnh từ quan ẩn dật chớ nên
buồn v́ con ḿnh chẳng được bằng con người
khác
[41]
Hai lăo Trong, tên là Cầu Trọng
và Dương Trọng hai ẩn sĩ thường
được nhắc nhờ
tới trong thơ văn cổ
[42]
Sách Liệt Nữ Truyện chép sự tích vợ Lăo
Lai là người khuyên chồng là lăo Lai không ra làm
quan với vua nhà Chu.
[43]
Quản Trọng và Bảo Thúc là gương sáng cho t́nh
bạn trong sử Trung Quốc.Bảo Thúc chăm lo cho
Quản Trọng suốt đời khiến Quản
Trọng phải thốt thành lời: “Sinh ra ta là cha
mẹ ta nhưng hiểu ta là Bảo Thúc”.
[44]
Quy Sinh và Ngũ Cử là truyện cổ Trung Quốc chép
trong sách Tả Truyện làm gương cho t́nh bạn
không đổi từ lúc hàn vi cho tới khi vinh
hiển .
[45] Paul Jacob, Tao Yuan Ming Oeuvres Complètes, sách đă dẫn,
p. 68.
[46] Nguyện Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Cổ
Học Tinh Hoa, NXB Trẻ, Saigon tái bản, 1991, tr.368-369.
[47] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học
Sử Yếu, Xuân Thu tái bản, tại Hoa Kỳ, tr.
270.
[48] Trần lê Sáng, Phùng Khắc Khoan, Cuộc Đời
và Thơ Văn, nhà xuất bản Hà Nội 1985,
tr.48-49.
[49] Thiếu một vài chữ trong máy tính dể chép
bản chũ nho.
[50] Đường Thi Tam Bách Thủ,
sách đă dẫn, tr.
244