III Cái Chết

Cái chết dường là một câu hỏi làm con người lo sợ nhất. Câu hỏi đó dường như là câu hỏi chính đặt giữa những thắc mắc của con người về lẽ huyền. Cái chết mang lại cho con người cái ǵ? Ư nghĩa của cái chết là ǵ? Ba câu hỏi đó đă được nhiều nhà triết học tây phương nghiên cứu, nhưng dường như là chưa có ai có câu trả lời xác đáng.

Trong sách Nam Hoa Kinh, Trang Tử, chương Chí Lạc, theo bút pháp đặc biệt của ông, cũng đă từng nhiều phen trả lời những câu hỏi này. Tiêu biểu là đoạn sau đây[11]:

Thầy Trang sang Sở, thấy cái đầu lâu không, có h́nh trọc lốc, xâu bắng chiếc roi ngựa, nhân mà hỏi rằng :

- Kia ngươi tham sống mất lẽ, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có truyện mất nước; có tội ŕu búa mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi có nết chẳng hay, thẹn nỗi để xấu cho cha mẹ vợ con, mà đến nỗi này chăng? Hay ngươi chrết đói chết rét mà dến nỗi này chăng? Hay v́ xuân thu ngươi đă đáng thế này chăng?

Nói thế rồi gối chiếc đầu lâu mà ngủ. Nửa đêm đầu lâu hiện lên trong chiêm bao mà rằng:

- Lời ngươi nói giống như kẻ biện sĩ. Phàm những truyện ngươi nói đều là lụy cho đời người. chết th́ không có nhưng cái ấy. Ngươi muốn nghe thuyết chết chăng?

Thầy Trang đáp :

- Phài!

Đầu lâu nói:

- Chết th́ không có vua ở trên, không có tôi ở dưới. Cũng không có truyện bốn mùa. Theo đó lấy Trời Đất làm Xuân Thu. Dù cái sướng của kẻ nghảng mặt sang Nam mà làm vua cũng không thể hơn được

Thầy Trang không tin hỏi

- Tôi sai thần Tư Mệnh làm sống h́nh ngươi; cho ngươi nẩy ra  xương thịt, de dẻ; trả lại cha mẹ vợ con, làng xóm, kẻ quen biết cho ngươi. Ngươi muốn thế chăng?

Đầu lâu nhăn mặt nhăn trán mà rằng:

Tôi sao có thể bỏ cái sung sướng của ông vua quay mặt về phương Nam, mà lại chịu cái khó nhọc ở nhân gian?

Tiêu biểu cho con người buông bỏ cái có, dựng như không có h́nh ảnh nào tượng trưng rơ rệt hơn chiếc đầu lâu. Chiếc đầu lâu rỗng, không những không c̣n ǵ  là cái có ngoại lai mà cái có nội thân, như bộ năo cũng đă chút bỏ. Câu chuyện của Trang Tử trao đổi với cái đầu lâu trên đây, cho thấy dương như khi chút bỏ cái có đến như h́nh ảnh cái đầu lâu, th́ con người đă đồng nhất được vói cái diệu huyền, hay nói vắn tắt theo ngôn từ Đạo Lăo là con người đă huyền đồng. Trang Tử không cho biết là cơi diệu huyền này như thế nào. Nhưng cái đầu lâu th́ cho ḿnh sung sướng như ông vua, không phải một ông vua bận bịu v́ việc trị nước dẹp loạn, mà một ông vua ngảnh mặt về Nam, ông vua thủa nước nhà thanh b́nh. Trong cảnh đó, cái đầu lâu khước từ không nhận lại những cái có: cha mẹ vợ con làng xóm. Lời khước từ này tương tự như lời Thằng Bờm khước từ ba ḅ chín trâu, ao sau cá mè cùng bè gỗ lim và con chim đồi mồi mà mỉm cười với nắm sôi. Lời khước từ của cái đầu lâu c̣n cho thấy h́nh ảnh của ḍng nước mắt nàng Lệ Cơ sau khi biết mùi sô hoạn bên vua nước Tấn, để hiểu ra tại sao con người trong cơi chết c̣n hối tiếc là đă mong sống dài hơn trên trần thế. Tóm lại Trang Tử cho người đọc thấy là cơi chết không có ǵ đáng sợ, mà dương như Trang Tử muốn cho người đọc thấy là trong cơi chết có thể có lắm điều hấp dẫn.

Phải chăng v́ vậy, trong những bài thơ Nguyễn Khuyến viết về cái chết, trên ba ngả:

.   cái chết của người,
.   cái chết của ta, và
.   cái chết của người thân của ta

người đọc thơ đều không gặp những h́nh ảnh đáng ghê sợ?

Tiêu biểu cho ư thơ về cái chết của người, Nguyễn Khuyến có hai bài. Một là bài :

春 夜 憐 蛾
Xuân Dạ Liên Nga

羨 爾 纖 纖 一 羽 翰 
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn
投 明 而 死 死 而 安
Đầu minh nhi tử tử nhi an
若 為 倘 猝 臨 宜 
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị
到 得 逡 巡 辯 亦 難
Đáo đắc thoan tuần biện diệc nan
素 賦 知 能 猶 未 泯
Tố phú tri năng do vị dẫn
當 前 名 利 不 相 關
Đương tiền danh lợi bất tương quan
孤 燈 殺 爾 猶 憐 爾
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ
到 得 成 灰 淚 未 乾
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.

dịch là

Đêm Xuân Thương Con Thiêu Thân

Khen mi đôi cánh nhỏ nhoi
Chết nơi lửa sáng chết rồi yên thân
Phải đâu thảng thốt liều thân
Mà là thấy chết gian truân chẳng sờn
Lương năng trời phú vẹn tṛn
Không màng danh lợi nay c̣n mấy ai
Lao vào lửa thương cho mày
Xác thành tro bụi khốn thay lệ trào.

Hai là bài:

悼 落 蠅

Điệu Lạc Dang 

睡 起 窗 開 酒 半 傾
Thụy khởi song khai tửu bán khuynh
青 蠅 何 事 又 營 營
Thanh dăng hà sự hựu doanh doanh
所 求 一 粒 能 充 腹
Sở cầu nhất lạo năng sung phúc
何 必 如 簧 柞 巧 聲
Hà tất như hoàng tác xảo thanh
憐 爾 祗 堪 倚 樊 棘
Liên nhĩ chỉ kham ỷ phàn cước
欺 人 不 覺 落 藜 羹
Khi nhân bất giác lạc lê canh
天 工 生 化 真 多 事
Thiên công sinh hoá chân đa sự
避 暑 驅 氛 意 未 平
Tị thử khu phân ư vị b́nh.

dịch là

Thương Con Nhặng

Tỉnh ra rựơu cạn nửa be
Nhặng xanh đâu đến vo ve bên ḿnh
Cơm rơi nửa hạt bụng ph́nh
Mà sao bắng nhắng sáo sinh chẳng ngừng
Kiếp mi bờ bụi đáng thương
Khinh người ch́m bát canh xuông đáng đời
Đặt bày sinh hóa thợ trời
Kẻ đi tránh nắng v́ ngươi bực ḿnh.

Riêng với bài Đêm Xuân Thương Con Thiêu Thân, có thời người ta cho rằng tác giả làm bài thơ này khi nghe tin ông nghè Giao Cù, tức Vũ Huy Lợi, người làng Giao Cù, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, chủ mưu đánh chiếm tỉnh Nam Định. Việc không thành, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt và xử chém.

