Câu thứ năm của bài Thu Điếu:
gợi cho người đọc h́nh ảnh đám thấp mây như mộng trong bài Vũ Lâm Thu Văn và đám phong định vân nhàn trong bài Lạng Châu Văn Cảnh của vua Trần Nhân Tôn. Hai đám mây này là tâm cảnh hai người thơ: vua Trần Nhân Tôn và Nguyễn Khuyến không nơi giàng không chốn buộc, trọn vẹn làm chủ chính ḿnh. H́nh ảnh đám mây không nơi trụ này gợi cho người đọc một câu thẫm mầu Thiền trong kinh Kim Cương của Lục Tổ 106:
mà Tuệ Sỹ 107, dịch là :
Điều đáng lưu ư là trong thơ Việt Âm, không riêng vua Trần Nhân Tôn, hay Nguyễn Khuyến, mà nhiều nhà thơ khác trong thơ Đông Á thường có nhiều bài thơ mang mầu thiền bên cạnh nhưng bài thơ mang sắc Đạo. Giới nghiên cứu giải thích là tại Trung Quốc, cũng như tại nhiều quốc gia Đông Á khác, đạo Lăo đă có một ngôn ngữ riêng và một cơ sở vững chắc khi đạo Phật từ phía tây dẫy Hy Mă Lạp Sơn lan tràn tới và những người phiên dịch kinh sách nhà Phật vốn là những người đă tinh thông đạo Lăo nên thường dùng nhiều tiếng sẵn có của đạo Lăo để phiên dịch những ư niệm Phật học. Do đó trên mặt ngôn ngữ và cả trên thực tế khó bề phân biệt ranh giới giữa sắc Đạo với mầu Thiền.
Vậy nên, trong thơ Nguyễn Khuyến có một nhánh thơ đậm mầu Thiền, tiêu biểu là bài:
dịch là
Nguyễn Khuyến thường có thơ than cái nóng mùa hè. Trong ḍng thơ nôm có bài:
Nguyễn Khuyến than nỗi khó ngủ lại thêm mùa hè đêm ngắn ngày dài, tiếng dế tiếng muỗi, khiến ông thêm buồn bực chẳng biết ngỏ cùng ai. Nh́n sang ḍng thơ Việt Âm, người đọc thấy nguyễn Khuyến nói rơ nỗi buồn bực của ông trong bài ngũ ngôn:
dịch là
Bài thơ nôm Than Mùa Hè và bài Nhâm Dần Hạ Nhật trên đây là hai bài đặc biệt của Nguyễn Khuyến, bởi lẽ người đọc rất it gặp trong Quế Sơn Thi Tập những bài thơ kể khổ như hai bài này. Bài thơ Việt Âm ghi rơ làm năm Nhâm Dần, giới nghiên cứu cho hay là năm 1902. So sánh với bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, người đọc thấy những h́nh ảnh mô tả nạn hạn hán trong hai bài có nhiều h́nh ảnh tương tự: cũng cảnh đồng khô cỏ cháy, cũng cảnh đầm ao trơ bùn, ngọn thông khô héo th́ là một loài thảo mộc bị xém gió Lào. Phải chăng Nguyễn Khuyến cũng viết bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử vào năm Nhâm Dần 1902? Bài Nhâm Dần Hạ Nhật khác bài Thanh Giang Tỵ Thử ở điểm tác giả tiếp tục tả cái bực bơ nóng nực mà ông phải chịu đưng: khát không dám uống nước, cơm canh ăn không nổi v́ nỗi đang đau ốm, thêm vào đó nỗi thiếu thốn nghèo nàn. Trong bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, Nguyễn Khuyến tạm quên cái khổ hạn hán chồng gậy từng bước, phải chăng v́ mắt kém, lần sang thăm chùa.
