Cái chết dường là một câu hỏi làm con người lo sợ nhất. Câu hỏi đó dường như là câu hỏi chính đặt giữa những thắc mắc của con người về lẽ huyền. Cái chết mang lại cho con người cái ǵ? Ư nghĩa của cái chết là ǵ? Ba câu hỏi đó đă được nhiều nhà triết học tây phương nghiên cứu, nhưng dường như là chưa có ai có câu trả lời xác đáng.
Trong sách Nam Hoa Kinh, Trang Tử, chương Chí Lạc, theo bút pháp đặc biệt của ông, cũng đă từng nhiều phen trả lời những câu hỏi này. Tiêu biểu là đoạn sau đây[11]:
Thầy Trang sang Sở, thấy cái đầu lâu không, có h́nh trọc lốc, xâu bắng chiếc roi ngựa, nhân mà hỏi rằng :
- Kia ngươi tham sống mất lẽ, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có truyện mất nước; có tội ŕu búa mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có nết chẳng hay, thẹn nỗi để xấu cho cha mẹ vợ con, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi chrết đói chết rét mà dến nỗi này chăng? Hay v́ xuân thu ngươi đă đáng thế này chăng?
Nói thế rồi gối chiếc đầu lâu mà ngủ. Nửa đêm đầu lâu hiện lên trong chiêm bao mà rằng:
- Lời ngươi nói giống như kẻ biện sĩ. Phàm những truyện ngươi nói đều là lụy cho đời người. chết th́ không có nhưng cái ấy. Ngươi muốn nghe thuyết chết chăng?
Thầy Trang đáp :
- Phài!
Đầu lâu nói:
- Chết th́ không có vua ở trên, không có tôi ở dưới. Cũng không có truyện bốn mùa. Theo đó lấy Trời Đất làm Xuân Thu. Dù cái sướng của kẻ nghảng mặt sang Nam mà làm vua cũng không thể hơn được
Thầy Trang không tin hỏi
- Tôi sai thần Tư Mệnh làm sống h́nh ngươi; cho ngươi nẩy ra xương thịt, de dẻ; trả lại cha mẹ vợ con, làng xóm, kẻ quen biết cho ngươi. Ngươi muốn thế chăng?
Đầu lâu nhăn mặt nhăn trán mà rằng:
Tôi sao có thể bỏ cái sung sướng của ông vua quay mặt về phương Nam, mà lại chịu cái khó nhọc ở nhân gian?
Tiêu biểu cho con người buông bỏ cái có, dựng như không có h́nh ảnh nào tượng trưng rơ rệt hơn chiếc đầu lâu. Chiếc đầu lâu rỗng, không những không c̣n ǵ là cái có ngoại lai mà cái có nội thân, như bộ năo cũng đă chút bỏ. Câu chuyện của Trang Tử trao đổi với cái đầu lâu trên đây, cho thấy dương như khi chút bỏ cái có đến như h́nh ảnh cái đầu lâu, th́ con người đă đồng nhất được vói cái diệu huyền, hay nói vắn tắt theo ngôn từ Đạo Lăo là con người đă huyền đồng. Trang Tử không cho biết là cơi diệu huyền này như thế nào. Nhưng cái đầu lâu th́ cho ḿnh sung sướng như ông vua, không phải một ông vua bận bịu v́ việc trị nước dẹp loạn, mà một ông vua ngảnh mặt về Nam, ông vua thủa nước nhà thanh b́nh. Trong cảnh đó, cái đầu lâu khước từ không nhận lại những cái có: cha mẹ vợ con làng xóm. Lời khước từ này tương tự như lời Thằng Bờm khước từ ba ḅ chín trâu, ao sau cá mè cùng bè gỗ lim và con chim đồi mồi mà mỉm cười với nắm sôi. Lời khước từ của cái đầu lâu c̣n cho thấy h́nh ảnh của ḍng nước mắt nàng Lệ Cơ sau khi biết mùi sô hoạn bên vua nước Tấn, để hiểu ra tại sao con người trong cơi chết c̣n hối tiếc là đă mong sống dài hơn trên trần thế. Tóm lại Trang Tử cho người đọc thấy là cơi chết không có ǵ đáng sợ, mà dương như Trang Tử muốn cho người đọc thấy là trong cơi chết có thể có lắm điều hấp dẫn.