Ngày nay, đọc hai bài thơ trên đây, Nguyễn Khuyến làn lượt thương con thiêu thân chết thiêu trong lửa đèn, và thương con nhặng xanh chết ch́m trong bát canh, người đọc tự hỏi phải chăng hai bài thơ này nối dài ḍng thơ từ bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trăi qua bài Hành Lạc Từ của Nguyễn Du? H́nh ảnh con thiêu thân lao vào lửa đèn đâu có khác h́nh ảnh Ba Di Thúc Tề chê thóc nhà Chu chết đói trên núi Thú Dương và h́nh ảnh con nhặng chết trong bát canh gợi lên h́nh ảnh của Đạo Chích chết v́ tham lợi trên g̣ Đông Lăng. Lấy h́nh ảnh con thiêu thân thay thề h́nh ảnh Bá Di và Thúc Tề và h́nh ảnh con nhặng xanh thay thế h́nh ảnh Chích Cược phải chăng là biệt tài dùng h́nh ảnh thực tế để thay thế điển cố, đưa thơ nôm ra khỏi vùng ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, và vẫn giữ được ư chính tiêu biểu cho việc buông danh bỏ lợi? Điều đáng ghi nhận khác là nếu Nguyễn Khuyến viết hai bài thơ trên đây trước khi từ quan th́ phải chăngNguyễn Khuyến dùng hai cái chết đáng thương của con thiêu thân và con nhặng xanh để tự nhủ ḿnh buông danh bỏ lợi, khi Nguyễn Khuyến đối mặt với truyện từ quan về vườn Bùi?

H́nh ảnh cái chết của người trong thơ Nguyễn Khuyến c̣n đọc thấy trong bài:

己 丑 九 月 連 夜 風 雨
Kỷ Sửu Cử Nguyệt Liên Dạ Phong Vũ
獨 坐 無 聊
Độc Tọa Vô Liêu
引 滿 不 止 又 聞 同 邑 
Dẫn Măn Bất Chỉ Hựu Văn Đồng Ấp
一 老 徂 落
Nhất Lăo Tồ Lạc
因 感 作 云
Nhân Cảm Tác Vân

江 山 風 雨 近 重 陽
Giang sơn phong vũ cận trùng dương
貧 病 歸 來 酒 後 狂
Bần bệnh quy lai tửu hậu cuồng
聞 道 西 鄰 亡 一 老
Văn đạo tây lân vong nhất lăo
不 知 此 去 是 何 鄉
Bất tri thử khứ thị hà hương
死 生 尻 脊 真 閒 事
Tử sinh khào tích chân nhàn sự
號 泣 笙 簫 枉 斷 腸
Hào khấp sinh tiêu uổng đoạn trường
醉 矣 添 杯 又 添 醉
Túy hĩ thiêm bôi hựu thiêm túy
憑 窗 仰 面 看 蒼 蒼
Bằng song ngưởng diện khán thương thương.

dịch là

Năm Kỷ Sửu, Tháng Chín, Mưa 
Gió Mấy Đêm Liền
Một Ḿnh Ngồi Buồn, Rượu 
Uống Không Ngừng Lại Nghe Tin 
Ông Già Trong Làng Mới Mất 
Cảm Xúc Làm Thơ

Trùng dương mưa gió xạc xào
Hưu quan nghèo bệnh rượu vào thơ ra
Xóm Tây có đám ông già
Chuyến này chẳng biết ông qua quê nào
Xương cùng xương sống lạ đâu
Khóc than kèn sáo thêm đau đớn ḷng
Say rồi uống nữa say cuồng
Bầu trời u ám ngoài song ngẩng nh́n.

Tiết trùng dương nhằm ngày 9 tháng 9, khi xưa là ngày các cụ họp bạn uống rượu ngâm thơ, nhưng năm kỷ sửu (1889) này sắp tới lễ Trung Dương th́ trời mưa to gió lớn, Nguyễn Khuyến, đă về hưu, lại thêm bệnh tật, uống rượu làm thơ một ḿnh. Trong cảnh cô đơn đó, người thơ nghe thấy tiếng kèn đám ma một ông già bên xóm tây. Cái chết của ông lăo này khiến Nguyễn Khuyến xúc động tự hỏi  chuyến này ông lăo qua quê hương nào?  Câu hỏi này dẫn ngựi đọc thơ về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử[12]:

Thầy Tang Hộ, thầy Mạnh Tử Phan, thầy Cầm Trương [...] làm bạn với nhau. [...] Rối thầng Tang Hộ chết ... [Hai người bạn] kẻ sắp khúc, kẻ gẩy đàn họa nhau mà hát: “Này anh Tanh Hộ ơi! Này anh Tang Hộ ơi! Anh đă trở lại đời thật của anh rồi.”

Trong câu kế tiếp, chữ khào nghĩa là xương cùng, tích là xương sống lại dẫn người đọc về chương Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử [13]

Tử Tự, Tử Dư, Tử Lê, Tử Lai, bốn người nói với nhau rằng: “Ai biết lấy cái không làm đầu, lấy cái sống làm xương sống, lấy cái chết làm xương cùng; ai biết được lẽ sống chết c̣n mất chỉ là một thể, chúng ta sẽ cùng người ấy làm bạn.” Bốn người nh́n nhau cười, không ai thấy nghịch trong ḷng, đoạn cùng nhau làm bạn.

Phải chăng, như qua lời Trang Tử,  việc sống chết chỉ là lẽ thường, ông lăo xóm tây phen này, biết đâu chẳng như thầy Tang Hộ, về quê thực của ông. Kèn trống khóc than chỉ làm đau ḷng người sống, riêng người thơ tiếp tục uống thêm rượu, đă say say thêm, ngửa mặt nh́n trời u ám một mầu?

H́nh ảnh cái chết của chính ḿnh tới với Nguyễn Khuyến qua hai thơ dưới dây. Môt là bài:

Đề Ảnh 14

Ngô nhiễn ngô diện b́
Ngô tâm ngô phất trị
Nhật nguyệt tu thiêm bạch
Phong trần sắc tiệm tuy
Bách bôi h́nh tặng ảnh
Thiên tả ngă vị tùy
Ngưởng phủ phất hà tưởng
Yên ba vô tạn kỳ.

dịch là

Đề Ảnh

Nh́n ngoài chỉ thấy da ta
Ḷng ta th́ đến chính ta chẳng tường
Tháng ngày râu tóc điểm sương
Xạm đen gió bụi dặm trường mầu da
Nh́n h́nh trăm chén chuốc ta
Ngàn sau chẳng biết ta là ai đây
Trông lên nh́n xuống cao dầy
Tân kỳ sóng nước khói mây mịt mùng.

Hai là bài:

Bài Muộn

II
五 十 衰 翁 白 髮 新
Ngũ thập suy ông bạch phát tân
不 堪 憂 病 且 憂 貧
Bất kham ưu bệnh thă ưu bần
花 軒 月 影 知 非 客
Hoa hiên nguyệt ảnh tri phi khách
竹 徑 風 聲 疑 有 人
Trúc kính thanh phong nghi hữu nhân
一 枕 黃 粱 真 亦 夢
Nhất chẩm hoang lương chân diệc mộng
千 年 去 鶴 我 何 身
Thiên niên khứ hạc ngă hà thân
坐 看 即 羨 扇 中 老
Tọa khan khước tiễn phiến trung lăo
倚 澍 啣 杯 不 計 春
Ỷ thụ hàm bôi bất kế xuân.

dịch là

Giải Buồn

I

Năm mươi già ốm tóc sương
Lo nghèo lo bệnh hết đương nổi rồi
Hiên trăng vắng bạn lẻ loi
Tre già kẽo kẹt ngỡ người tới thăm
Tỉnh mơ một giấc kê vàng
Ngàn năm thành hạc thân tàn hóa ai
Ngồi nh́n h́nh quạt trong tay
Lăo ông nâng chén dựa cây kệ đời.

