Phận thai nhi
Phạm Hữu Trác

Trong khoảng bốn chục năm gần đây, qua  trào lưu biến hóa của xă hội, những biến thái nơi người phụ  nữ từ giá trị bản thân đến vai tṛ trong gia đ́nh, tương quan trong xă hội, cuộc sống riêng tư, nhất là đời sống t́nh cảm và tính dục, trong đó quan niệm về đời sống, sự truyền chủng, thai nghén và sinh sản đă là một vấn đề gây chú ư và quan tâm của những ai muốn suy nghĩ về tương lai loài người.

Những nhận xét này mở ra một vấn đề liên quan đến lănh vực nhân chủng mà nhiều quan điểm trái ngược tồn tại cho đến ngày nay và c̣n kéo dài về sau nữa: đó là số phận của bào thai từ lúc thành h́nh cho đến khi chào đời.

Bài viết dưới đây giới hạn vào cuộc sống tự nhiên trong ḷng mẹ của thai nhi, sinh trưởng, hoạt động trong bọc nước nằm trong tử cung.

Sự sống đó đă diễn ra như thế nào trong tử cung, số phận ra sao, có phải tất cả bào thai đều “thọ” đủ cuộc sống ngắn ngủi 270 ngày hay phải cưỡng bách “chết yểu”?  Đối chiếu quan điểm của luật pháp và khoa sinh học, đó là những vấn nạn mà bài viết cố gắng thâu tóm trong khuôn khổ mươi trang báo.

Sự h́nh thành bào thai.

Từ khi đậu thai cho đến lúc sinh ra đời, trong 9 tháng, bào thai trưởng thành trong một bọc nước (nước ối = amnios), năng lượng cung cấp do máu của người mẹ qua dây rốn (umbilical cord),

Không đi vào chi tiết của khoa di truyền, bài viết chú trọng vào cuộc sống của hài nhi, từ khi tạo h́nh đến các sinh hoạt  trong ḷng mẹ như vận  động, cảm giác, sinh lư của tạng phủ như tim, phổi, tuần hoàn, tiêu hóa ...

Khoa sinh lư học chia tiến tŕnh sinh trường trong ḷng mẹ của hài nhi làm hai thời kỳ: phôi bào (embryon) kéo dài 60 ngày đầu và thai nhi (foetus), thời kỳ tiếp theo cho đến lúc chào đời..

Thoạt đầu, từ một tế bào độc nhất do sự kết hợp của hai giao tử (gamètes) tinh trùng và noăn,”con người” thành h́nh và bắt đầu tăng trưởng thành nhiều tế bào bằng cách tự phân tách thành các tế bào, các gián phân (mitosis) này liên tiếp cho đến lúc phân hóa thành bộ phận, cơ quan. Tế bào gốc gián phân  lần đầu tiên trong ṿng 24 giờ sau khi thụ tinh. Lúc đó trứng c̣n lưu động, đến ngày thứ 6, phôi bào bắt đầu định cư dưới lớp niêm mạc tử cung gọi là làm tổ (nidation), rồi từ đó thai phát triển trong ṿng 9 tháng.



Chú dẫn- H́nh vẽ các giai đoạn đầu của bào thai 1: thụ tinh; 2: gián phân thành hai tế bào; 3+4: bốn tế bào; 5+6: phôi dâu (morula); 7: phôi nang (blastocyst); 8: lập tổ (nidation).



Gián phân 1 Gián phân 2 Gián phân 3

(Trích UNSW, Dr Mark Hill)

Ngày thứ 7 phôi bào gồm có hai tầng lớp: lớp ngoài và lớp trong, Lớp vỏ ngoài sẽ dần dần biến thành da, móng tay móng chân, men răng, mô năo. Lớp trong trở thành tuyến tiêu hóa, màng bao ống tiêu hóa và đường hô hấp.

Ngày thứ 10 đường kính phôi bào 0,4 mm, bọc nước ối (amnios) thành h́nh.

Ngày 13 phôi bào dài 1,5 mm.

Ngày 18  phôi bào đo được 1,8 mm

Tuần lễ thứ ba chen vào hai tầng lớp trước, một lớp thứ ba gọi là lá giữa thành h́nh (mesoblaste = trung b́ = lá giữa), mầm non của một số bộ phận sau này.