Phải chăng v́ vậy, trong những bài thơ Nguyễn Khuyến viết về cái chết, trên ba ngả:
. cái
chết của người,
. cái chết
của ta, và
. cái chết
của người thân của ta
người đọc thơ đều không gặp những h́nh ảnh đáng ghê sợ?
Tiêu biểu cho ư thơ về cái chết của người, Nguyễn Khuyến có hai bài. Một là bài :
dịch là
Hai là bài:
dịch là
Riêng với bài Đêm Xuân Thương Con Thiêu Thân, có thời người ta cho rằng tác giả làm bài thơ này khi nghe tin ông nghè Giao Cù, tức Vũ Huy Lợi, người làng Giao Cù, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, chủ mưu đánh chiếm tỉnh Nam Định. Việc không thành, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt và xử chém.
Ngày nay, đọc hai bài thơ trên đây, Nguyễn Khuyến làn lượt thương con thiêu thân chết thiêu trong lửa đèn, và thương con nhặng xanh chết ch́m trong bát canh, người đọc tự hỏi phải chăng hai bài thơ này nối dài ḍng thơ từ bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trăi qua bài Hành Lạc Từ của Nguyễn Du? H́nh ảnh con thiêu thân lao vào lửa đèn đâu có khác h́nh ảnh Ba Di Thúc Tề chê thóc nhà Chu chết đói trên núi Thú Dương và h́nh ảnh con nhặng chết trong bát canh gợi lên h́nh ảnh của Đạo Chích chết v́ tham lợi trên g̣ Đông Lăng. Lấy h́nh ảnh con thiêu thân thay thề h́nh ảnh Bá Di và Thúc Tề và h́nh ảnh con nhặng xanh thay thế h́nh ảnh Chích Cược phải chăng là biệt tài dùng h́nh ảnh thực tế để thay thế điển cố, đưa thơ nôm ra khỏi vùng ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, và vẫn giữ được ư chính tiêu biểu cho việc buông danh bỏ lợi? Điều đáng ghi nhận khác là nếu Nguyễn Khuyến viết hai bài thơ trên đây trước khi từ quan th́ phải chăngNguyễn Khuyến dùng hai cái chết đáng thương của con thiêu thân và con nhặng xanh để tự nhủ ḿnh buông danh bỏ lợi, khi Nguyễn Khuyến đối mặt với truyện từ quan về vườn Bùi?
H́nh ảnh cái chết của người trong thơ Nguyễn Khuyến c̣n đọc thấy trong bài:
dịch là
Trùng dương mưa gió xạc xào
Hưu quan nghèo bệnh rượu vào thơ ra
Xóm Tây có đám ông già
Chuyến này chẳng biết ông qua quê nào
Xương cùng xương sống lạ đâu
Khóc than kèn sáo thêm đau đớn ḷng
Say rồi uống nữa say cuồng
Bầu trời u ám ngoài song ngẩng nh́n.
Tiết trùng dương nhằm ngày 9 tháng 9, khi xưa là ngày các cụ họp bạn uống rượu ngâm thơ, nhưng năm kỷ sửu (1889) này sắp tới lễ Trung Dương th́ trời mưa to gió lớn, Nguyễn Khuyến, đă về hưu, lại thêm bệnh tật, uống rượu làm thơ một ḿnh. Trong cảnh cô đơn đó, người thơ nghe thấy tiếng kèn đám ma một ông già bên xóm tây. Cái chết của ông lăo này khiến Nguyễn Khuyến xúc động tự hỏi chuyến này ông lăo qua quê hương nào? Câu hỏi này dẫn ngựi đọc thơ về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử[12]:
Thầy Tang Hộ, thầy Mạnh Tử Phan, thầy Cầm Trương [...] làm bạn với nhau. [...] Rối thầng Tang Hộ chết ... [Hai người bạn] kẻ sắp khúc, kẻ gẩy đàn họa nhau mà hát: “Này anh Tanh Hộ ơi! Này anh Tang Hộ ơi! Anh đă trở lại đời thật của anh rồi.”