H́nh ảnh cái chết len vào trong bài Đề Ảnh trong câu:

Thiên tả ngă hà vi:

nghĩa là:

Ngàn năm nữa ta là ai?

Và trong bài Giải Muộn II, qua câu :

Thiên niên khứ hạc ngă hà thân

Giới nghiên cứu giải thích câu này bắng điển sau đây :

Đinh Lệnh Uy đời Hán, tu tiên tại núi 
Linh Hư, sau hóa thành hạc bay về đất 
Lưu, lượn trên không mà đọc thơ.

Nguyễn Khuyến dường như không tin vào điều này nên, cũng như trong bài Đề Ảnh, ông tự hỏi, một ngàn năm nữa tấm thân của ông sẽ thành ai? Câu hỏi này khiến người dọc nhớ tới hai câu của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Kư, trong Thanh Hiên Thi Tập15

不 知 三 百 餘 年 後
Bất tri tam bách dư niên hậu
天 下 誰 人 泣 素 如
Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như

dịch là

Ba trăm năm lẻ về sau
Khóc Tố Như biết c̣n bao nhiêu người.

Người đọc tự hỏi phải chăng, cũng giống Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến qua hai bài thơ trên đây, dưong như c̣n chưa dứt khoát với chính ḿnh trong ba chữ thân hậu danh?

Sửa soạn đợi cái chết của chính ḿnh, Nguyễn Khuyến để lại cho hậu thề bài:

遺 囑 文 
Di Chúc Văn

我 年 值 八 八
Ngă niên trị bát bát
我 數 逢 九 九
Ngă số phùng cửu cửu
嗟 哉 我 德 涼
Ta tai ngă đức lương
壽 紀 邁 先 考
Thọ kỷ mại tiên khảo
嗟 哉 我 學 淺
Ta tai ngă học thiẻn
魁 然 占 龍 首
Khôi nhiên chiếm long thủ
豈 非 先 考 齡
Khởi phi tiên khảo linh
留 以 錫 爾 父
Lưu dĩ tích nhĩ phụ
豈 非 先 考 名
Khởi phi tiên khảo danh
不 做 以 留 後
Bất tố dĩ lưu hậu
平 日 無 寸 功
B́nh nhật vô thốn công
俯 仰 已 慚 負
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ
足 矣 亦 何 求
Túc hỷ diệc hà cầu
死 葬 勿 淹 久
Tử táng vật yêm cửu
死 幸 得 全 歸
Tử hạnh đắc toàn quy
葬 幸 得 親 附
Táng hạnh đắc thân phụ
棺 衾 不 可 美
Quan khâm bất khả mỹ
只 以 斂 足 手
Chỉ dĩ liễm thủ túc
具 饌 不 可 豊
Cụ soạn bất khả phong
只 以 答 奔 走
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu
不 可 寫 祝 文
Bất khả tả chúc văn
不 可 為 對 句
Bất khả vi đối cú
不 可 設 銘 旌
Bất khả thiết minh tinh
不 可 題 神 主
Bất khả đề thần chủ
不 可 達 門 生
Bất khả đạt môn sinh
不 可 訃 僚 友
Bất khả phó liêu hữu
賓 客 不 可 招
Tân khách bất khả chiêu
賵 吊 不 可 受
Phúng điếu bất khả thụ
此 皆 纍 於 生
Thử giai lụy ư sinh
死 者 亦 奚 有
Tử giả diệc hề hữu
惟 以 重 吾 過
Duy dĩ trọng ngô quá
囂 然 眾 多 口
Hiêu nhiên chúng đa khẩu
惟 於 葬 之 日
Duy ư táng chi nhật
旗 扁 導 前 柩
Kỳ biển đạo tiền cữu
竽 工 八 九 人
Vu công bát cửu nhân
吹 送 列 左 右
Xuy tống liệt tả hửu
草 草 死 葬 完
Thảo thảo tử táng hoàn
酹 我 以 杯 酒
Lỗi ngă dĩ bôi tửu
爰 題 某 石 碑
Viên đề mộ thạch bi
皇 阮 故 休 叟
Hoàng Nguyễn cố hư tẩu.

Tác giả tự dịch là:

Di Chúc

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục
Số sinh ra gặp lúc dương cùng
Đức thày đă mỏng mỏng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy
5Học chẳng có rằng hay chi cả
Cưỡi đầu ngưởi kể đă ba phen
Tuổi là tuổi của gia tiên
Cho nên thày được hưởng niên lâu dày
Ấy thủa trước ông mày chưa đỗ
10Hoá bây giờ để bố làm xong
Ơn vua chửa chút đền công
Cúi trông thẹn đất ngửa trông thẹn trời
Sống được tiếng trên đời trọn vẹn
Chết được về quê quán hương thôn
15Mới hay trăm sự vuông tṛn
Sống lâu đă trải chết chôn chờ ǵ
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt
Kín chân tay đầu gót th́ thôi
Cỗ đừng to lắm con ơi
20Hễ ai chạy lại khuyên mời người ăn
Tế đừng có viết văn mà đọc
Đối trướng đùng gấm vóc làm chi
Minh tinh con cũng bỏ đi
Mời quan đề chủ con th́ chớ nên
25Môn sinh chẳng tống tiền đạt giấy
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi
Khách quen chớ viết thiếp mời
Ai đưa phúng điếu con thời chớ thu
Chẳng qua nợ để cho người sống
30Chết đi rồi c̣n ngóng vào đâu
Lại mang cái tiếng to đầu
Khi nay bày biện khi sau chê bàn
Cờ biển của vua ban ngày trước
Khi đưa thầy con rước đầu tiên
35Lại thuê một lũ phường kèn
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng
Việc tống táng nhung nhăng qua quít
Cúng cho thầy một it rượu hoa
Đề vào mấy chữ trong bia
40Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu.

Viết bài Di Chúc trên đây, dường như Nguyễn Khuyến đă nh́n thẳng vào cái chết của chính ḿnh. Về vấn đề này, Gabriel Marcel viết 16:

Lorsque je tente de prendre conscience de ma situation d’existant et que je la considère par rapport à ce que j’appelle mon avenir, je constate que seul apparait indubitable cette proposition : je mourrai sans que je puisse le moindre du monde me prononcer sur les conditions d’espace et de temps qui seront celles de ma mort.

Cái chết chắc chắn sẽ đến với mọi người trong tất cả chúng ta, nhưng chúng ta không một ai có mảy may kinh nghiệm về cái chết. Trên thực tế,  theo Gabriel Marcel, cái chết đặt con người vào giữa ḷng lẽ diệu huyền. Tại đó mỗi người chúng ta đều được tự do hành xử để cái chết sắp tới của ḿnh có ư nghĩa theo sự chọn lựa của ḿnh trong suốt cuộc sống. Trong cuốn En Chemin Vers Quel Éveil17 ,Gabriel Marcel, khi đó đă 84 tuổi, sáu tuần lễ trưóc khi từ trần, đưa ra nhận xét rằng người cao tuổi, đă hoàn tất được sự nghiệp, đă tự cho là ḿnh chu toàn được mọi bổn phận, đă t́m ra cho ḿnh được ư nghĩa của đời sống, thời dễ dàng chấp nhận cái chết hơn nhưng kẻ chưa thành đạt, hay kẻ có một cuộc sống khó khăn đầy rẫy thất bại.

Trở lại bài Di Chúc, trong chín câu đầu Nguyễn Khuyến nói với đàn con về những điều may mắn của đời ông, trước ngưỡng cửa cái chết : đức mỏng mà lại hưởng tuổi thọ hơn cha, học không hơn ai mà thi đỗ đầu ba lần, tuổi thọ lả do cha ông để lại cho ông, và đỗ cao để hoàn thành mộng thi cử của cha ông.

