IX
Lên Chùa

Câu thứ năm của bài Thu Điếu:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

gợi cho người đọc h́nh ảnh đám thấp mây như mộng trong bài Vũ Lâm Thu Văn và đám phong định vân nhàn  trong bài Lạng Châu Văn Cảnh của vua Trần Nhân Tôn. Hai đám mây này là tâm cảnh hai người thơ: vua Trần Nhân Tôn và Nguyễn Khuyến không nơi giàng không chốn buộc, trọn vẹn làm chủ chính ḿnh. H́nh ảnh đám mây không nơi trụ này gợi cho người đọc một câu thẫm mầu Thiền trong kinh Kim Cương của Lục Tổ 106:

應 無 所 住 而 生 其 心
Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm

mà Tuệ Sỹ 107, dịch là :

Hăy để cho tâm dấy lên
mà không cố định nó vào bất kỳ nơi nào.

Điều đáng lưu ư là trong thơ Việt Âm, không riêng vua Trần Nhân Tôn, hay Nguyễn Khuyến,  mà  nhiều nhà thơ khác trong thơ Đông Á thường có nhiều bài thơ mang mầu thiền bên cạnh nhưng bài thơ mang sắc Đạo. Giới nghiên cứu  giải thích là tại Trung Quốc, cũng như tại nhiều quốc gia Đông Á khác, đạo Lăo đă có một ngôn ngữ riêng và một cơ sở vững chắc khi đạo Phật từ phía tây dẫy Hy Mă Lạp Sơn lan tràn tới và những người phiên dịch kinh sách nhà Phật vốn là những người đă tinh thông đạo Lăo nên thường dùng nhiều tiếng sẵn có của đạo Lăo để phiên dịch những ư niệm Phật học. Do đó trên mặt ngôn ngữ và cả trên thực tế khó bề phân biệt ranh giới giữa sắc Đạo với mầu Thiền.

Vậy nên,  trong thơ Nguyễn Khuyến có một nhánh thơ đậm mầu Thiền, tiêu biểu là bài:

青 江 寺 避 暑
Thanh Giang Tự Tỵ Thử

不 到 青 江 寺
Bất đáo Thanh Giang Tự
至 今 幾 二 年
Chí kim cơ nhị niên
夏 日 苦 煩 熱
Hạ nhật khổ phiền nhiệt
扶 杖 來 參 禪
Phù trượng lai tham thiền
涸 井 水 容 甕
Hạc tỉnh thủy dung úng
新 松 枝 及 肩
Tân tùng chi cập kiên
消 息 有 如 是
Tiêu tức hữu như thị
俯 仰 徒 茫 然
Phủ ngưởng đồ mang nhiên
寺 僧 見 吾 至
Tự tăng kiến ngô chí
拾 果 羅 吾 前
Thập quả la ngô tiền
未 辨 色 空 界
Vị biện sắc không giới
但 求 人 世 憐
Đăn cầu nhân thế liên
何 處 小 風 引
Hà xứ tiểu phong dẫn
額 手 磚 床 眠
Ngạch thủ chuyên sàng miên
一 鍾 叩 殘 夢
Nhất chung khấu tàn mộng
歸 來 明 月 天
Quy lai minh nguyệt thiên.

dịch là

Tránh Nắng Chùa Thanh Giang

Từ hai năm mấy tới giờ
Chưa về lậy Phật bên chùa Thanh Giang
Ngày hè nóng nữc như rang
Nhớ chùa chống gậy lần sang thăm chùa
Giếng nông nước cạn bùn khô
Thông non héo nắng ngọn vùa ngang vai
Mặc cho con tạo vần xoay
Ngước lên nh́n xuống ai hay lẽ tṛi
Sư già thấy lăo sang chơi
Gọi mang mâm quả ra mời hân hoan
Sắc không huyền diệu chẳng bàn
Đoái thương nhân thế muôn vàn cậy trông
Gió đâu đến giải cơn nồng
Vắt tay nền gạch điện trong ngủ vùi
Chuông ngân mộng tỉnh thảnh thơi
Ra về trăng sáng một trời mênh mông.

Nguyễn Khuyến thường có thơ than cái nóng mùa hè. Trong ḍng thơ nôm có bài:

Than Mùa Hè

Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay lả tả
Nỗi ấy ngỏ cùng ai
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy
Gà đă sớm dục dă.