Ngày 22  dài 2mm, cấu tạo căn bản của bộ phận nhăn quan và thính quan. Đă có tim trong trạng thái sơ  khai và bắt đầu đập theo một nhịp khá nhanh so với tim người đă lớn.

Ngày 26 dài 4 mm, chi trên và thận thành h́nh. Đă có mầm của gan và túi mật. Ruột non thành h́nh. Bắt đầu hệ thần kinh, tế bào nhăn quan và khứu giác. Bộ phận tuần hoàn sơ khởi nhú mầm.

Ngày 32 phôi bào dài từ 5 tới 7 mm. Chi dưới phát triển. Tim phân chia thành nhiều ngăn. Hồng cầu, tuyến giáp trạng (thyroide), tuyến cận giáp (parathyroide), tuyến ức (thymus), bao tử, tụy tạng thành h́nh.

Khởi sự phát sinh khí quản và phổi, thần kinh và hạch, ống thần kinh (tube neural) và năo bộ sơ khai.

Nội trong tháng thứ hai có hiện tượng cấu tạo các cơ quan (organogénèse) và tạo h́nh (morphogénèse).

Tuần lễ thứ 5 phôi bào  nằm trong một bọc nước ối. Phôi bào nối liền với lá nhau (placenta) bằng dây rốn (umbilical cordon)

Tuần lễ thứ 6, thành h́nh mặt, tuyến sinh dục,  bốn ngăn tim, các thùy phổi, lá lách, bàn tay, ruột. Năo bộ phát triển, hai bán năo cầu thành h́nh, tụy tạng, xương . Phôi bào dài 17 mm

Tuần lễ thứ 7 : thành h́nh miệng, thận; tuyến sinh dục phân hóa thành giới  tính nam nữ, biến thành ngọc hành hay buồng trứng (noăn sào). Bắt đầu mọc các ngón tay và ngón chân. Đă có 110 xương, các mạch máu lớn, khí quản, các mô bắp thịt, tủy xương. Thai đo được 27 mm

Tuần lễ thứ 8 : mắt, mí mắt, tai, xương tứ chi, sụn (cartilage). Những điểm hóa cốt (ossification) của xương sống, gan , trái tim hoàn thành. Lưỡi, môi, thanh quản, dạ dày có h́nh dáng trưởng thành và chiếm vị trí cố định của nó. Trực tràng tách ra khỏi bàng quan.

Ngày thứ 51 phôi bào dài 28 mm.

Cuối tháng thứ hai có hiện tượng  xoay  (rotation des membres) tứ chi. Chi trên xoay theo một chiều, chi dưới xoay theo chiều ngược lại, do đó các khuỷu tay và đầu gối gấp lại theo hai chiều ngược nhau. Phôi bào dài 3 cm và nặng 11 gram. Thai bắt đầu biết cử động.



(Trích UNSW, Dr Mark Hill)

Cuối tháng thứ ba tất cả các cơ quan đă bắt đầu tạo h́nh và thành h́nh vào tháng thứ 5.

Trong tháng thứ ba, tứ chi vận động điều ḥa, mọc móng chân móng tay, mọc lông.

Nét mặt trở nên giống mặt người, hai mắt gần nhau, có mi mắt. Miệng, giây thanh quản, hệ thống khí quản. Gan lớn và chiếm hầu hết thể tích bụng. Ruột dài thêm và xoắn lại. Thận thành h́nh nhất định. Đă có thể phân biệt giới tính.

Thai nhi dài 10 cm và nặng 45 gram, bắt đậu chuyển động, nhưng người mẹ chưa cảm thấy, chỉ có siêu âm nhận thấy rơ những vận động này.

Trong tháng thứ 4 : mọc tóc, lông tơ trên cơ thể. Da  mịn và trong, có thể qua làn da nh́n thấy các mạch máu. Xương hóa cốt. Tim bắt đầu đập từ tháng thứ nhất, bây giờ mới nghe thấy nhờ siêu âm (140-150 nhịp một phút). Thận bắt đầu làm việc, thai nhi bài tiết nước tiểu vào trong bọc nước ối. Ruột chứa một chất xanh đen do biến hóa của gan, gọi là cứt su (méconium); cứt su chứa trong ruột cho đến ngày sinh, nhưng chỉ bài tiết sau khi ra đời. Người mẹ đă có thể nhận thấy thai nhi chuyển động.