Truyện ông được hưởng tuổi thọ của cha chép trong gia phả, chi thứ ḍng họ Nguyễn ở Vị Dạ là khi ông c̣n nhỏ ốm nặng, cha ông nguyện được chết thay con, sau đó ông lành bệnh và năm ông 18 tuổi th́ cha ông từ trần. Truyện này Nguyễn Khuyến ghi lại trong hai câu mở đầu bài Cận Thuật :

Ngô bệnh ngô thân đại tích linh
Hất kim tứ thập tứ niên linh

dịch là

Ta đau cha nguyện chết thay<
Bốn bốn năm lẻ tới nay xa vời

Tiếp theo, Nguyễn Khuyến viết hai câu :

Cánh vô thực học t́ suy thế
Thặng hữu hư danh quán đại đ́nh

dịch là

Vô tài thực học giúp đời
Đỗ đầu đ́nh hội đè người hư danh:

Hai câu này phải chăng chứng tỏ là Nguyễn Khuyến coi nhẹ việc thi cử thành đạt của ông : việc ông đi học đi thi đỗ đạt chỉ để đáp đền ơn cha ông

Ấy thủa truớc ông mày chưa dỡ
Hoá bây giờ để bố làm xong

Nguyễn Khuyến hài ḷng với ḿnh v́ việc báo hiếu này, rối ông c̣n thỏa măn là được về quê quán di dưỡng tuổi già, thế nên lúc này, đối mặt với cái chết, ông b́nh thản viết:

Sống lâu đă trải chết chôn chờ ǵ?

Tiếp theo, ông dăn ḍ con về việc làm đám tăng : đồ khâm liệm không cần tốt xấu, cỗ bàn không cần hậu hĩ linh đ́nh. Rồi tới tám điều không được làm: không viết văn tế, không làm câu đối, không đặt minh tinh, không đề thần chủ, không mời học tṛ, không cáo phó với bè bạn, không mời khách khúa, không nhận phúng viếng. Rồi Nguyễn Khuyến dặn con ngày đám rước cờ biển vua ban đi trước, có phường bát âm đi hai bên quan tài đưa tiễn. Những điều dặn ḍ này khiến người đọc nghĩ rằng Nguyễn Khuyến muốn buông bỏ những điều ông đă làm trong cuộc đời làm quan làm thầy của ông. Đặc biệt là khi chôn cất xong ông dặn con tưới lên mộ ông một chén rượu trắng, phải chăng ông c̣n muốn giữ h́nh ảnh ông say của ông. Và trên bia ghi vắn tắt :

Quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu. phải chăng v́ việc ông sớm xin về hưu là một việc ông tự cho là đắc ư nhất trong đời ông? Phải chăng đó là điều mà ông đă làm được để thực hiện câu của Trang Tử18:

khéo nuôi cái sống của ta là khéo liệu cái chết của ta

Tóm lại, qua bài Di Chúc trên đây, Người đọc đă thấy Nguyễn Khuyến b́nh tĩnh nh́n vào cái chết của ḿnh, thu xếp việc cuối cùng cũa đời ḿnh và thản nhiên đi về quê thật của ông.

Nh́n sang thơ Đào Tiềm, trên nhánh thơ về cái chết của chính ḿnh, Đào Tiềm có ba bài dưới cùng đầu đề Văn Ca Thi. Bài thứ ba như sau:

挽 歌 詩
Văn Ca Thi
其 三
Kỳ Tam

荒 草 何 茫 茫
Hoang thảo hà mang mang
白 楊 亦 蕭 蕭
Bạch dương diêc tiêu tiêu
嚴 霜 九 月 中
Nghiêm sương cửu nguyệt trung
送 我 出 遠 郊
Tống ngă xuất viễn giao
四 面 無 人 居
Tứ diện vô nhân cư
高 墳 正 崔 嶢
Cao phần chính thôi nghiêu
馬 為 仰 天 嗚
Mă vi ngưỡng thiên ô
風 為 自 蕭 條
Phong vi tữ tiêu điều
幽 室 一 已 閉
U thất nhất dĩ bế
千 年 不 復 朝
Thiên niên bất phục triêu
千 年 不 復 朝
Thiên niên bất phục triêu
賢 達 無 柰 何
Hiền đại vô nại hà
向 來 相 送 人
Hướng lai tương tống nhân
各 自 澴 其 家
Các tự hoàn kỳ gia
親 戚 或 餘 悲
Thân thích hoặc dư bi
他 人 亦 已 哥
Tha nhân diệc dĩ ca
死 去 何 所 道
Tử khứ hà sở đạo
託 體 同 山 阿
Thác thể đồng sơn a

dịch là

Thơ Văn Ca 

Kỳ III

Mênh mông cánh đồng cỏ
Hàng bạch dương xác xơ
Trời tháng chín sương lạnh
Đưa ta ra ngoài ô
Bốn bên không nhà ở
Mộ thấp cao nhấp nhô
Ngựa hí vang nghển cổ
Gió từng cơn vật vờ
Nhà tối một đóng kín
Ngàn năm chẳng sáng cho
Ngàn năm chẳng sáng cho
Hiền đạt há khác chi 
Người đưa ta đến đó
Đà lục tục ra về ra về
Thân thuộc c̣n xót xa
Người dưng đà vui vẻ
Chết đi là hết nói
Thân vùi bên sườn đồi.

Cũng như Nguyễn Khuyến, Đào Tiềm trong bài Văn Ca trên đây, viết về cái đám tang cũa chính ḿnh không dăn ḍ con cháu như Nguyễn Khuyến, nhưng tường thuật đám tang của chính ḿnh như một nhân chứng. H́nh ảnh Đào Tiềm mô tả thân phận của người nẳm dưới mồ như vào trong nhà tói kín mít ngh́n năm không có anh sáng lọt tới, là một h́nh ảnh đặc biệt của Đào Tiềm mô tả cái đáng sợ của cái chết. Phải chăng đó là kết quả của điều Đào Tiềm sợ cái chết? Và đó là điểm Nguyễn Khuyến khác biệt với Đào Tiềm : Nguyễn Khuyến thản nhiên đối mặt với cái chết, dăn ḍ con cái lo việc tống táng cho ông. Sau hết, phải chăng hai câu cuối cùng bài Văn Ca cho thấy cái vô nghĩa của việc sống chết.

Chuyển sang câu truyện cái chết của người thân, Nguyễn Khuyến để lại bốn bài thơ, trong số đó bài nổi tiếng nhất, có kèm thêm bài tác giả tự dịch sang thơ nôm, là bài :

輓 同 年 雲 亭 進 士
Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ
楊 尚 書
Dương Thượng Thư