Nguyễn Khuyến than nỗi khó ngủ lại thêm mùa hè đêm ngắn ngày dài,  tiếng dế tiếng muỗi, khiến ông thêm buồn bực chẳng biết ngỏ cùng ai. Nh́n sang ḍng thơ Việt Âm, người đọc thấy nguyễn Khuyến nói rơ nỗi buồn bực của ông trong bài ngũ ngôn:

壬 寅 夏 日 
Nhâm Dần Hạ Nhật

今 夏 苦 太 熱
Kim hạ khổ thái nhiệt
草 枯 澤 亦 竭
Thảo khô trạch diệc kiệt
益 之 以 西 風
Ích chi dĩ tây phong
何 物 不 靡 滅
Hà vật bất mỹ diệt
矧 予 病 且 貧
Thẩn dư bệnh thả bần
行 年 近 丘 穴
Hành niên cận khâu huyệt
井 非 無 清 泉
Tỉnh phi vô thanh tuyền
飲 之 徒 汗 血
Ẩm chi đồ hăn huyết
飯 非 無 羹 和
Phạn phi vô canh ḥa
食 之 不 可 咽
Thực chi bất khả yết
侉 程 如 不 恭
Khỏa tŕnh như bất cung
孤 立 若 苦 節
Cô lập nhược khổ tiết
嗟 此 百 罹 逢
Ta thử bách ly phùng
胡 為 又 切 切
Hồ vi hựu thiết thiết.

dịch là

Ngày Hè Năm Nhâm Dần

Hè này nóng nực như hun
Đồng khô cỏ cháy trơ bùn đầm ao
C̣n thêm những trận gió Lào
Muôn loài chẳng sót loài nào chẳng thiêu 
Phận ta đau ốm lại nghèo
Tuổi kề miệng lỗ c̣n nhiều long đong
Giếng đâu đă cạn nước ḍng
Uống vào khổ nỗi ṛng ṛng mồ hôi
Cơm ngon canh ngọt tiếp mời
Ăn vào đâu có nuốt trôi nổi nào
Ở trần suồng să làm sao
Một ḿnh giữ tiết thế nào cho đang
Trăm chiều rắc rối nặng mang
Sao c̣n nghiệt ngă buộc giàng nhau thêm.

Bài thơ nôm Than Mùa Hè và bài Nhâm Dần Hạ Nhật trên đây là hai bài đặc biệt của Nguyễn Khuyến, bởi lẽ người đọc rất it gặp trong Quế Sơn Thi Tập những bài thơ kể khổ như hai bài này. Bài thơ Việt Âm ghi rơ làm năm Nhâm Dần, giới nghiên cứu cho hay là năm 1902. So sánh với bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, người đọc thấy những h́nh ảnh mô tả nạn hạn hán trong hai bài có nhiều h́nh ảnh tương tự: cũng cảnh đồng khô cỏ cháy, cũng cảnh đầm ao trơ bùn, ngọn thông khô héo th́ là một loài thảo mộc bị xém gió Lào. Phải chăng Nguyễn Khuyến cũng viết bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử vào năm Nhâm Dần 1902? Bài Nhâm Dần Hạ Nhật khác bài Thanh Giang Tỵ Thử ở điểm tác giả tiếp tục tả cái bực bơ nóng nực mà ông phải chịu đưng: khát không dám uống nước, cơm canh ăn không nổi v́ nỗi đang đau ốm, thêm vào đó nỗi thiếu thốn nghèo nàn. Trong bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, Nguyễn Khuyến tạm quên cái khổ hạn hán chồng gậy từng bước, phải chăng v́ mắt kém, lần sang thăm chùa.