Trong câu kế tiếp, chữ khào nghĩa là xương cùng, tích là xương sống lại dẫn người đọc về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử [13]
Tử Tự, Tử Dư, Tử Lê, Tử Lai, bốn người nói với nhau rằng: “Ai biết lấy cái không làm đầu, lấy cái sống làm xương sống, lấy cái chết làm xương cùng; ai biết được lẽ sống chết c̣n mất chỉ là một thể, chúng ta sẽ cùng người ấy làm bạn.” Bốn người nh́n nhau cười, không ai thấy nghịch trong ḷng, đoạn cùng nhau làm bạn.
Phải chăng, như qua lời Trang Tử, việc sống chết chỉ là lẽ thường, ông lăo xóm tây phen này, biết đâu chẳng như thầy Tang Hộ, về quê thực của ông. Kèn trống khóc than chỉ làm đau ḷng người sống, riêng người thơ tiếp tục uống thêm rượu, đă say say thêm, ngửa mặt nh́n trời u ám một mầu?
H́nh ảnh cái chết của chính ḿnh tới với Nguyễn Khuyến qua hai thơ dưới dây. Môt là bài:
dịch là
Hai là bài:
dịch là
H́nh ảnh cái chết len vào trong bài Đề Ảnh trong câu:
nghĩa là:
Và trong bài Giải Muộn II, qua câu :
Giới nghiên cứu giải thích câu này bắng điển sau đây :
Đinh Lệnh Uy đời Hán, tu tiên tại núi
Linh Hư, sau hóa thành hạc bay về đất
Lưu, lượn trên không mà đọc thơ.
Nguyễn Khuyến dường như không tin vào điều này nên, cũng như trong bài Đề Ảnh, ông tự hỏi, một ngàn năm nữa tấm thân của ông sẽ thành ai? Câu hỏi này khiến người dọc nhớ tới hai câu của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Kư, trong Thanh Hiên Thi Tập15
dịch là
Người đọc tự hỏi phải chăng, cũng giống Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến qua hai bài thơ trên đây, dưong như c̣n chưa dứt khoát với chính ḿnh trong ba chữ thân hậu danh?
Sửa soạn đợi cái chết của chính ḿnh, Nguyễn Khuyến để lại cho hậu thề bài:
Tác giả tự dịch là:
Viết bài Di Chúc trên đây, dường như Nguyễn Khuyến đă nh́n thẳng vào cái chết của chính ḿnh. Về vấn đề này, Gabriel Marcel viết 16:
Lorsque je tente de prendre conscience de ma situation d’existant et que je la considère par rapport à ce que j’appelle mon avenir, je constate que seul apparait indubitable cette proposition : je mourrai sans que je puisse le moindre du monde me prononcer sur les conditions d’espace et de temps qui seront celles de ma mort.
Cái chết chắc chắn sẽ đến với mọi người trong tất cả chúng ta, nhưng chúng ta không một ai có mảy may kinh nghiệm về cái chết. Trên thực tế, theo Gabriel Marcel, cái chết đặt con người vào giữa ḷng lẽ diệu huyền. Tại đó mỗi người chúng ta đều được tự do hành xử để cái chết sắp tới của ḿnh có ư nghĩa theo sự chọn lựa của ḿnh trong suốt cuộc sống. Trong cuốn En Chemin Vers Quel Éveil17 ,Gabriel Marcel, khi đó đă 84 tuổi, sáu tuần lễ trưóc khi từ trần, đưa ra nhận xét rằng người cao tuổi, đă hoàn tất được sự nghiệp, đă tự cho là ḿnh chu toàn được mọi bổn phận, đă t́m ra cho ḿnh được ư nghĩa của đời sống, thời dễ dàng chấp nhận cái chết hơn nhưng kẻ chưa thành đạt, hay kẻ có một cuộc sống khó khăn đầy rẫy thất bại.
Trở lại bài Di Chúc, trong chín câu đầu Nguyễn Khuyến nói với đàn con về những điều may mắn của đời ông, trước ngưỡng cửa cái chết : đức mỏng mà lại hưởng tuổi thọ hơn cha, học không hơn ai mà thi đỗ đầu ba lần, tuổi thọ lả do cha ông để lại cho ông, và đỗ cao để hoàn thành mộng thi cử của cha ông.