已 矣 楊 大 年
Dĩ hĩ Dương đại niên
雲 樹 心 懸 懸
Vân thụ tâm huyền huyền
回 憶 登 科 後
Hồi ức đanh khoa hậu
與 君 晨 夕 聯
Dữ quân thần tịch liêu
相 敬 且 相 愛
Tương kính thả tương ái
遭 逢 如 夙 緣
Tao phùng như túc duyên
有 時 出 京 路
Hữu thời xuát kinh lộ
空 山 聞 落 泉
Không sơn văn lạc tuyền
有 時 上 高 閣
Hữ thời thượng cao các
歌 兒 鳴 素 絃
Ca nhi minh tố huyền
有 時 對 君 飲
Hữu thời đối quân ẩm
大白 浮 八 延 
Đại bạch phù bát diên
有 時 與 論 文
Hữu thời dữ luận văn
東 壁 羅 簡 編
Đông bích la giản biên
厄 運 逢 陽 九
Ách vận phùng dương cửu
斗 升 非 貪 天
Đẩu thăng phi tham thiên
予 老 公 亦 老
Dư lăo công diệc lăo
解 組 歸 田 圓
Giải tổ quy điền viên
往 來 不 數 得
Văng lai bất sác đắc
一 遇 三 年 前
Nhất ngộ tam niên tiền
執 手 問 衰 健
Chấp thủ vấn suy kiện
語 言 殊 未 愆 
Ngữ ngôn thù vị khiên
公 年 少 予 歲
Công niên thiểu dư tuế
予 病 疑 公 先
Dư bệnh nghi công tiên
忽 聞 公 訃 至
Hốt văn công phó chí
驚 起 皇 皇 然
Kinh khởi hoàng hoàng nhiên
予 豈 不 厭 世
Dư khởi bất yếm thế
而 公 爭 上 仙
Nhi công tranh thượng tiên
有 酒 為 誰 買
Hữu tửu vi thủy măi
不 買 非 無 錢
Bất măi phi vô tiền
有 詩 為 誰 寫
Hữu thi vi thùy tả
不 寫 為 無 箋
Bất tả vi vô tiên
陳 蕃 榻 不 下
Trần Phồn tháp bất hạ
伯 牙 琴 亦 然
Bá Nha cầm diệc nhiên
公 既 棄 予 去
Công kư khí dư khứ
予 亦 不 公 憐
Dư diệc bất công liên
老 人 哭 無 淚
Lăo nhân khốc vô lệ
河 必 強 而 漣
Hà tất cưỡng nhi liên.

tác giả tự dịch là:

Khóc bạn

Bác Dương thôi đă thôi rồi
Nước mây mang mác ngậm ngùi ḷng ta
Nhớ từ thủa đang khoa ngày trước
Vẫn sớm hôi tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối tuôn róc rách lưng đèo
Có khi tầng gác cheo leo
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có khi rượu ngon cùng nhắp
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân
Có khi bàn soạn câu văn
Biết bao đông bích điển phần trước sau
Buổi dương cưu cùng nhau hoạn nạn
Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời
Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi thôi thế th́ thôi mới là
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác
Trước ba năm gặp bác một lần
Cầm tay hỏi hết xa gần
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can
Tuổi tôi lại c̣n hơn tuổi bác
Mà tôi đau trước bác mấy ngày
Ai ngờ bác vội về ngay
Chợt nghe tôi đă chân tay rụng rời
Ai chẳng biết chán đời là phải
Vội vàng chi đă mải lên tiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương
Tuổi già giọt lệ như sương
Hơi đâu ép lấy đôi hàng chứa chan.

Bài thơ Việt âm Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư và bài thơ nôm Khóc Bạn, là hai trong số ngoài bốn chục bài thơ viết bằng hai ngôn ngữ với cùng một đề tài, đă đưa tên tuổi Nguyễn Khuyến vào danh sách một số văn thi sĩ trên thế giới sáng tác một tác phẩm bằng hai ngôn ngữ, tỷ như nhà viết kịch Samuel Beckett (1906-1989) ngựi Ái Nhĩ Lan, sáng tác nhiều kịch bản nổi danh bằng hai thứ tiếng Anh và tiếng Pháp.

Những bài thơ tự dịch này của Nguyễn Khuyến có thể là khuôn vàng thước ngọc cho giới dịch thơ. Nguyễn Khuyến có biệt tài làm thơ Việt Âm cũng như làm thơ nôm khiến không có thể nào biết chắc được bản nào là bản chính bản nào là bản dịch. Trong bài tự dịch trên đây, cái khó là hai điển : Trần Phồn treo giường và điển Bá Nha treo Đàn. Trong bài thơ nôm, Nguyễn Khuyến không nhắc tới tên tuổi Trần Phồn và Bá Nha, nhưng ư chính Trần Phồn và Bá Nha nhớ bạn không v́ vậy mà phai mờ trong bài thơ nôm. Đào sâu vấn đề này là một đề tài quan trong trong việc dịch những áng thơ Việt Âm đời Lư đời Trần đời Lê đời Nguyễn sang thơ nôm.

Điểm đặc biệt của bài Khóc Bạn và bài Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư là điểm Nguyễn Khuyến đă cho người đọc thấy là không phải tác giả chỉ riêng khóc bạn mà dường như viết hai bài thơ này Nguyễn Khuyến không chỉ một ḿnh nhớ lại những kỷ niệm cũ ông đă sống cùng Dương Khuê, mà cả hai bài thơ cùng cho người đọc thấy tác giả đang linh động cùng Dương Khuê ôn lại truyện cũ, như khi Dương Khuê c̣n sống. Toàn thể ba mươi tám câu thơ là một chuỗi hoạt cảnh sống động. Đó là những cảnh Nguyễn Khuyến sống bên Dương Khuê kể từ khi, do duyên trời, hai người quen nhau ngày cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến kể lại kỷ niệm những ngày cùng Dương Khuê đi du ngoạn, ḥa ḿnh với thiên nhiên, hay cùng đi mua vui nơi ca lâu tửu điếm, hay những lúc cùng nhau đề vịnh. Rồi tới tuổi cùng nhau về già, gặp được nhau là mừng cho nhau c̣n khẻo mạnh, như lần gặp nhau cuối cùng ba năm trước. Mười sáu câu cuối bài Khóc Bạn và bài Văn Đồng Niên Vân Đ́nh Tiến Sĩ Dương Thượng Thư là đoạn tác giả kể cho Dương Khuê nghe nỗi kinh hoàng của ḿnh khi nghe tin Dương Khuê lên cơi tiên. Đoạn thơ này đẫm mấu hiện sinh qua câu :

Ai chẳng biết chán đời là phải

bẩy chữ này làm người đọc nhớ tới Albert Camus (1913-1960) triết gia người Pháp viết trong cuốn Le Mythe de Sisyphe 19:

la vie ne vaut pas la peine d’être vécue.

Tiếp theo, Albert Camus 20 đưa ra nhận xét về cái ngỡ ngàng, cái chán nản của con người trước cái phi lư của cái chết :

Un jour seulement, le 'pourquoi' s'élève et tout commence dans cette lassitude teintée d'étonnement. 'Commence', ceci est important. La lassitude est à la fin des actes d'une vie machinale, mais elle inaugure en même temps le mouvement de la conscience. Elle l'éveille et elle provoque la suite. La suite, c'est le retour inconscience dans la chaine, ou c'est l'éveil définitif.

Cái ngỡ ngàng đến với Nguyễn Khuyến qua câu :

Chợt nghe tôi đă tay chân rụng rời.

Cái chán nản Nguyễn Khuyến tả trong bốn câu :

Rượu ngon không có bạn hiền
Không ngon không phải không tiền  không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai ai biết mà đưa
Giường kia treo nhưng hững hờ
Đàn kia gẩy nhưng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Cái chết phi lư làm Nguyễn Khuyến mất bạn, ông không c̣n thiết uống rượu, ngâm thơ, gẩy đàn, mà chỉ c̣n nhớ thương bạn. Nhớ thương bạn, nhưng Nguyễn Khuyến đă già rồi, không c̣n nước mắt khóc bạn nữa, hay Nguyễn Khuyến đă đạt tới chữ ngộ, (dịch chữ éveil của Camus trong dẫn chứng trên đây).

Người đọc thơ Nguyễn Khuyến, không khỏi thấy rằng  cái chết của người bạn thân có một điểm quan trọng : đó là cái chết không chỉ cho con người biết là ta đă mất bạn, mà trái lại c̣n cho ta thấy là ta c̣n thương tiếc bạn. Với ḷng thương tiếc đó, đôi khi con người mất bạn c̣n cảm thấy như bạn đang ở bên cạnh ...  thân thiết hơn bao giờ hết.  Phải chăng đó chính là cảm hứng của Nguyễn Khuyến khi viết bài Khóc Bạn trên đây?