Thai dài 15 cm, nặng 200 gram.



(Trích UNSW, Dr Mark Hill)

Tháng thứ 5: hệ tuần hoàn h́nh thành sơ khai từ tháng thứ 1, bây giờ bành trướng khắp cơ thể đến tận chân tay. Thai nhi bắt đầu tổng hợp kháng thể (anticorps). Bắt đầu có dấu ấn các ngón tay thành h́nh, các thùy năo bộ. Thai nhi nuốt nhiều lít nước ối hàng ngày. Qua siêu âm có thể nh́n thấy cử động hô hấp.

Thai dài 25 cm, nặng 500 gram.

Tháng thứ 6: Thai nhi mút ngón tay, ngủ 18 đến 20 giờ mỗi ngày. Khi không ngủ hắn giẫy giụa. Hoàn thành các thùy năo, hệ thống khí quản.

Tháng thứ 7: Toàn thân thai nhi phủ một lớp mỡ (vernix caseosa). Mắt mở, nhưng không nh́n thấy ǵ v́ môi trường chung quanh không có ánh sáng. Thai nghe thấy tiếng động trong ḷng mẹ (tim mẹ đập, chuyển động của ruột mẹ ...) và tiếng động bên ngoài. Các dây thần kinh và hệ thống năo bộ hoàn chỉnh hơn.

Thai dài 40 cm, nặng 1700 gram

Tháng 8: Lớp da trở nên dầy thêm và đổi từ đỏ sang mầu hồng. Thêm nhiều chất mỡ, nặng mỗi tuần thêm 250 gram. Thai nhi xoay lộn trong bọc nước ối, đầu quay xuống phía dưới. Dài 45 cm, nặng 2500 gram

Tháng 9 : Hoàn thành cấu tạo, thai nhi chuẩn bị chào đời, cơ thể mỗi tuần nặng thêm 100 gram.

Dài 50 cm, nặng 3300 gram.



Chú dẫn: 1) Tháng thứ nhất; 2) Tháng thứ hai; 3) Tháng thứ ba; 4) Tháng thứ tư; (5&6) Tháng thứ năm; 7) Tháng thứ 7

H́nh trích từ Anatomy-Resources.com, Life Before Birth

Hoạt động của bào thai trong tử cung.

Máu của thai nhi chứa ít dưỡng khí hơn máu của người mẹ, v́ không cần năng lượng nhiều, nhiệt độ đă sẵn ở 37 độ không cần điều ḥa, áp huyết thấp, tuần hoàn không qua buồng phổi.

Bên trong tử cung, thai nhi uống nước ối, mà thành phần gồm có nước, và cặn bă của lớp da bị tróc; nước tiểu bài tiết ra trong bọc nước ối. Bộ máy tiêu hóa của thai nhi tiêu hóa các chất cặn này, phần không tiêu hóa được, tồn đọng lại trong ruột già, làm thành một chất nhăo gọi là cứt su (méconium). Không có bài tiết phân (cứt su) trong bọc nước ối, cứt su sẽ được đào thải trong ṿng 24 giờ sau khi sinh.

Giác quan: Thai nhi biết nghe tiếng động trong bụng mẹ, tiếng tim đập, tiếng nói của mẹ, nó cũng nghe được tiếng động bên ngoài, nó cũng nghe được nhạc.

Nó nhận biết ánh sáng khi bụng mẹ phơi dưới ánh mặt trời hay dưới ánh sáng chói.. Nó có xúc giác với nước và màng nước ối (membrane amniotique).

Bào thai biết đau bắt đầu từ tuần lễ thứ 8.

Người ta thử kích thích bàn tay một bào thai 8 tuần lễ, nó há miệng và kéo bàn tay lại, nhịp tim đập cũng thay đổi. Sự đau đớn này c̣n được chứng minh bằng thần kinh thụ cảm (nociceptors) đă biết nhận tín hiệu của tủy sống và năo bộ.. Môi cử động từ tuần lễ thứ 7, mặt và chân tay nhậy cảm với xúc giác. Đến tuần lễ thứ 13 cơ thể, trừ lưng và đỉnh đầu, tất cả đều có xúc giác.