Thi cảnh trong hai bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử và bài Nhâm Dần Hạ Nhật của Nguyễn Khuyến có nhiều h́nh ảnh gợi lại bài ngũ ngôn dưới đây của Vương Duy 108:
dịch là
Bài Khổ Nhiệt trên đây là một trong những bài thơ của Vương Duy đă có nhièu người trong giới Hán học dịch sang tiếng Anh tiếng Pháp. Áng thơ được coi là một áng thơ tiêu biểu cho nét thơ Thiền của Vương Duy.
Theo Martha L. Wagner 109, bài Khổ Nhiệt gồm hai đoạn. Tám câu đầu tả cảnh hạn hán, lời thơ tựa như một bài phú: bắt đầu là cảnh nóng nực nung nấu đất trời, tiếp theo là cái nóng nực tác giả cảm thấy trên thân thể. Tám câu tiếp đề ra ước vọng của tác giả sớm thoát cảnh nung nấu và kết luận là chỉ có nẻo t́m về Cam Lộ Môn mới hy vọng t́m thấy niềm thanh thản.
Tony Barnstone và Willis Barnstone 110 phân tích bài Khổ Nhiệt và cho rằng : “phần thứ nhất bài thơ tŕnh bày những h́nh ảnh tượng trưng cảnh khổ năo trong kiếp sống. Phần thứ hai đề ra nhưng ư niệm trừu tượng của Phật Giáo và Lăo Giáo như vũ trụ vô cùng vô cực, giác ngộ, v.v.... Đoạn thứ nhất bài thơ gợi lên cảnh thơ bài The Fire Sermon của nhà thơ T.C. Eliot: thế giới này là địa ngục giam hăm thân xác con người. Vương Duy mong t́m ra dược cách tự giải thoát. Nhưng bằng cách nào khi con người bị tù hảm ngay trong thể xác của chính ḿnh [...] Cả Vương Duy cùng Eliot đều bị giam trong trong thế giới này bằng lửa mê. Eliot cầu Thưọng Đế tới cứu ḿnh, Vương Duy mong t́m về Cam Lộ Môn để mong được giải thoát.”
Trở lại bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến, người đọc cũng lại thấy những h́nh ảnh khốc liệt của trận hạn hán. Giếng cạn trơ bùn, thông non cháy nắng. Nhưng h́nh ảnh đó cũng là thi cảnh trong bài thơ nôm Than Mùa Hè và bài thơ Việt Âm Nhâm Dần Hạ Nhật. Nhưng cái nóng nực dó không hành hạ thân xác người thơ. Nguyễn Khuyến chỉ nghĩ tới truyện đă hai năm qua ông chưa lên chùa Thanh Giang lậy Phật. Nguyễn Khuyến coi vụ hạn hán khốc liệt này là cơ trời và ông không cần t́m kiếm căn nguyên. Vào tới chùa, sư chủ tŕ nồng hậu đón tiếp Nguyễn Khuyến, nhưng ông không bàn tới lư thuyết Phật học, chỉ dốc một ḷng tin tưởng nơi ḷng từ bi của đức Phật. Không phải chỉ là một ước vọng như trong thơ Vương Duy, tại chùa Thanh Giang chợt có một cơn gió mát đến giải cơn nồng khiến Nguyễn Khuyến ngủ say sưa trên nền gạch hậu điện trong chùa. Chuông thu không, Nguyễn Khuyến tỉnh giấc thảnh thơi ra về dưới bầu trời sáng trăng.