Trong ḍng thơ về cái chết của người thân, Nguyễn Khuyến c̣n để lại ba bài thơ khóc vợ.  Trước hết là bài :

悼 內
Điếu Nội

巾 櫛 追 隨 五 十 年
Cân trút truy tùy ngũ thập niên
倚 槐 一 夢 已 成 眠
Ỷ ḥe nhất mộng di thành miên
白 駒 忽 忽 有 如 
Bạch câu hốt hốt hửu như thị
青 塚 纍 纍 誰 不 然
Thanh trủng luy luy thùy bất nhiên
淨 土 安 知 非 爾 樂
Tịnh thổ an tri phi nhĩ lạc
塵 途 未 必 望 人 憐
Trần đồ vị tất vọng nhân liên
若 教 我 壽 如 彭 祖
Nhược diao ngă tgọ như Bành Tổ
八 百 春 秋 幾 泣 懸
Bát bách xuân thu kỷ khấp huyền

dịch là

Khóc Vợ

Năm chục năm thôi cũng đành
Giấc ḥe chợp mắt mà thành ngàn thâu
Ngoài song vùn vụt bóng câu
Ngổn ngang mồ mả ai nào khác ai
Người về tĩnh thổ vui thay
Đường trần kẻ ở nỗi rày xót thương
Sống bằng Bành Tổ xin nhường
Tám trăm năm ấy đoạn trường đ̣i phen.

Qua câu đầu bài thơ, giới nghiên cứu đồng ư rằng bài thơ này Nguyễn Khuyến khóc bà vợ cả, thành hôn với ông từ năm ông mới mười bẩy tuổi. Trong bài thơ trên đây, Nguyễn Khuyến không nhắc lại một kỷ niệm rơ rệt nào giữa ông và bà vợ cả. Ông mô tả năm mươi năm bà nâng khăn sửa túi cho ông như một giấc ḥe. Nay bà đă ra người thiên cổ như tất cả ai ai khác. Bà về nơi tịnh thổ, để mối xót thương cho ông. Nỗi xót thương đè nặng khiến ông thương hại ông Bành Tồ, theo truyền thuyết, sống tám trăm năm chôn 49 bà vợ.

Nh́n qua ḍng thơ nôm, ngựi đọc thơ t́m thấy một bài ghi lại kỷ niệm giữa Nguyễn Khuyến và bà vợ cả.

Đó là bài:

Khuyên Vợ Cả

Ta chẳng như ai lối nguyệt hoa
Trước là ngẫm nghĩ nỗi gần xa
Lấy năm th́ cũng dành ngôi chính
Dấu bẩy càng thêm vững việc nhà
Mọi việc cửa nhà là việc nó
Mấy con trai gái ấy con ta
Thôi đừng nghĩ sự chi chi cả
Chẳng chữ ǵ hơn chữ thuận ḥa.

Bài thơ chữ nôm cho thấy, Nguyễn Khuyến, tuy có bốn bà vợ, nhưng không phải là người

Mặn t́nh cát lũy nhạt t́nh tao khang. (Kiều)

Tự diển Khai Trí Tiến Đức giảng hai chữ cát lũy là một loại dây ḅ như cây sắn, nghĩa bóng là người vợ lẽ; và hai chữ tao khang là bă rượu và hạt tấm, nghĩa bóng là người vợ cưới thủa c̣n bần hàn. Có nhiều thoại về bà vợ tao khang của Nguyễn Khuyến . Một khoa, Nguyễn Khuyến đi thi, nhà thiếu tiền, bà phải cầm cố cả áo quần mới tạm đủ tiền cho Nguyễn Khuyến ăn đường đi thi. Đến ngày Nguyễn Khuyến vinh quy, bà con cùng chị em đi làm công ở một làng xa, bà nấn ná không dám về, e mất buổi công. Chị em phải giục măi bà mới lội tắt cánh đồng về đón chồng.

Nay bà cả vui nẻo về tĩnh thổ, để mối xót thương cho ông ở lại cơi trần, dường như là lúc ông thấy là cái có được sống dai, lại được đa nhân duyên như ông Bành Tổ cũng chẳng là hạnh phúc trong cuộc sống con người. Cái chết chắc chắn làm bà khuất dạng bên ông, nhưng phải chăng cái chết cũng tạo ra ư nghỉa cho cái hiện diện của bà bên ông trong suốt năm chục năm qua mà tới nay ông mới nhận ra được?

Phải chăng đó là điều Gabriel Marcel viết trong cuốn Journal Métaphysique 21 (1938-1943), kèm trong tập Présence et Immortalité như sau :

Rôle que peut jouer ici la mort : en donnant du recul à l’autre, elle l’ecarte de moi, elle le place à distance où je peux enfin le voir, où il peut se révéler à moi.

Sau bài Khóc Vợ trên đây, trong ḍng thơ Việt Âm c̣n có bài :

旅 殯 哭 內
Lữ Thấn Khốc Nội

相 期 佳 老 老 無 緣
Tương kỳ giai lăo lăo vô duyên
一 別 逾 年 便 百 年
Nhất biệt du niên tiện bách niên
招 爾 魂 兮 來 此 些
Chiêu nhĩ hồn hề lai thử ta
曰 予 慟 矣 為 誰 憐
Viết dư dỗng hỹ vị thùy liên
邶 鄘 而 下 風 斯 變
Bội dung nhi hạ phong tư biến
秦 漢 之 間 禮 則 然
Tần Hán chi gian lễ tắc nhiên
聞 訃 不 勝 衰 病 久
Văn phó bất thắng suy bệnh cửu
旅 墳 菁 草 已 芊 芊 
Lữ phần thanh thảo dĩ thiên thiên.

dịch là

Khóc Vợ Chôn Nơi Đất Khách

Hẹn đầu bạc lăo vô duyên
Một năm xa cách lỗi nguyền trăm năm
Gọi hồn hồn có về chăng
V́ ai đau xót khóc than năo nùng
Tư phong đổi từ Bội Dung
Giữa Tần Hán lễ vẫn chừng ấy thôi
Bệnh già tin đến ngậm ngùi
Tá tà ngọn cỏ quê người mồ chôn.

Giới nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Khuyến cho biết là Nguyễn Khuyến có bốn vợ. Bà cả họ Nguyễn, người cùng làng; bà thứ hai cũng họ Nguyễn. Sau khi bà cả bà hai tạ thế, Nguyễn Khuyến cưới bà kế, rồi cưới thêm bà thứ tư. Bà này không con và mất sớm. Các nhà văn bản học phân vân không biết bài thơ trên dây Nguyễn Khuyến khóc bà nào 22.