Khả năng sống ngoài tử cung (Viability)

Khi nào th́ bào thai có thể sống được bên ngoài tử cung của người mẹ.

Khoảng 50 năm trước đây khả năng nuôi sống ngoài tử cung là 30 tuần lễ, 25 năm nay xuống 25 tuần, ngày nay 20 tuần. Máy móc duy tŕ sự sống của thai nhi ngoài tử cung chỉ là phương pháp trợ sinh. Giữ được bào thai tiếp tục sống là phương tiện y học, nhưng sự sống của bào thai không khởi đầu từ lúc sinh non thiếu tháng. Theo sinh học, sự sống đó chỉ là tiếp nối một hiện tượng sống đă bắt đầu từ lúc thụ thai, không thể căn cứ vào sự sống c̣n ngoài tử cung để định nghĩa một cuộc sống và định đoạt quyền sống của bào thai khi nó c̣n trong tử cung người mẹ

Phá thai (trục thai)

Phá thai mặc dù đă được hợp pháp hóa trên nhiều nước từ hơn 30 năm nay, vẫn c̣n là một vấn đề nhức nhối của đời sống con người,  khó đề cập một cách công khai, khách quan.

Công luận nh́n về vấn đề trục thai đa dạng tùy theo luân lư, tôn giáo, thần học, triết học và sự can thiệp của pháp luật.

T́nh trạng phá thai trên thế giới

Trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 180 triệu vụ thai nghén th́ một phần tư đă bị phá trước khi đứa bé ra đời. Theo thống kê chính thức năm 1999 thế giới có 46 triệu vụ phá thai, 26 triệu hợp pháp và 20 triệu bất hợp pháp, con số này  không bao gồm những vụ phá thai vụng trộm, thực tế nhiều hơn 46 triệu, có thể lên tới 50 triệu.

Tính ra cứ 1000 phụ nữ ở lớp tuổi sinh sản (15   44) th́ hàng năm có 35 người phá thai. Tỷ số cao nhất về phá thai do thiếu kế hoạch gia đ́nh, người phụ nữ mang bầu không do ư muốn hoặc vụng  tính chu kỳ kinh nguyệt.

Trong những nước đă phát triển, tỷ lệ cao nhất là ở những nước Đông âu và Trung Âu. Trong những nước đang mở mang, Việt Nam và Cuba đứng hàng đầu.

Đối với các nước phá thai được luật pháp bảo vệ, Việt Nam đứng thứ nhất với tỷ số 83 phần ngàn và thấp nhất là Bỉ quốc với 7 phần ngàn. Trong những nước phá thai bị coi là bất hợp pháp, tỷ số phá thai cũng không thấp hơn so với tỷ số chung hoàn cầu, mà biến chứng của phá thai lén lút lại có phần cao hơn.

Tại 10 nước mà sự phá thai bị luật pháp kiểm soát chặt chẽ (Bangladesh, Brazil, Chile, Colombia, Dominican Republic, Egypt, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines) tỷ số phá thai  từ khoảng 23 phần ngàn tại Ai Cập tới 56,1 phần ngàn  tại Peru.

Bảng thống kê phá thai trên một số nước công nhận phá thai:



(1)      Số phụ nữ phá thai
(2)      Tỷ số phá thai đối với 1000 phụ nữ thuộc lớp tuổi 15-44
(3)      Tỷ số phá thai trên số có bầu
(4)      Số phá thai trong tuổi sinh sản

T́nh trạng phá thai tại Việt Nam

Từ năm 1980 do t́nh trạng kinh tế kinh tế xă hội, độ tăng trưởng dân số Việt Nam có thuyên giảm; khả năng sinh sản (fertility) giảm từ 3,8% năm 1989 xuống tới 2,3% năm 1999, nhưng mức độ phá thai càng ngày càng cao.