Thi cảnh trong hai bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử và bài Nhâm Dần Hạ Nhật của Nguyễn Khuyến có nhiều h́nh ảnh gợi lại bài ngũ ngôn dưới đây của Vương Duy 108:

苦 熱
Khổ Nhiệt

赤 日 滿 天 地
Xích nhật mản thiên địa
火 雲 成 山 岳
Hỏa van thành sơn nhạc
草 木 盡 焦 卷
Thảo mộc tận tiêu quyển
川 澤 皆 竭 涸
Xuyên trạch giai kiệt hạc
輕 紈 覺 衣 重
Khinh hoàn giác y trọng
密 樹 苦 陰 薄
Mật thụ khổ âm bạc
莞 簟 不 可 近
Hoàn điệm bất khả cận
絺 綌 再 三 濯
Hy khích tái tam trạc
思 出 宇 宙 外
Tư xuất vũ trụ ngoại
曠 然 在 寥 廓
Khoáng nhiên tại liêu khuếch
長 風 萬 里 來
Trường phong vạn lư lai
江 海 蕩 濁 煩
Giang hải đăng phiền trọc
卻 顧 身 為 患
Khước cố thân vi hoạn
始 知 心 未 覺
Thủy tri tâm vị giác
淴 入 甘 露 門
Xuất nhập Cam Lộ môn
宛 然 清 景 樂
Uyển nhiên thanh cảnh lạc.

dịch là

Khổ V́ Nóng

Vừng hồng nung nấu đất trời
Đỉnh non mây lửa ngừng trôi lững lờ
Nơi nơi cỏ cháy bùn khô
Lạch đầmcạn nước thẩy trơ dáy bùn
Lương the áo nặng như cùm
Bóng râm hừng hực dưới lùm cây cao
Chiếu ngồi chằng dám ngồi lâu
Mồ hôi nhỏ giọt thấm lau ṛng ṛng
Thoát cảnh đây nhưng ước mong
Tới vùng thoáng đăng thỏa ḷng bổng bay
Gió từ vạn dặm tới đây
Buồn phiền biển rộng sông dài tiêu tan
Có thân có khổ há than
Rơ là chữ giác chưa an trọn niềm
Nẻo Cam Lộ Môn vội t́m
Chút vui thanh cảnh y nhiên họa thành.

Bài Khổ Nhiệt trên đây là một trong những bài thơ của Vương Duy đă có nhièu người trong giới Hán học dịch sang tiếng Anh tiếng Pháp. Áng thơ được coi là một áng thơ tiêu biểu cho nét thơ Thiền của Vương Duy.

Theo Martha L. Wagner 109, bài Khổ Nhiệt gồm hai đoạn. Tám câu đầu tả cảnh hạn hán, lời thơ tựa như một bài phú: bắt đầu là cảnh nóng nực nung nấu đất trời, tiếp theo là cái nóng nực tác giả cảm thấy trên thân thể. Tám câu tiếp đề ra ước vọng của tác giả sớm thoát cảnh nung nấu và kết luận là chỉ có nẻo t́m về Cam Lộ Môn mới hy vọng t́m thấy niềm thanh thản.

Tony Barnstone và Willis Barnstone 110 phân tích bài Khổ Nhiệt và cho rằng : “phần thứ nhất bài thơ tŕnh bày những h́nh ảnh tượng trưng cảnh khổ năo trong kiếp sống. Phần thứ hai đề ra nhưng ư niệm trừu tượng của Phật Giáo và Lăo Giáo như vũ trụ vô cùng vô cực, giác ngộ, v.v.... Đoạn thứ nhất bài thơ gợi lên cảnh thơ bài The Fire Sermon của nhà thơ T.C. Eliot: thế giới này là địa ngục giam hăm thân xác con người. Vương Duy mong t́m ra dược cách tự giải thoát. Nhưng bằng cách nào khi con người bị tù hảm ngay trong thể xác của chính ḿnh [...] Cả Vương Duy cùng Eliot đều bị giam trong trong thế giới này bằng lửa mê. Eliot cầu Thưọng Đế tới cứu ḿnh, Vương Duy mong t́m về Cam Lộ Môn để mong được giải thoát.”

Trở lại bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến, người đọc cũng lại thấy những h́nh ảnh khốc liệt của trận hạn hán. Giếng cạn trơ bùn, thông non cháy nắng. Nhưng h́nh ảnh đó cũng là thi cảnh trong bài thơ nôm Than Mùa Hè và bài thơ Việt Âm Nhâm Dần Hạ Nhật. Nhưng cái nóng nực dó không hành hạ thân xác người thơ. Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ tới truyện đă hai năm qua ông chưa lên chùa Thanh Giang lậy Phật. Nguyễn Khuyến coi vụ hạn hán khốc liệt này là cơ trời và ông không cần t́m kiếm căn nguyên. Vào tới chùa, sư chủ tŕ nồng hậu đón tiếp Nguyễn Khuyến, nhưng ông không bàn tới lư thuyết Phật học, chỉ dốc một ḷng tin tưởng nơi ḷng từ bi của đức Phật. Không phải chỉ là một ước vọng như trong thơ Vương Duy, tại chùa Thanh Giang chợt có một cơn gió mát đến giải cơn nồng khiến Nguyễn Khuyến ngủ say sưa trên nền gạch hậu điện trong chùa. Chuông thu không, Nguyễn Khuyến tỉnh giấc thảnh thơi ra về dưới bầu trời sáng trăng.