Tiếp tục t́m trong ḍng thơ Việt Âm, người đọc gặp bài :

Văn Thiếp Phạm Thị 23

Ai ai nhĩ Phạm ky
Ṭng ngă kim thất kỳ
Tu du khí ngă khứ
Kiết nhiên vô nhất di
Tuy nhiên hữu thành hiệu
Mang mang bất khả kỳ
Bằng viễnphương huyền thụ
Đương thời mạc chi tri
Hà dĩ nhất tử hậu
Bích thảo sinh tân tỳ
Thẩn nhĩ thị phụnhân
Phủ nhương vô sở ti
Phấn thân hiệu cân quắc
Thức mục vô tu mi
Thế đạo hữu như thử
Nhĩ tân lương bất khi
Khốc tử phi vi sinh
Khẳng khái hứng tửu chi
Phi phi thất tịch vũ
Ḥa lệ vi tân thi.

dịch là

Khóc Bà Thiếp Họ Phạm

Khóc nàng họ Phạm xót thương
Bẩy năm một chiếu một giường có nhau
Bỏ ta bằn bặt đi đâu
Nỗi con chưa có thêm rầu ḷng ta 
Ngỡ là chung sống đến già
Hóa ra gặp lại họa là kiếp sau
Xa nàng tin bặt bấy lâu
Nỗi nàng vắn số thật đâu có ngờ
Đến khi xanh cỏ yên mồ
Hay tin mới lập bàn thờ thờ vong
Đành nàng phận gái chữ ṭng
Khói hương chẳng biết cậy trông ai cùng
Yếm khăn đến tuổi lấy chồng
Mày râu giụi mắt vừa ḷng chẳng ai
Chớ trêu sự thế đặt bày
Chẳng lầm duyên kiếp xum vầy cùng ta
Khóc nàng chẳng vị gần xa
Tay nâng chén rượu xót xa tấc ḷng
Mưa ngâu tháng bẩy ṛng ṛng
Ḥa cùng nước mắt viết ḍng tân thi.

Đối chiếu bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm với kết quả nghiên cứu tiểu sử của Nguyễn Khuyến cho thấy một điểm đáng ghi nhận. Đó là bà thiếp thứ tư mất sớm và không có con, và cả ba bà kia cùng có con ghi rơ được tên tuổi. Trong bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, Nguyễn Khuyến cho hay là bà họ Phạm chưa có con. Vậy phải chăng bà thứ tư là bà thiếp họ Phạm? Đằng khác, đối chiếu câu thứ hai bài Khóc Vợ Chôn Nơi Đất Khách với câu thứ ba bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, người đọc cũng ghi nhận một điểm. Đó là bà vợ Nguyễn Khuyến chết chôn đất khách,  đă bỏ đi sau cả năm Nguyễn Khuyến mới được tin bà mất và chôn tại quê người. Trong bài Khóc Bà Thiếp Họ Phạm, tác giả cũng cho thấy bà bỏ đi một thời gian khá lâu ở nhà mới được tin bà đă mất. Vậy phải chăng, theo hai bài thơ này, bà thiếp họ Phạm và bà mà Nguyễn Khuyến khóc trong bài Lữ Thấn Khốc Nội v́ chết chôn tại đất khách là một bà?

Điểm đáng lưu ư khác là ḍng nước mắt của Nguyễn Khuyến trước ba cái chết của ngựi thân. Nguyễn Khuyến không c̣n nước mắt khóc bạn Dương Khuê. Nguyễn Không không rơi nưóc mắt ngày bà vợ cả về tịnh thổ, nhưng nước mắt Nguyễn Khuyến chan ḥa như mưa tháng bẩy khi hay tin bà thiếp họ Phạm mất đă xanh mồ nơi đất khách.

Trở lại bài Lữ Thấn Khốc Nội, qua câu thứ ba:

招 爾 魂 兮 此 些
Chiêu nhĩ hồn hề lai thử ta

dịch là

Gọi hồn hồn có về chăng

gợi cho người đọc nhớ tới một đoạn trong bài Trường Hận Ca, dài hai trăm câu, của nhà thơ Đường Bạch Cư Dị, tả nỗi vua Đường Minh Hoàng thương nhớ Dương Qúy Phi sai phương sĩ Lâm Cùng Hồng Đô Khách phải đè mây cưỡi gió đi khắp đó đây kiếm t́m quư phi cho nhà vua. Khi quư phi gặp phương sĩ, nàng giăi tỏ mối hận đằng đẵng vô tận của nàng. Câu truyện trước ngày cưới của bà thiếp họ Phạm cũng được Nguyễn Khuyến nhắc nhở trong thơ: đến tuổi lấy chồng bà họ Phạm đă có nhiều người tới hỏi cưới, nhưng bà không ưng một ai mà về làm thiếp Nguyễn Khuyến, nhưng không biết v́ sao, và chính Nguyễn Khuyến cũng không rơ, bà đă bỏ ra đi rồi trong ngoài một năm sau th́ có tin báo bà từ trần và táng thân nơi đất khách. Bà c̣n trẻ, lại chưa có con, không có ai hương khói khiến Nguyễn Khuyến càng thêm thương xót. Phải chăng ḍng nước mắt chứa chan như mưa tháng bẩy của Nguyễn Khuyến là ḍng nước mắt ông khóc mối hận của bà thiếp họ Phạm như Đường Minh Hoàng thương khóc Dương Quư Phi và kèm theo niềm hối hận là đă không che chở nổi mạng sống cho quư phi?

C̣n một điều đáng chú ư trong bài Khóc Vợ Chôn Nơi Đất Khách, là Nguyễn Khuyến muốn gọi hồn bà thiếp họ Phạm như vua Đường Minh Hoàng cho phương sĩ Lâm Cùng Hồng Lô Khách đi t́m Dương Quư Phi tại thế giới bên kia cái chết.  Ngày nay trên thế giới khoa học văn minh vẫn c̣n có nhiều hội mục đích nối liên lạc vói thế giới bên kia cái chết. Gabriel Marcel, qua các tài liệu để lại, từng là một nhà nghiên cứu muốn đi sâu vào truyện này.

Sau đây là một đoạn đối thoại về việc đi t́m liên lạc với người bên kia cái chết. giữa Gabriel Marcel và Paul Ricoeur. Paul Ricoeur nói24:

Si je pleure ceux que j’ai aimés, c’est que, d’une certaine facon, je les ai perdus et que ce seait miracle de les trouver.

Gabriel Marcel trả lời :

Pourquoi le miracle n’existerait pas?                               

Trên ḍng thơ khóc người thân, nhiều cuốn tuyển thơ Đào Tiềm chép bài văn tế kèm lới tựa dưới đây :

祭 程 氏 妹 文
Tế Tŕnh Thị Muội Văn

序 : 維 晉 義 熙 三 年 五 月 甲 辰,
Duy Tấn Nghĩa Hy tam niên ngũ nguyệt giáp th́n
程 氏 妹 服 制 再 周.
Tŕnh thị muôi phục chế tái chu. 
淵 明 以 少 牢 之 奠, 俛 而 酹 之
Uyên Minh dĩ thiếu lao, phủ nhi lỗi chi,
嗚 呼 哀 哉
Ô hô ai tai.