Số thai bị trục phá càng ngày càng nhiều từ năm 1990. Giữa  1976 và 1986, số phá thai tăng thêm 10 lần. Cuối thập niên 1980, số phá thai càng cao thêm. Cao điểm là năm 1992 có 660 vụ phá thai so với 1000 vụ sinh sản tại Việt nam,

Có nhiều tài liệu liên quan đến t́nh trạng phá thai tại Việt Nam

* Thống kê của nhà cầm quyền Việt nam (Cập nhật ngày 19-08-2004): International Data for Evaluation of Abortion Services (IDEAS)

Fertility rate 1,9

Sử dụng kế hoạch gia đ́nh 77,6 %

Dân số phụ nữ trong tuổi sinh nở (15-49 tuổi) : 22.300.000

Tỷ số phá thai 83,3/1000 trong giới phụ nữ thuộc lớp tuổi 15-44

Số phá thai hàng năm 1,566.046. Số phá thai hợp pháp 1.520.000

Tử vong của người mẹ do phá thai 5%

Biến chứng do phá thai gây ra  trong bệnh viện cũng cao, trong số đó 20% phải nằm điều trị trong bệnh viện

* Theo Stanley K. Henshaw, Susheela Singh và Taylor Haas, tỷ số phá thai tại Việt nam khá cao 83 phần ngàn, chỉ tính trong phạm vi các cơ quan y tế công lập, nếu kể thêm lănh vực tư chiếm khoảng 1/3 hoạt động y vụ phá thai, th́ con số sẽ lên đến 111 phần ngàn. Với tỷ số 8,3%, trung b́nh một phụ nữ đă phá thai 2,5 lần trong thời kỳ sinh nở

Phá thai không bị pháp luật nghiêm cấm tại Việt nam bắt đầu từ năm 1960 và thực hiện rộng răi đến ngày nay. Phần nhiều trục thai do các trung tâm y tế nhà nước cấp tỉnh hay cấp huyện, các cơ sở y tế tư cũng được phép phá thai.

* TheoRobert Johnston từ 1989 đến 2003, thống kê tại Việt Nam như sau:



* Theo Đặng Thị Nghĩa và  Nguyễn Duy Khê  trong Vietnam Abortion Situations
Số phụ nữ trong lớp tuổi sinh sản 20.665.000 (1999). Hàng năm 500.000 tới 600,000 phụ nữ đến tuổi cập kê.



Trong khi khả năng sinh sản giảm th́ sự phá thai tăng và Việt nam đă trở nên nước đứng hàng đầu thế giới về phá thai. Mặc dù phá thai không phải là một phương pháp kiểm soát sinh sản an toàn, nhưng nhiều phụ nữ đă dùng phương pháp này để chấm dứt t́nh trạng mang thai ngoài ư muốn, không ngại những biến chứng nguy hiểm có thể xẩy ra.

*  Theo tài liệu nghiên cứu của Danièle Bélanger và Khuất Thu Hồng (Asia Pacific Population Journal June 1998)

Từ 1990 đến 1993 số phá thai hàng năm lên đến 1,2 triêu, và trung b́nh mỗi người đàn bà trong tuổi sinh nở phá thai 2,5 lần, đây  là một tỷ số cao nhất thế giới.

Có nhiều giải thích về hiện tượng này:

1) Các cuộc điều tra dân số học cho biết phụ nữ trẻ bây giờ có giao tiếp t́nh dục trước khi kết hôn sớm hơn ngày trước, vả lại thời gian từ lúc hôn nhân đến khi sinh đứa con đầu cũng ngắn hơn.

2) Do các thay đổi kinh tế và ảnh hưởng sách báo ngoại quốc, phim xi-nê, truyền h́nh v.v... thanh thiếu nữ bắt chước lối sống mới, hẹn ḥ và liên lạc t́nh dục nhiều hơn

3) Số người mang thai ngoài ư muốn gia tăng.

Một cuộc khảo sát lớp tuổi 15-24 tại Hà nội cho biết:

Từ khi bắt đầu gặp nhau (date) 37%  phụ nữ mất trinh trong năm thứ nhất, 67% năm thứ hai, 87% năm thứ ba, 100% năm thứ tư.

Tính trung b́nh chung cho lớp tuổi này (14-25) từ khi bắt đầu mất trinh đến  khi phá thai là 6 tháng.

Và từ lần phá thai thứ nhất đến lần phá thai thứ hai khoảng thời gian là 17 tháng.