Truyện ông được hưởng tuổi thọ của cha chép trong gia phả, chi thứ ḍng họ Nguyễn ở Vị Dạ là khi ông c̣n nhỏ ốm nặng, cha ông nguyện được chết thay con, sau đó ông lành bệnh và năm ông 18 tuổi th́ cha ông từ trần. Truyện này Nguyễn Khuyến ghi lại trong hai câu mở đầu bài Cận Thuật :
dịch là
Tiếp theo, Nguyễn Khuyến viết hai câu :
dịch là
Hai câu này phải chăng chứng tỏ là Nguyễn Khuyến coi nhẹ việc thi cử thành đạt của ông : việc ông đi học đi thi đỗ đạt chỉ để đáp đền ơn cha ông
Nguyễn Khuyến hài ḷng với ḿnh v́ việc báo hiếu này, rối ông c̣n thỏa măn là được về quê quán di dưỡng tuổi già, thế nên lúc này, đối mặt với cái chết, ông b́nh thản viết:
Tiếp theo, ông dăn ḍ con về việc làm đám tăng : đồ khâm liệm không cần tốt xấu, cỗ bàn không cần hậu hĩ linh đ́nh. Rồi tới tám điều không được làm: không viết văn tế, không làm câu đối, không đặt minh tinh, không đề thần chủ, không mời học tṛ, không cáo phó với bè bạn, không mời khách khúa, không nhận phúng viếng. Rồi Nguyễn Khuyến dặn con ngày đám rước cờ biển vua ban đi trước, có phường bát âm đi hai bên quan tài đưa tiễn. Những điều dặn ḍ này khiến người đọc nghĩ rằng Nguyễn Khuyến muốn buông bỏ những điều ông đă làm trong cuộc đời làm quan làm thầy của ông. Đặc biệt là khi chôn cất xong ông dặn con tưới lên mộ ông một chén rượu trắng, phải chăng ông c̣n muốn giữ h́nh ảnh ông say của ông. Và trên bia ghi vắn tắt :
Quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu. phải chăng v́ việc ông sớm xin về hưu là một việc ông tự cho là đắc ư nhất trong đời ông? Phải chăng đó là điều mà ông đă làm được để thực hiện câu của Trang Tử18:
Tóm lại, qua bài Di Chúc trên đây, Người đọc đă thấy Nguyễn Khuyến b́nh tĩnh nh́n vào cái chết của ḿnh, thu xếp việc cuối cùng cũa đời ḿnh và thản nhiên đi về quê thật của ông.
Nh́n sang thơ Đào Tiềm, trên nhánh thơ về cái chết của chính ḿnh, Đào Tiềm có ba bài dưới cùng đầu đề Văn Ca Thi. Bài thứ ba như sau:
dịch là
Cũng như Nguyễn Khuyến, Đào Tiềm trong bài Văn Ca trên đây, viết về cái đám tang cũa chính ḿnh không dăn ḍ con cháu như Nguyễn Khuyến, nhưng tường thuật đám tang của chính ḿnh như một nhân chứng. H́nh ảnh Đào Tiềm mô tả thân phận của người nẳm dưới mồ như vào trong nhà tói kín mít ngh́n năm không có anh sáng lọt tới, là một h́nh ảnh đặc biệt của Đào Tiềm mô tả cái đáng sợ của cái chết. Phải chăng đó là kết quả của điều Đào Tiềm sợ cái chết? Và đó là điểm Nguyễn Khuyến khác biệt với Đào Tiềm : Nguyễn Khuyến thản nhiên đối mặt với cái chết, dăn ḍ con cái lo việc tống táng cho ông. Sau hết, phải chăng hai câu cuối cùng bài Văn Ca cho thấy cái vô nghĩa của việc sống chết.
Chuyển sang câu truyện cái chết của người thân, Nguyễn Khuyến để lại bốn bài thơ, trong số đó bài nổi tiếng nhất, có kèm thêm bài tác giả tự dịch sang thơ nôm, là bài :
tác giả tự dịch là:
Bài thơ Việt âm Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư và bài thơ nôm Khóc Bạn, là hai trong số ngoài bốn chục bài thơ viết bằng hai ngôn ngữ với cùng một đề tài, đă đưa tên tuổi Nguyễn Khuyến vào danh sách một số văn thi sĩ trên thế giới sáng tác một tác phẩm bằng hai ngôn ngữ, tỷ như nhà viết kịch Samuel Beckett (1906-1989) ngựi Ái Nhĩ Lan, sáng tác nhiều kịch bản nổi danh bằng hai thứ tiếng Anh và tiếng Pháp.