Cảnh lên chùa trốn nóng, gặp được cơn gió giải nồng là cảnh lên chùa trốn nóng của nhà thơ đời Đựng Bạch Cư Dị 111:

香 山 避 暑
Hương Sơn Tỵ Thử

六 月 灘 聲 如 猛 雨
Lục nguyệt than thanh như mănh vũ
香 山 樓 北 暢 師 房
Hương Sơn lâu Bắc hướng sư pḥng
夜 深 起 凭 蘭 干 立 
Dạ thâm khởi bằng lan can lập
滿 耳 潺 湲 滿 面 涼
Măn nhĩ sàn viên măn diện lương.

dịch là

Tránh Nắng Chùa Hương Sơn

Thác reo tháng sáu như mưa
Pḥng sư lầu Bắc trú chùa Hương San
Đêm khuya dậy tựa lan can
Tai tràn nước dổ mặt đầy nước bay.

Điểm tương đồng giữa hai bài thơ của Bạch Cư Dị và Nguyễn Khuyến trích dẫn trên đây là cả hai tác giả cùng không nói tới cái nóng nực hành hạ thân xác, và cả hai cùng t́m thấy được cái mát mẻ trong chùa. Đó là điểmkhác biệt vói cảnh khổ v́ nóng của Vương Duy. Vương Duy viết:

始 知 心 未 覺
Thủy tri tâm vị giác

dịch thành thơ là

Rơ là chữ giác chưa an trọn niềm.

Tâm cảnh của Nguyễn Khuyến khác với tâm cảnh của Vương Duy và Bạch Cư Dị là ư thơ trong sáu câu : tù câu 5 tới câu 11. Trong hai câu 6 và 7, Nguyễn Khuyến dường như thản nhiên trước cảnh hạn hán làm cạn giếng héo thông. Đó là điểm đáng lưu ư, v́ đối với nhà nho, thường khi có thiên tai, thường coi như ngôi thiên tử có điều ǵ lỗi đạo khiến Trời phạt, nhà vua phải ăn chay nằm mộng th́ dân mới sớm thoát nạn trời.

Hai câu 10 và 11, Nguyễn Khuyến nói rơ là ông không muốn bàn về phép Phật. Liền đó có cơn gió mát đưa người thơ vào giấc ngủ say sưa ngay trên nền gạch điện Phật.

Thái độ này cũa Nguyễn Khuyến qua sáu câu tho trên thu gọn trong một chữ buông bỏ. Chữ buông bỏ này khiến Nguyễn Khuyến đă từ quan về Vườn Bùi, là điều mà ông từng dặn ḍ con ông ghi khắc trên mộ bia cho ông.

Chữ buông bỏ này, hiểu theo nghĩa của Nhất Biến Thượng Nhân, Ippen Shônin, (1239-1289), người sáng lập ra ḍng Thiền Thời Tông, Jôdo, trong Tịnh độ Tông  Nhật Bản, viết trong lá thư quảng bá phép niệm Phật. Suzuki trích dẫn trong Thiền Luận 112 tập trung, và Ḥa Thưọng Tuệ Sĩ dịch là :

Ông hỏi tôi phải có thái độ tâm lư nào đối với niệm Phật. Hành giả môn niệm Phật chỉ cần đọc Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi chẳng thể chỉ cho ông điều ǵ khác. Do niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tâm ông được b́nh an. [...]