寒 往 暑 來
Hàn văng thử lai
日 月 寢 疏
Nhật nguyệt tẩm sơ
梁 塵 委 積
Lương trần ủy tích
庭 草 荒 蕪
Đ́nh thảo hoang vu
廖 廖 空 室
Liêu liêu không thất
哀 哀 遺 孤
Ai ai di cô
肴 觴 虛 奠
Hào thương hư điện
人 逝 焉 如
Nhân thệ yên như
誰 無 兄 弟
Thùy vô huynh đệ
人 亦 同 生
Nhân diệc đồng sinh
嗟 我 與 爾
Ta ngă dữ nhĩ
特 百 常 情
Đặc bách thường t́nh.
慈 妣 早 世
Từ tỷ tảo thế
時 尚 孺 嬰
Th́ thượng nhu anh
我 年 二 六
Ngă niên nhị lục
爾 纔 九 齡
Nhĩ tài cửu linh
爰 從 靡 識
Viên ṭng mỹ thức
撫 髫 相 成
Phủ thiều tương thành
咨 爾 今 妹
Tư nhĩ kim muội
有 德 有 橾
Hữu đức hữu thao
靖 恭 鮮 言
Tĩnh cung tiên ngôn
聞 喜 則 樂
Văn hỷ tắc lạc
能 正 能 和
Năng chính năng ḥa
惟 友 惟 孝
Duy hữu duy hiếu
行 止 中 閨
Hành chỉ trung khuê
可 象 可 傚
Khả tượng khả hiệu
我 聞 為 喜
Ngă văn vi hỷ
慶 自 己 蹈
Khánh tự kỷ đạo
彼 蒼 何 偏
Bỉ thương hà thiên
而 不 斯 報
Nhi bất tư băo
昔 在 江 陵
Tích tại Giang Lăng
重 罹 天 罰
Trọng ly thiên phạt
兄 弟 索 居
Huynh đệ tác cư
乘 隔 楚 越
Thừa cách Sở Việt
伊 我 與 爾
Y ngă dữ nhĩ
百 哀 是 切
Bách ai thị thiết
黯 黯 高 雲
Ảm ảm cao vân
蕭 蕭 冬 月
Tiêu tiêu đông nguyệt
白 雲 俺 晨
Bạch vân yểm thần
長 風 悲 節
Trường phong bi tiết
感 惟 崩 號
Cảm duy băng hào
興 言 泣 血
Hưng ngôn khấp huyết
尋 念 平 昔
Tầm niệm b́nh tích
觸 事 未 遠
Xúc sự vị viễn
書 疏 猶 存
Thư sơ do tồn
遺 孤 滿 眼
Di cô măn nhăn
如 何 一 往
Như hà nhất văng
終 天 不 返
Chung thiên bất phản
寂 寂 高 堂
Tịch tịch cao đường
何 時 復 踐
Hà th́ phục tiễn
藐 藐 孤 女
Miểu miểu cô nữ
曷 依 曷 恃
Hạt y hạt thị
煢 煢 遊 魂
Quỳnh quỳnh du hồn
誰 主 誰 祀
Thuỳ chủ thuỳ tư
奈 何 程 妹
Nại hà Tŕnh muội
於 此 永 巳
Ư thử vĩnh tỵ
死 如 有 知
Tử như hữ tri
相 見 蒿 里
Tương kiến hao lư
嗚 呼 哀 哉
Ô hô ai tai.

dịch là

Đời Tấn, năm Nghĩa Hy thứ ba, tháng năm, ngày Giáp Th́n. Nhân ngày giổ lần thứ hai, em gái là Tŕnh Thị, ta Uyên Minh sửa lễ thiếu lao, cúi đầu tưới rượu. Ô hô ai tai.

Rét qua nực tới
Ngày tháng cách trở
Xà nhà bụi phủ
Sân cỏ hoang vu
Trong nhà vắng ngắt
Sùi sụt con côi
Đầy bàn cỗ cúng
Người thác đâu rồi

Ai không anh em
Thường cùng một mẹ
Nhưng em cùng ta 
Khác xa thế t́nh
Mẹ em tạ thế
Thủa ḿnh thơ dại
Ta mới mười hai
Em chớm chín tuổi
Từ thủa để chóm
Tới kỳ chải tóc

Thương người em nhỏ
Có đức có hạnh
Khiêm nhường ít lời
Vui nghe điều lành
Đoan chính thuận ḥa
Vẹn toàn chữ hiếu
Trong chốn pḥng khuê
Đáng bực gương mẫu
Từng nghe làm lành
Tất gặp sự lành
Ông Xanh bất công
Chẳng chút đền đáp

Thủa ở Giang Lăng
Từng bị trời phạt
Anh em ĺa đàn
Sở Việt cách biệt
Riêng ta cùng em
Trăm đường thua thiệt
Ảm đạm mây cao
Trăng đông lạnh lẽo
Mây che sớm mai
Gió lùa thê thảm
Xúc động khôn cầm
Mắt trào lệ máu.

Ôn lại truyện cũ
Xa xưa chẳng quên
Thư em giữ đủ
Trước mắt con nhỏ
Một khi ra đi
Sao chẳng có về
Nhà trên quạnh quẽ
Bao giờ trở lại

Nheo nhóc con côi
Nương ai nhờ ai
Lởn vởn cô hồn
Ai cúng ai thờ
Sao đây cô Tŕnh
Vĩnh biệt từ nay
Người chết bằng hay
Gặp nhau tuyền đài
Ô hô ai tai.

Đối chiếu với những bài thơ Nguyễn Khuyến khóc ngựi thân, người đọc thấy nhiều điểm tương đồng với bài văn tế em gái của Đào Tiềm. Xét trên cấu trúc bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến và bài văn tế em gái của Đào Tiềm, người đọc thấy là trong cả hai bài, người chết gợi cho người sống nhiều kỷ niệm sâu đậm, và sự ra đi của ngưới chết làm người sống thấy cô đơn, bàng hoàng xót thương. và nhất là thấy rơ cái phi lư của sự sống chết. Đào Tiềm không chúc người em gái sớm về Tịnh Thồ, nhưng hẹn gặp lại cô em gái ờ cơi bên kia cuộc sống. Hy vọng đó cũng là hy vọng của Nguyễn Khuyến mong gặp lại bà vợ chết chôn nơi quê người. Đào Tiềm khóc người em gái bằng hai ḍng nước mắt cũng như Nguyễn Khuyến khóc bà thiếp họ Phạm bằng ḍng nước mắt chan ḥa như mưa ngâu tháng bẩy. Phải chăng Dương Khuê đă già và Nguyễn Khuyến cũng đă già khiến khi Dương Khuê nằm xuống Nguyễn Khuyến không c̣n nước mắt khóc Dương Khuê. Nhưng bà thiếp họ Phạm c̣n trẻ lại chưa có con khiến Nguyễn Khuyến nước mắt chan ḥa khi nghe tin bà vắn số, và Đào Tiềm khóc cô em gái trào máu mắt v́ cô em mất khi c̣n trẻ, để lại đàn con côi không nơi nương tựa?




[11]Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 284-285.
[12] Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 133-134
[13] TrangTử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 131.
[14] Chưa tim được bản chữ nho.
[15] Mai Mộng Liên, Nguyễn Du Toàn Tập, sách đă dẫn tr. 185 :
[16] Gabriel Marcel, Etre et Avoir, vol.1: Journal Métaphysique (1928-1933),Gallimard, Paris 1927 p. 171-172
[17] Gabriel Marcel, En Chemin vers quel éveil, Gallimard, Paris 1971, p.160
[18] Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương Đại Tông Sư,bản dịch của Nhượng Tống, sách đă dẫn, tr. 128.
[19] Le Mythe de Sisyphe, Gallimard, Paris 1942, p. 16
[20] Le Mythe de Sisyphe, sách đă dẫn, p. 27.
[21] Gabriel Marcel, Journal métaphysique (1938-1943). Parus dans Présence et Immortalité, coll. Homo Sapien, Flamarion, Paris 1959, p.140.
[22] Cuốn Thi Văn Nguyễn Khuyến, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội 1971, tr. 425 ghi chú là chưa rơ tác giả khóc bà nào. Cuốn Thi Hào Nguyễn Khuyến Đời và Thơ do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, viện Văn Học Xuất bản năm 1994, trang 478, không cho biết xuất xứ và lư do, ghi là có lẽ tác giả khóc bà vợ thứ hai, tức là bà Nguyễn Thị Thục; Cuốn Nguyễn Khuyến, Tác Phẩm & Dư Luận, Tuấn Thành và Anh Vũ tuyển chọn, Nhà Xuất bản Văn Hoc, Hà Nội ,2002, tr. 206, cũng không cho biết xuất xứ cùng lư do, ghi là có lẽ tác giả khóc bà thứ hai.
[23] Chưa t́m được bản chữ nho
[24] Réné Davignon, Le Mal Chez Gabriel Marcel, sách đă dẫn, p.133