Những bài thơ tự dịch này của Nguyễn Khuyến có thể là khuôn vàng thước ngọc cho giới dịch thơ. Nguyễn Khuyến có biệt tài làm thơ Việt Âm cũng như làm thơ nôm khiến không có thể nào biết chắc được bản nào là bản chính bản nào là bản dịch. Trong bài tự dịch trên đây, cái khó là hai điển : Trần Phồn treo giường và điển Bá Nha treo Đàn. Trong bài thơ nôm, Nguyễn Khuyến không nhắc tới tên tuổi Trần Phồn và Bá Nha, nhưng ư chính Trần Phồn và Bá Nha nhớ bạn không v́ vậy mà phai mờ trong bài thơ nôm. Đào sâu vấn đề này là một đề tài quan trong trong việc dịch những áng thơ Việt Âm đời Lư đời Trần đời Lê đời Nguyễn sang thơ nôm.
Điểm đặc biệt của bài Khóc Bạn và bài Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư là điểm Nguyễn Khuyến đă cho người đọc thấy là không phải tác giả chỉ riêng khóc bạn mà dường như viết hai bài thơ này Nguyễn Khuyến không chỉ một ḿnh nhớ lại những kỷ niệm cũ ông đă sống cùng Dương Khuê, mà cả hai bài thơ cùng cho người đọc thấy tác giả đang linh động cùng Dương Khuê ôn lại truyện cũ, như khi Dương Khuê c̣n sống. Toàn thể ba mươi tám câu thơ là một chuỗi hoạt cảnh sống động. Đó là những cảnh Nguyễn Khuyến sống bên Dương Khuê kể từ khi, do duyên trời, hai người quen nhau ngày cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến kể lại kỷ niệm những ngày cùng Dương Khuê đi du ngoạn, ḥa ḿnh với thiên nhiên, hay cùng đi mua vui nơi ca lâu tửu điếm, hay những lúc cùng nhau đề vịnh. Rồi tới tuổi cùng nhau về già, gặp được nhau là mừng cho nhau c̣n khẻo mạnh, như lần gặp nhau cuối cùng ba năm trước. Mười sáu câu cuối bài Khóc Bạn và bài Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư là đoạn tác giả kể cho Dương Khuê nghe nỗi kinh hoàng của ḿnh khi nghe tin Dương Khuê lên cơi tiên. Đoạn thơ này đẫm mấu hiện sinh qua câu :
Ai chẳng biết chán đời là phải
bẩy chữ này làm người đọc nhớ tới Albert Camus (1913-1960) triết gia người Pháp viết trong cuốn Le Mythe de Sisyphe 19:
la vie ne vaut pas la peine d’être vécue.
Tiếp theo, Albert Camus 20 đưa ra nhận xét về cái ngỡ ngàng, cái chán nản của con người trước cái phi lư của cái chết :
Un jour seulement, le 'pourquoi' s'élève et tout commence dans cette lassitude teintée d'étonnement. 'Commence', ceci est important. La lassitude est à la fin des actes d'une vie machinale, mais elle inaugure en même temps le mouvement de la conscience. Elle l'éveille et elle provoque la suite. La suite, c'est le retour inconscience dans la chaine, ou c'est l'éveil définitif.
Cái ngỡ ngàng đến với Nguyễn Khuyến qua câu :
Chợt nghe tôi đă tay chân rụng rời.
Cái chán nản Nguyễn Khuyến tả trong bốn câu :
Rượu ngon không có bạn hiền
Không ngon không phải không tiền
không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo nhưng hững hờ
Đàn kia gẩy nhưng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Cái chết phi lư làm Nguyễn Khuyến mất bạn, ông không c̣n thiết uống rượu, ngâm thơ, gẩy đàn, mà chỉ c̣n nhớ thương bạn. Nhớ thương bạn, nhưng Nguyễn Khuyến đă già rồi, không c̣n nước mắt khóc bạn nữa, hay Nguyễn Khuyến đă đạt tới chữ ngộ, (dịch chữ éveil của Camus trong dẫn chứng trên đây).