Nhân có kẻ hỏi Không Dă Thượng Nhân, Kuya Shônin (903-972) nên niệm Phật như thế nào? Ngài chỉ đáp buông bỏ, không thêm một lời. Sự kiện này ghi trong thi tuyển của Tây Hành, Saigyo (?-1190) và tôi cho rằng đây là lời vàng ngọc. Buông bỏ tất cả là điểm thiết yếu cho hành giả niệm Phật. Hăy buông bỏ học thức, trí khôn, và cả vô minh nữa; hăy buông bỏ tất cả những khái niệm như thiện và ác, giầu và nghèo, sang và hèn, địa ngục và thiên đàng, và mọi thứ chứng ngộ mà các tông phái đạp Phật giảng dậy và tu tŕ. hầu dứt ḿnh ra khỏi tất cả nhưng vọng tưởng và tham ái này, hoàn toàn chuyên tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

Nếu ông c̣n thấy rằng lời của tôi khó hiểu, cũng đừng thắc mắc ǵ hết. Cứ để đó, bỏ hết mọi thứ, không lo âu, không tính toán, hăy phó thác cho bản nguyện và chuyên tâm niệm Phật. Dù niệm với tâm địa nào, thuận ư hay trái ư, câu Nam Mô A Di Đà Phật không trái ngược với bản nguyện của Phật A Di Đà. Ngoài việc đó chẳng có ǵ đáng bận tâm đến.

Trong bài Thanh Giang Gự Tỵ Thử, nguyễn Khuyến buông bỏ, Nguyễn Khuyến phó thác cho bản nguyện, Nguyễn Khuyến không niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nguyễn Khuyến viết:

但 求 人 世 憐
Đăn cầu nhân thế liên

dịch thơ là

Đoái thương thân thế muôn vàn cậy trông

Với cây này Nguyễn Khuyến đă ggặp Nguyễn Du qua câu số 19 bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh 113:

Muôn nhờ Đức Phật từ bi.

Chuỗi h́nh ảnh trong bốn câu chót bài Thanh Giang Tự Tỵ Nhiệt: người thơ lên chùa ngủ say sưa trong điện thờ Phật, trở dậy ra về dưới trời đầy trăng là chuỗi h́nh ảnh b́nh đạm tiêu biểu tài thơ của Nguyễn Khuyến. Chuỗi h́nh ảng đó không thấy có trong nhưng bài thơ trích dẫn của Vương Duy và Bạch Cư Dị. Trái lại chuỗi h́nh ảnh đó thường được dùng trong ḍng thơ Việt Âm.

Trong bài Thu Dạ Thụ Hạ Nạp Lương, Đêm Thu Bên Gốc Cây Hóng Mát,  Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng cơn gió mát làm h́nh ảnh niềm tục tan biến và ánh trăng biểu thị đạo tâm :

清 風 颯 颯 消 塵 想
Thanh phong táp táp tiêu trần tưởng
明 月 涓 涓 會 道 心
Minh nguyệt quyên quyên hội đạo tâm

dịch là

Gió vi vu niềm tục tan
Trăng trong bừng tỏ ngập tràn đạo tâm.

Ngược lên tới ḍng thơ Thiền Trúc Lâm, h́nh ảnh cơn gió mát đến với Nguyễn Khuyến, đánh tan cái nóng nực của ngày hè hạn hán, dẫn Nguyễn Khuyến vào giấc ngủ ngày trên nền gạch điện Phật, cũng là h́nh ảnh giấc ngủ trưa của vua Trần Minh Tông (1300-1357) trong hai câu dưới đây, trong bài Giới Am Ngâm :

藤 床 枕 上 卓 午 眠
Đàng sàng chẩm thượng trác ngọ miên
正 是 箇 中 真 快 活
Chính thị cá trung chân khoái hoạt

dịch là

Giấc trưa trơng trúc gối cao
Sống trong cảnh đó hỏi đâu cho bằng

Chẳng khác ǵ Nguyễn Khuyến, phó thác trọn vẹn cho bản nguyện rồi ngủ say sưa trên nền gạch trong chủa Thanh Giang, giấc trưa trên trơng tre đưa vua Trần Minh Tôn với việc buông bỏ như viết trong hai câu tiếp :

經 也 不 看 佛 不 擬
Kinh dă bất khan Phật bất nghĩ
醫 眼 何 為 金 屑 貴
Y nhăn hà vi kim tiết quư

dịch là

Phật chẳng nghĩ kinh chẳng màng
Mắt đau chẳng chữa bột vàng chẳng mua

Trước vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang Lư Đạo Tái (1254-1334), ḍng thơ Trúc Lâm, cũng dùng nhiều h́nh ảnh thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến. Cơn gió mát đưa ngựi thơ vào giấc ngủ ngày, để rồi khi mở mắt dậy thấy ḿnh như tách khỏi chốn bụi trần là nét chính trong bài :