Cảnh lên chùa trốn nóng, gặp được cơn gió giải nồng là cảnh lên chùa trốn nóng của nhà thơ đời Đựng Bạch Cư Dị 111:
dịch là
Điểm tương đồng giữa hai bài thơ của Bạch Cư Dị và Nguyễn Khuyến trích dẫn trên đây là cả hai tác giả cùng không nói tới cái nóng nực hành hạ thân xác, và cả hai cùng t́m thấy được cái mát mẻ trong chùa. Đó là điểmkhác biệt vói cảnh khổ v́ nóng của Vương Duy. Vương Duy viết:
dịch thành thơ là
Tâm cảnh của Nguyễn Khuyến khác với tâm cảnh của Vương Duy và Bạch Cư Dị là ư thơ trong sáu câu : tù câu 5 tới câu 11. Trong hai câu 6 và 7, Nguyễn Khuyến dường như thản nhiên trước cảnh hạn hán làm cạn giếng héo thông. Đó là điểm đáng lưu ư, v́ đối với nhà nho, thường khi có thiên tai, thường coi như ngôi thiên tử có điều ǵ lỗi đạo khiến Trời phạt, nhà vua phải ăn chay nằm mộng th́ dân mới sớm thoát nạn trời.
Hai câu 10 và 11, Nguyễn Khuyến nói rơ là ông không muốn bàn về phép Phật. Liền đó có cơn gió mát đưa người thơ vào giấc ngủ say sưa ngay trên nền gạch điện Phật.
Thái độ này cũa Nguyễn Khuyến qua sáu câu tho trên thu gọn trong một chữ buông bỏ. Chữ buông bỏ này khiến Nguyễn Khuyến đă từ quan về Vườn Bùi, là điều mà ông từng dặn ḍ con ông ghi khắc trên mộ bia cho ông.
Chữ buông bỏ này, hiểu theo nghĩa của Nhất Biến Thượng Nhân, Ippen Shônin, (1239-1289), người sáng lập ra ḍng Thiền Thời Tông, Jôdo, trong Tịnh độ Tông Nhật Bản, viết trong lá thư quảng bá phép niệm Phật. Suzuki trích dẫn trong Thiền Luận 112 tập trung, và Ḥa Thưọng Tuệ Sĩ dịch là :
Ông hỏi tôi phải có thái độ tâm lư nào đối với niệm Phật. Hành giả môn niệm Phật chỉ cần đọc Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi chẳng thể chỉ cho ông điều ǵ khác. Do niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tâm ông được b́nh an. [...]
Nhân có kẻ hỏi Không Dă Thượng Nhân, Kuya Shônin (903-972) nên niệm Phật như thế nào? Ngài chỉ đáp buông bỏ, không thêm một lời. Sự kiện này ghi trong thi tuyển của Tây Hành, Saigyo (?-1190) và tôi cho rằng đây là lời vàng ngọc. Buông bỏ tất cả là điểm thiết yếu cho hành giả niệm Phật. Hăy buông bỏ học thức, trí khôn, và cả vô minh nữa; hăy buông bỏ tất cả những khái niệm như thiện và ác, giầu và nghèo, sang và hèn, địa ngục và thiên đàng, và mọi thứ chứng ngộ mà các tông phái đạp Phật giảng dậy và tu tŕ. hầu dứt ḿnh ra khỏi tất cả nhưng vọng tưởng và tham ái này, hoàn toàn chuyên tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Nếu ông c̣n thấy rằng lời của tôi khó hiểu, cũng đừng thắc mắc ǵ hết. Cứ để đó, bỏ hết mọi thứ, không lo âu, không tính toán, hăy phó thác cho bản nguyện và chuyên tâm niệm Phật. Dù niệm với tâm địa nào, thuận ư hay trái ư, câu Nam Mô A Di Đà Phật không trái ngược với bản nguyện của Phật A Di Đà. Ngoài việc đó chẳng có ǵ đáng bận tâm đến.