Người đọc thơ Nguyễn Khuyến, không khỏi thấy rằng cái chết của người bạn thân có một điểm quan trọng : đó là cái chết không chỉ cho con người biết là ta đă mất bạn, mà trái lại c̣n cho ta thấy là ta c̣n thương tiếc bạn. Với ḷng thương tiếc đó, đôi khi con người mất bạn c̣n cảm thấy như bạn đang ở bên cạnh ... thân thiết hơn bao giờ hết. Phải chăng đó chính là cảm hứng của Nguyễn Khuyến khi viết bài Khóc Bạn trên đây?
Trong ḍng thơ về cái chết của người thân, Nguyễn Khuyến c̣n để lại ba bài thơ khóc vợ. Trước hết là bài :
dịch là
Qua câu đầu bài thơ, giới nghiên cứu đồng ư rằng bài thơ này Nguyễn Khuyến khóc bà vợ cả, thành hôn với ông từ năm ông mới mười bẩy tuổi. Trong bài thơ trên đây, Nguyễn Khuyến không nhắc lại một kỷ niệm rơ rệt nào giữa ông và bà vợ cả. Ông mô tả năm mươi năm bà nâng khăn sửa túi cho ông như một giấc ḥe. Nay bà đă ra người thiên cổ như tất cả ai ai khác. Bà về nơi tịnh thổ, để mối xót thương cho ông. Nỗi xót thương đè nặng khiến ông thương hại ông Bành Tồ, theo truyền thuyết, sống tám trăm năm chôn 49 bà vợ.
Nh́n qua ḍng thơ nôm, ngựi đọc thơ t́m thấy một bài ghi lại kỷ niệm giữa Nguyễn Khuyến và bà vợ cả.
Đó là bài:
Bài thơ chữ nôm cho thấy, Nguyễn Khuyến, tuy có bốn bà vợ, nhưng không phải là người
Mặn t́nh cát lũy nhạt t́nh tao khang. (Kiều)
Tự diển Khai Trí Tiến Đức giảng hai chữ cát lũy là một loại dây ḅ như cây sắn, nghĩa bóng là người vợ lẽ; và hai chữ tao khang là bă rượu và hạt tấm, nghĩa bóng là người vợ cưới thủa c̣n bần hàn. Có nhiều thoại về bà vợ tao khang của Nguyễn Khuyến . Một khoa, Nguyễn Khuyến đi thi, nhà thiếu tiền, bà phải cầm cố cả áo quần mới tạm đủ tiền cho Nguyễn Khuyến ăn đường đi thi. Đến ngày Nguyễn Khuyến vinh quy, bà con cùng chị em đi làm công ở một làng xa, bà nấn ná không dám về, e mất buổi công. Chị em phải giục măi bà mới lội tắt cánh đồng về đón chồng.
Nay bà cả vui nẻo về tĩnh thổ, để mối xót thương cho ông ở lại cơi trần, dường như là lúc ông thấy là cái có được sống dai, lại được đa nhân duyên như ông Bành Tổ cũng chẳng là hạnh phúc trong cuộc sống con người. Cái chết chắc chắn làm bà khuất dạng bên ông, nhưng phải chăng cái chết cũng tạo ra ư nghỉa cho cái hiện diện của bà bên ông trong suốt năm chục năm qua mà tới nay ông mới nhận ra được?
Phải chăng đó là điều Gabriel Marcel viết trong cuốn Journal Métaphysique 21 (1938-1943), kèm trong tập Présence et Immortalité như sau :
Rôle que peut jouer ici la mort : en donnant du recul à l’autre, elle l’ecarte de moi, elle le place à distance où je peux enfin le voir, où il peut se révéler à moi.
Sau bài Khóc Vợ trên đây, trong ḍng thơ Việt Âm c̣n có bài :
dịch là
Giới nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Khuyến cho biết là Nguyễn Khuyến có bốn vợ. Bà cả họ Nguyễn, người cùng làng; bà thứ hai cũng họ Nguyễn. Sau khi bà cả bà hai tạ thế, Nguyễn Khuyến cưới bà kế, rồi cưới thêm bà thứ tư. Bà này không con và mất sớm. Các nhà văn bản học phân vân không biết bài thơ trên dây Nguyễn Khuyến khóc bà nào 22.