午 睡
Ngọ Thụy

雨 過 溪 山 淨
Vũ quá khê sơn tịnh
楓 林 一 夢 涼
Phong lâm nhất mộng lương
反 觀 塵 世 界
Phản quan trần thế giới
開 眼 醉 茫 茫
Khai nhăn túy mang mang.

dịch là

Giấc Trưa

Tạnh mưa núi sạch suối trong
Gió đưa dỗ giấc rừng phong lặng lờ
Ngoái nh́n thế giới bụi mờ
Mở to đôi mắt vẫn ngờ ḿnh say.

H́nh ảnh làn gió mát giấc ngủ ngày c̣n là thi liệu trong hai bài dưới đây của Tam Tổ Huyền Quang. Một là bài:

晝 眠
Trú Miên

祖 父 田 園 任 自 鋤
Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ
千 青 盤 屈 繞 吾 盧
Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngô lư
木 犀 囪 外 千 鳩 寂
Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch
一 枕 清 風 晝 夢 餘
Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư.

dịch là

Giấc Trưa

Ruộng vườn nhà ta ta cày
Quanh lều quấn quưt ngàn cây xanh rờn
Ngàn cưu lặng tiếng ngoài song
Gối cao gió mát thong dong giấc ngày.

Hai là bài:

題 洞 軒 檀 越 假 山
Đề Động Hiên Đàn Việt Giả Sơn

花 木 寅 緣 種 作 山
Hoa mộc di duyên chủng tac sơn
籠 煙 罩 月 落 花 寒
Lung yên trạo nguyệt lạc hoa hàn
從 茲 念 慮 都 無 俗
Ṭng tư niệm lự đô vô tục
贏 得 清 風 一 枕 安
Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

dịch là

Đề Ḥn Non Bộ Tại Động Hiên 

Cây hoa non bộ tay trồng
Hoa rơi tuyết lạnh khói lồng trăng soi
Từ nay tục lụy sạch rồi
Giấc nhàn gió mát ngủ vùi gối cao.

Tạm ngưng việc đối chiều thơ bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến với nhưng bài thơ Thiền quen biết trong ḍng thơ Việt Âm để đối chiếu bài thơ của Nguyễn Khuyến với một vài bài thơ Thiền Nhật Bản và Trung Quốc.

Nh́n sang ḍng thơ Thiền Nhật Bản, chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, chuông chiều dóng tỉnh dậy thấy trăng sáng cũng là chuỗi h́nh ảnh Ba Tiêu 114 dùng trong bài bài cú dưới đây, phiên âm là

Tera ni ne-te
mokoto-gao naru
tsuki-mi kana,

và Vĩ Bách Lợi Tri, Toshi Huru Oseko dịch sang tiếng Anh là:

Having slept at the temple
with what a serious look
I view the moon.

dịch theo thể bài cú là:

Chùa trong chợt tỉnh giấc
nh́n nh́n lại thật kỹ
chỉ thấy trăng vằng vặc.

Chuyễn sang thơ Trung Quốc, người đọc thơ c̣n thấy chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, nghe chuông tỉnh giấc chợt thấy trăng sáng mà Nguyễn Khuyến dùng trong bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử hay Ba Tiêu dùng trong bài bài cú trên đây cũng là những h́nh ảnh Đỗ Phủ dùng trong bài:

Du Long Môn Phụng Tiên Tự

已 從 招 提 遊
Dĩ ṭng chiêu đề du
更 作 招 提 境
Canh tác chiêu đề cảnh
陰 壑 生 虛 籟
Âm hác sinh hư lại
月 林 散 清 影 
Nguyệt lâm tán thanh ảnh
天 闕 象 緯 逼
Thiên khuyết tượng vĩ bức
雲 臥 衣 裳 冷 
Vân ngọa y thường lănh
欲 覺 聞 晨 鐘
Dục giác văn thần chung
金 人 發 深 省
Kim nhân phát thâm tỉnh

dịch là

Lên Chùa Phụng Tiên Tại Long Môn

Bấy chầy mấy dịp lên chùa
Cảnh Thiền ngủ lại chốn xưa đêm này
Âm ba vang vọng hang đây
Trăng thanh giăi bóng rừng cây tỏ mờ
Bệ cao bóng tượng lập lờ
Áo bay lành lạnh hững hờ mây trôi. 
Tỉnh ra chuông sớm đổ hồi
Quay về với Phật ḷng người ước mong.