Trong bài Thanh Giang Gự Tỵ Thử, nguyễn Khuyến buông bỏ, Nguyễn Khuyến phó thác cho bản nguyện, Nguyễn Khuyến không niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nguyễn Khuyến viết:
dịch thơ là
Với cây này Nguyễn Khuyến đă ggặp Nguyễn Du qua câu số 19 bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh 113:
Chuỗi h́nh ảnh trong bốn câu chót bài Thanh Giang Tự Tỵ Nhiệt: người thơ lên chùa ngủ say sưa trong điện thờ Phật, trở dậy ra về dưới trời đầy trăng là chuỗi h́nh ảnh b́nh đạm tiêu biểu tài thơ của Nguyễn Khuyến. Chuỗi h́nh ảng đó không thấy có trong nhưng bài thơ trích dẫn của Vương Duy và Bạch Cư Dị. Trái lại chuỗi h́nh ảnh đó thường được dùng trong ḍng thơ Việt Âm.
Trong bài Thu Dạ Thụ Hạ Nạp Lương, Đêm Thu Bên Gốc Cây Hóng Mát, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng cơn gió mát làm h́nh ảnh niềm tục tan biến và ánh trăng biểu thị đạo tâm :
dịch là
Ngược lên tới ḍng thơ Thiền Trúc Lâm, h́nh ảnh cơn gió mát đến với Nguyễn Khuyến, đánh tan cái nóng nực của ngày hè hạn hán, dẫn Nguyễn Khuyến vào giấc ngủ ngày trên nền gạch điện Phật, cũng là h́nh ảnh giấc ngủ trưa của vua Trần Minh Tông (1300-1357) trong hai câu dưới đây, trong bài Giới Am Ngâm :
dịch là
Chẳng khác ǵ Nguyễn Khuyến, phó thác trọn vẹn cho bản nguyện rồi ngủ say sưa trên nền gạch trong chủa Thanh Giang, giấc trưa trên trơng tre đưa vua Trần Minh Tôn với việc buông bỏ như viết trong hai câu tiếp :
dịch là
Trước vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang Lư Đạo Tái (1254-1334), ḍng thơ Trúc Lâm, cũng dùng nhiều h́nh ảnh thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến. Cơn gió mát đưa ngựi thơ vào giấc ngủ ngày, để rồi khi mở mắt dậy thấy ḿnh như tách khỏi chốn bụi trần là nét chính trong bài :
dịch là
H́nh ảnh làn gió mát giấc ngủ ngày c̣n là thi liệu trong hai bài dưới đây của Tam Tổ Huyền Quang. Một là bài:
dịch là
Hai là bài:
dịch là
Tạm ngưng việc đối chiều thơ bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến với nhưng bài thơ Thiền quen biết trong ḍng thơ Việt Âm để đối chiếu bài thơ của Nguyễn Khuyến với một vài bài thơ Thiền Nhật Bản và Trung Quốc.
Nh́n sang ḍng thơ Thiền Nhật Bản, chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, chuông chiều dóng tỉnh dậy thấy trăng sáng cũng là chuỗi h́nh ảnh Ba Tiêu 114 dùng trong bài bài cú dưới đây, phiên âm là
và Vĩ Bách Lợi Tri, Toshi Huru Oseko dịch sang tiếng Anh là:
dịch theo thể bài cú là:
Chuyễn sang thơ Trung Quốc, người đọc thơ c̣n thấy chuỗi h́nh ảnh lên chùa ngủ vùi trong điện Phật, nghe chuông tỉnh giấc chợt thấy trăng sáng mà Nguyễn Khuyến dùng trong bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử hay Ba Tiêu dùng trong bài bài cú trên đây cũng là những h́nh ảnh Đỗ Phủ dùng trong bài:
dịch là
Không thể chỉ do ngẫu nhiên mà chuỗi h́nh ảng trong bài Thanh Giang Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến lại là thi liệu trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ của Tam Tổ Huyền Quang. Cũng không phải là do ngẫu nhiên là chuỗi h́nh ảng đó cũng là thi liệu trong bài cú của Ba Tiên tại Nhật và của Đỗ Phủ tại Trung Quốc. Vậy nên người đọc thơ tự ḥi là phải chăng đâu là nguồn gốc của sự tương giao giữa ba ḍng thơ Đông Á như vậy?