Tiếp tục t́m trong ḍng thơ Việt Âm, người đọc gặp bài :
dịch là
Đối chiếu bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm với kết quả nghiên cứu tiểu sử của Nguyễn Khuyến cho thấy một điểm đáng ghi nhận. Đó là bà thiếp thứ tư mất sớm và không có con, và cả ba bà kia cùng có con ghi rơ được tên tuổi. Trong bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, Nguyễn Khuyến cho hay là bà họ Phạm chưa có con. Vậy phải chăng bà thứ tư là bà thiếp họ Phạm? Đằng khác, đối chiếu câu thứ hai bài Khóc Vợ Chôn Nơi Đất Khách với câu thứ ba bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, người đọc cũng ghi nhận một điểm. Đó là bà vợ Nguyễn Khuyến chết chôn đất khách, đă bỏ đi sau cả năm Nguyễn Khuyến mới được tin bà mất và chôn tại quê người. Trong bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, tác giả cũng cho thấy bà bỏ đi một thời gian khá lâu ở nhà mới được tin bà đă mất. Vậy phải chăng, theo hai bài thơ này, bà thiếp họ Phạm và bà mà Nguyễn Khuyến khóc trong bài Lữ Thấn Khốc Nội v́ chết chôn tại đất khách là một bà?
Điểm đáng lưu ư khác là ḍng nước mắt của Nguyễn Khuyến trước ba cái chết của ngựi thân. Nguyễn Khuyến không c̣n nước mắt khóc bạn Dương Khuê. Nguyễn Không không rơi nưóc mắt ngày bà vợ cả về tịnh thổ, nhưng nước mắt Nguyễn Khuyến chan ḥa như mưa tháng bẩy khi hay tin bà thiếp họ Phạm mất đă xanh mồ nơi đất khách.
Trở lại bài Lữ Thấn Khốc Nội, qua câu thứ ba:
dịch là
gợi cho người đọc nhớ tới một đoạn trong bài Trường Hận Ca, dài hai trăm câu, của nhà thơ Đường Bạch Cư Dị, tả nỗi vua Đường Minh Hoàng thương nhớ Dương Qúy Phi sai phương sĩ Lâm Cùng Hồng Đô Khách phải đè mây cưỡi gió đi khắp đó đây kiếm t́m quư phi cho nhà vua. Khi quư phi gặp phương sĩ, nàng giăi tỏ mối hận đằng đẵng vô tận của nàng. Câu truyện trước ngày cưới của bà thiếp họ Phạm cũng được Nguyễn Khuyến nhắc nhở trong thơ: đến tuổi lấy chồng bà họ Phạm đă có nhiều người tới hỏi cưới, nhưng bà không ưng một ai mà về làm thiếp Nguyễn Khuyến, nhưng không biết v́ sao, và chính Nguyễn Khuyến cũng không rơ, bà đă bỏ ra đi rồi trong ngoài một năm sau th́ có tin báo bà từ trần và táng thân nơi đất khách. Bà c̣n trẻ, lại chưa có con, không có ai hương khói khiến Nguyễn Khuyến càng thêm thương xót. Phải chăng ḍng nước mắt chứa chan như mưa tháng bẩy của Nguyễn Khuyến là ḍng nước mắt ông khóc mối hận của bà thiếp họ Phạm như Đường Minh Hoàng thương khóc Dương Quư Phi và kèm theo niềm hối hận là đă không che chở nổi mạng sống cho quư phi?
C̣n một điều đáng chú ư trong bài Khóc Vợ Chôn Nơi Đất Khách, là Nguyễn Khuyến muốn gọi hồn bà thiếp họ Phạm như vua Đường Minh Hoàng cho phương sĩ Lâm Cùng Hồng Lô Khách đi t́m Dương Quư Phi tại thế giới bên kia cái chết. Ngày nay trên thế giới khoa học văn minh vẫn c̣n có nhiều hội mục đích nối liên lạc vói thế giới bên kia cái chết. Gabriel Marcel, qua các tài liệu để lại, từng là một nhà nghiên cứu muốn đi sâu vào truyện này.
Sau đây là một đoạn đối thoại về việc đi t́m liên lạc với người bên kia cái chết. giữa Gabriel Marcel và Paul Ricoeur. Paul Ricoeur nói24:
Si je pleure ceux que j’ai aimés, c’est que, d’une certaine facon, je les ai perdus et que ce seait miracle de les trouver.
Gabriel Marcel trả lời :
Pourquoi le miracle n’existerait pas?