Không thể chỉ do ngẫu nhiên mà chuỗi h́nh ảng trong bài Thanh Giang Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến lại là thi liệu trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ của Tam Tổ Huyền Quang. Cũng không phải là do ngẫu nhiên là chuỗi h́nh ảng đó cũng là thi liệu trong bài cú của Ba Tiên tại Nhật và của Đỗ Phủ tại Trung Quốc. Vậy nên người đọc thơ tự ḥi là phải chăng đâu là nguồn gốc của sự tương giao giữa ba ḍng thơ Đông Á như vậy?

Ngựi đọc thơ t́m ra câu trả lời cho câu hỏi trên trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới. Đoạn kinh Hoa Nghiêm này là lời Bồ Tát Di Lặc giảng dậy cho Thiện Tài Đồng Tử về các đức tính của Bồ Đề Tâm. Theo Suziki 115 Bồ Đề Tâm là ước vọng giác ngộ, là những đức tính thúc đẩy Thiện Tài Đồng Tử đi tham bái hết vị thầy nọ đến vị thầy kia và cuối cùng đă được diện kiến Bồ Tát Di Lặc. Ước vọng giác ngộ đó là nỗ lực tâm linh xuất hiện quanh câu hỏi:

Hạnh của Bồ Tát là ǵ?

hay chính là câu hỏi :

Ư nghĩa đời sống con người là ǵ?

Bồ tát Di Lặc dùng tất cả ngoài một trăm h́nh ảnh để mô tả Bồ Đề Tâm, trong số đó có nhưng h́nh ảnh mà Vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến trong ḍng thơ Việt Âm và Ba Tiêu trong bài bài cú tại Nhật Bản và Đỗ Phủ tại Trung Quốc, cùng dùng làm thi liệu.

Bắt đầu là h́nh ảnh cơn gió mát dỗ giấc ngủ cho Tam Tổ Huyền Quang, vua Trần Minh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là h́nh ảnh dưới đây trong kinh Hoa Nghiêm 116:

菩 提 心 者 猶 如 疾 風
Bồ đề tâm giả do như tật phong
能 卷 一 切 諸 障 霧 故
năng quyển nhất thiết chư chướng vụ cố

Trong bản dịch kinh Hoa Nghiêm, do chùa Khánh Anh, Baigneux, Pháp Quốc, phát hành, Thượng Tọa Thích Trí Tịnh 117 dịch là :

Bồ đề tâm như gió mạnh thổi cuốn tất cả sương mù che chướng.

Cơn gió cũng là h́nh ảnh tiêu biểu cho Bồ Đề Tâm trong câu :

菩 提 心 者 蕕 如 婆 樓 那 風
Bồ đề tâm giả do như bà lâu na phong
能 動 一 切 所 應 化 故
năng động nhất thiết ứng hoá cố

Vẫn theo dịch giả Thích Trí Tịnh nghĩa là:

Bồ đề tâm như gió Bà Lâu Na có thể
làm chấn động những kẻ đang được hóa độ

Tiếng chuông chùa đánh thức Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến là biến h́nh của tiếng trống tàn canh tiêu biểu Bồ Đề Tâm trong kinh Hoa Nghiêm đánh thức kẻ ch́m trong phiền năo:

菩 提 心 者 如 更 漏 鼓
Bồ đề tâm giả như canh lậu cổ
覺 諸 眾 生 煩 惱 睡 故
giác chư chúng sinh phiền năo thuỵ cố sở

nghĩa là :

Bồ đề tâm như trống tan canh đánh
thức chúng sinh mê ngủ trong phiền năo.

H́nh ảnh trăng sáng trong thơ trích dẫn của Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến củng là một h́nh ảnh tiêu biểu bồ đề tâm trong kinh Hoa Nghiêm:

菩 提 心 者 蕕 如 盛 月
Bô đề tâm giả do như thịnh nguyệt
諸 白 淨 法 悉 圓 滿 故
chư bách tịnh pháp tất viên măn cố.

dịch là

Bồ đề tâm như mặt trăng sáng
v́ những pháp bạch tịnh đều viên măn.