Ngựi đọc thơ t́m ra câu trả lời cho câu hỏi trên trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới. Đoạn kinh Hoa Nghiêm này là lời Bồ Tát Di Lặc giảng dậy cho Thiện Tài Đồng Tử về các đức tính của Bồ Đề Tâm. Theo Suziki 115 Bồ Đề Tâm là ước vọng giác ngộ, là những đức tính thúc đẩy Thiện Tài Đồng Tử đi tham bái hết vị thầy nọ đến vị thầy kia và cuối cùng đă được diện kiến Bồ Tát Di Lặc. Ước vọng giác ngộ đó là nỗ lực tâm linh xuất hiện quanh câu hỏi:
hay chính là câu hỏi :
Bồ tát Di Lặc dùng tất cả ngoài một trăm h́nh ảnh để mô tả Bồ Đề Tâm, trong số đó có nhưng h́nh ảnh mà Vua Trần Minh Tôn, Tam Tổ Huyền Quang, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến trong ḍng thơ Việt Âm và Ba Tiêu trong bài bài cú tại Nhật Bản và Đỗ Phủ tại Trung Quốc, cùng dùng làm thi liệu.
Bắt đầu là h́nh ảnh cơn gió mát dỗ giấc ngủ cho Tam Tổ Huyền Quang, vua Trần Minh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến là h́nh ảnh dưới đây trong kinh Hoa Nghiêm 116:
Trong bản dịch kinh Hoa Nghiêm, do chùa Khánh Anh, Baigneux, Pháp Quốc, phát hành, Thượng Tọa Thích Trí Tịnh 117 dịch là :
Bồ đề tâm như gió mạnh thổi cuốn tất cả sương mù che chướng.
Cơn gió cũng là h́nh ảnh tiêu biểu cho Bồ Đề Tâm trong câu :
Vẫn theo dịch giả Thích Trí Tịnh nghĩa là:
Tiếng chuông chùa đánh thức Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến là biến h́nh của tiếng trống tàn canh tiêu biểu Bồ Đề Tâm trong kinh Hoa Nghiêm đánh thức kẻ ch́m trong phiền năo:
nghĩa là :
H́nh ảnh trăng sáng trong thơ trích dẫn của Đỗ Phủ, Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến củng là một h́nh ảnh tiêu biểu bồ đề tâm trong kinh Hoa Nghiêm:
dịch là
H́nh ảnh an lạc của Đỗ Phủ Ba Tiêu và Nguyễn Khuyến lúc tỉnh giấc trên chùa dường như tương ứng với h́nh ảnh bồ đề tâm trong câu kinh Hoa Nghiêm:
Theo bản dịch kinh Hoa Nghiêm của chùa Khánh Anh, câu này có nghĩa là:
Trong Thiền Luận tập hạ, Ḥa Thượng Tuệ Sỹ dịch thoát theo ư nghĩa bồ đề tâm, theo giáo thuyết Đại Thừa như sau:
Trong câu kết bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử, Nguyễn Khuyến viết:
dịch là
Chữ quy trong thơ Nguyễn Khuyến dẫn người đọc về câu kinh Hoa Nghiêm sau đây:
dịch là
và trong câu:
dịch là
Câu kết bài bài Du Long Môn Phụng Tiên, Đỗ Phủ viết:
dịch là
Người đọc, qua thơ, thấy Đỗ Phủ ước vào chùa, mong được tỉnh tu; và Nguyễn Khuyến từ chùa ra về. Nguyễn Khuyến, tuy mắt kém, nhưng bỗng nh́n thấy trăng sáng đầy trời, và không cần có một bàn tay chỉ mặt trăng. Thi cảnh và tâm cảnh của Đỗ Phủ và Nguyễn Khuyến chuyển biến theo hai hướng ngược nhau. Vậy phải chăng đó là phần sáng tác của Nguyễn Khuyến?