Trên ḍng thơ khóc người thân, nhiều cuốn tuyển thơ Đào Tiềm chép bài văn tế kèm lới tựa dưới đây :
dịch là
Đời Tấn, năm Nghĩa Hy thứ ba, tháng năm, ngày Giáp Th́n. Nhân ngày giổ lần thứ hai, em gái là Tŕnh Thị, ta Uyên Minh sửa lễ thiếu lao, cúi đầu tưới rượu. Ô hô ai tai.
Đối chiếu với những bài thơ Nguyễn Khuyến khóc ngựi thân, người đọc thấy nhiều điểm tương đồng với bài văn tế em gái của Đào Tiềm. Xét trên cấu trúc bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến và bài văn tế em gái của Đào Tiềm, người đọc thấy là trong cả hai bài, người chết gợi cho người sống nhiều kỷ niệm sâu đậm, và sự ra đi của ngưới chết làm người sống thấy cô đơn, bàng hoàng xót thương. và nhất là thấy rơ cái phi lư của sự sống chết. Đào Tiềm không chúc người em gái sớm về Tịnh Thồ, nhưng hẹn gặp lại cô em gái ờ cơi bên kia cuộc sống. Hy vọng đó cũng là hy vọng của Nguyễn Khuyến mong gặp lại bà vợ chết chôn nơi quê người. Đào Tiềm khóc người em gái bằng hai ḍng nước mắt cũng như Nguyễn Khuyến khóc bà thiếp họ Phạm bằng ḍng nước mắt chan ḥa như mưa ngâu tháng bẩy. Phải chăng Dương Khuê đă già và Nguyễn Khuyến cũng đă già khiến khi Dương Khuê nằm xuống Nguyễn Khuyến không c̣n nước mắt khóc Dương Khuê. Nhưng bà thiếp họ Phạm c̣n trẻ lại chưa có con khiến Nguyễn Khuyến nước mắt chan ḥa khi nghe tin bà vắn số, và Đào Tiềm khóc cô em gái trào máu mắt v́ cô em mất khi c̣n trẻ, để lại đàn con côi không nơi nương tựa?
[11]Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng
Tống, sách đă dẫn, tr. 284-285.
[12] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng
Tống, sách đă dẫn, tr. 133-134
[13] TrangTử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng
Tống, sách đă dẫn, tr. 131.
[14] Chưa
tim được bản chữ nho.
[15] Mai Mộng Liên, Nguyễn Du Toàn Tập, sách đă
dẫn tr. 185 :
[16] Gabriel Marcel, Etre et Avoir, vol.1: Journal Métaphysique
(1928-1933),Gallimard, Paris 1927 p. 171-172
[17] Gabriel Marcel, En Chemin vers quel éveil, Gallimard, Paris 1971, p.160
[18] Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương Đại Tông Sư,bản
dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn,
tr. 128.
[19] Le Mythe de Sisyphe, Gallimard, Paris 1942, p. 16
[20] Le Mythe de Sisyphe, sách đă dẫn, p. 27.
[21] Gabriel Marcel, Journal métaphysique (1938-1943). Parus dans Présence
et Immortalité, coll. Homo Sapien, Flamarion, Paris 1959, p.140.
[22] Cuốn Thi Văn Nguyễn Khuyến, nhà xuất
bản Văn Học, Hà Nội 1971, tr. 425 ghi chú là chưa
rơ tác giả khóc bà nào. Cuốn Thi Hào Nguyễn
Khuyến Đời và Thơ do Nguyễn Huệ Chi
chủ biên, viện Văn Học Xuất bản năm
1994, trang 478, không cho biết xuất xứ và lư do, ghi là
có lẽ tác giả khóc bà vợ thứ hai, tức là
bà Nguyễn Thị Thục; Cuốn Nguyễn Khuyến,
Tác Phẩm & Dư Luận, Tuấn Thành và Anh Vũ
tuyển chọn, Nhà Xuất bản Văn Hoc, Hà
Nội ,2002, tr. 206, cũng không cho biết xuất
xứ cùng lư do, ghi là có lẽ tác giả khóc bà
thứ hai.
[23] Chưa
t́m được bản chữ nho
[24] Réné
Davignon, Le Mal Chez Gabriel Marcel, sách đă dẫn, p.133