H́nh ảnh an lạc của Đỗ Phủ Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến lúc tỉnh giấc trên chùa dường như tương ứng với h́nh ảnh bồ đề tâm trong câu kinh Hoa Nghiêm:

莆 提 心 者 猶 如 伏 臧
Bô đề tâmgiả do như phục tạng
能 攝 一 切 諸 佛 法 故
năng nhiếp nhất thiết chư Phật pháp cố

Theo bản dịch kinh Hoa Nghiêm của chùa Khánh Anh, câu này có nghĩa là:

Bồ đề tâm như phục tạng
bởi có thể nhiếp chánh mọi Phật pháp.

Trong Thiền Luận tập hạ, Ḥa Thượng Tuệ Sỹ dịch thoát theo ư nghĩa bồ đề tâm, theo giáo thuyết Đại Thừa như sau:

Bô đề tâm như người thức tỉnh đẩy lui mọi xấu xa.

Trong câu kết bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, Nguyễn Khuyến viết:

歸 來 明 月 天
Quy lai minh nguyệt thiên

dịch là

Ra về trăng sáng một trời mênh mông

Chữ quy trong thơ Nguyễn Khuyến dẫn người đọc về câu kinh Hoa Nghiêm sau đây:

菩 提 心 者 則 為 所 歸
Bồ đề tâm giả tắc vi sở quy
利 益 一 切 諸 世 間 故
lợi ích nhất thiết chư thế gian cố.

dịch là

Bồ đề tâm như chốn về
v́ lợi ích tất cả thế gian

và trong câu:

菩 提 心 者 則 為 所 歸
Bô đề tâm giả tắc vi sở quy
不 拒 一 切 諸 來 者 故
bất cự nhất thiết chư lai giả quy.

dịch là

Bồ đề tâm như chốn về
v́ chẳng chối từ môt ai muốn quay về.

Câu kết bài bài Du Long Môn Phụng Tiên, Đỗ Phủ viết:

金 人 發 深 省
Kim nhân phát thâm tỉnh

dịch là

Quay về với Phật ḷng người ước mong.

Người đọc, qua thơ, thấy Đỗ Phủ ước vào chùa, mong được tỉnh tu; và Nguyễn Khuyến từ chùa ra về. Nguyễn Khuyến, tuy mắt kém, nhưng bỗng nh́n thấy trăng sáng đầy trời, và không cần có một bàn tay chỉ mặt trăng. Thi cảnh và tâm cảnh của Đỗ Phủ và Nguyễn Khuyến chuyển biến theo hai hướng ngược nhau. Vậy phải chăng đó là phần sáng tác của Nguyễn Khuyến?




[106] Lục Tổ Huệ Năng
[107] Suzuki, Thiền Luận, bản dịch của Tuệ Sĩ
[108] Vương Duy Thi Tuyển, Truyền Đông Hoa tuyển chú, Đại Quang xuất bản xả, Hương Cảng 1976, tr. 22.
[109] Martha L. Wagner, Wang Wei, Columbia University, Tayne Publishers, Boston 1981, p. 13
[110] Tony Barnstone and Willis Barnstone, Laughing Lost in The Mountain by Poems of Wang Wei, University of New England, Hanover, New Hamshire, 1991, p.15.
[111] Bạch Cư Dị, Toàn Đựng Thi, tập thư XIV, Trung Hoa Thư Cục, Bắc Kinh 1985, tr. 5169.
[112] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập trung, sách đă dẫn trang 253-254.
[113] Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du Toàn Tập, tập 2, một nhóm tác giả, Văn Học xuất bản, Hà Nội 1996, tr. 402
[114] Vĩ Bách Lợi Tri, Basho Haiku, Tokyo 1990, p.67
[115] Daisetz teitaro Suzuki, Thiền Luận tập hạ, bản dịch của Ḥa Thượng Tụệ Sĩ, sách đă dẫn, tr. 270.
[116] Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, quyển dệ thất thập bát, tr. 429-430.
[117] Kinh Hoa Nghiêm, tập 3, bản dịch của Thượng Tọa Thích trí Tịnh, Chùa Khánh Anh, Bagneux, Pháp, phát hành, tr. 2171-2176.