Để có một so sánh, ngày nay tại Trung hoa 70% phụ nữ Bắc kinh có liên hệ t́nh dục trước hôn nhân, so với 15,5% năm 1989. Thanh thiếu niên 14-20 tuổi, trung b́nh có liên hệ t́nh dục vào tuổi  17,4, trong khi lớp tuổi 31 tới 40 chỉ bắt đầu biết mùi trai gái vào tuổi 24,1 (Time, December 12, 2005)

Phá thai theo giới tính

Ngoài những nguyên nhân kể trên, phá thai c̣n có tính cách chọn lựa theo phái tính. Ở nhiều xă hội như Ấn độ và Trung hoa, phá thai khi biết hài nhi là con gái rất thịnh hành, nên  từ năm 2002, có nơi cấm bác sĩ  tiết lộ tính phái của hài nhi c̣n trong bụng mẹ sau khi thực hiện siêu âm.

Tại Việt Nam tuy sự chọn lựa phái tính trong phá thai tuy không thịnh hành, nhưng tỷ số nam/nữ bất quân b́nh trong lớp tuổi dưới 20 đă cao hơn mức b́nh thường, và ngày càng gia tăng; người ta cho là t́nh trạng này một phần do sự phá thai căn cứ vào phái tính của thai nhi.

Hai thống kê dưới đây về lớp tuổi ấu nhi và vị thành niên là chỉ số cho biết hậu quả của vấn đề chọn lựa giới tính trong quyết định phá thai.

* Theo GE Source World Guide (July 2005)

Dân số Việt nam 83,536.000

Tỷ số lúc sinh: 1,08

Từ 0-14  tuổi : 27,9%, nam 12,065.777, nữ 11,212,299, tỷ số nam/nữ:1,08

Từ 15-64 tuổi: 66,4%: nam 27,406,456, nữ 28,024.250, tỷ số nam/nữ 0,98

Lớp trên 65 tuổi: 5,7%,  nam 1,889,585, nữ 2,937,209, tỷ số nam/nữ 0,64.

Tỷ  số  toàn dân nam nữ 0,98

* Theo bảng phân bố của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, các lớp tuổi 0-4, 5-9. 10-14, 15-19, trai vượt trội hơn gái, chỉ từ lớp tuổi trên 50 số đàn ông ít hơn đàn bà rất nhiều (hậu quả của chiến tranh).

Riêng sáu tháng đầu năm 2005, cứ mỗi 100 bé gái sơ sinh, có 111 bé trai.

Ngày nay với siêu âm, người ta dễ biết trước giới tính thai nhi, sự chọn lựa phá thai tùy theo giới tính bào thai không phải là không có. Năm 2001, Hà Nội ban hành sắc lệnh cấm nạo thai trên căn bản giới tính, nhưng lệnh này rất khó chấp hành, không thành công trong việc cân bằng lại tỷ lệ nam nữ. Mới đây Sở Y Tế Hà Nội chỉ thị cấm chẩn đoán lựa chọn giới tính thai nhi đến các bệnh viện thành phố, các trung tâm y tế, các quận huyện cũng không đạt được kết quả.

Phương pháp phá thai:

Có hai phương pháp phá thai:

- hút thai, thực hiện 6 tuần lễ đầu thời kỳ thụ thai.

- và nạo thai, thực hiện sáu tuần lễ sau khi thụ thai.

Về hút thai không bắt buộc phải làm thử nghiệm trước khi nạo, cứ trễ kinh th́ hút bằng mày hút vacuum, chỉ khoảng 50% số hút thai là có thử nghiệm thụ thai trước khi hút.

Phá thai có thể thực hiện ở mọi cấp chuyên viên, từ cô mụ ở bảo sanh viện cho đến cấp huyện, tỉnh và trung ương.

Báo cáo chính thức cho biết 86% vụ phá thai thực hiện trong các cơ sở y tế công lập và 14% thực hiện tại các pḥng mạch có khi thiếu an toàn, nhưng nhiều nghiên cứu cho rằng khó có thể xác định được hoạt động trục thai trên lănh vực tư, v́ thường các nghiệp vụ này không khai báo. Ngay các bệnh viện công lập cũng không khai báo đầy đủ số người phá thai và số thu nhập y phí phá thai, v́ đây là một nghiệp vụ bán công. (Hoàng Kim Dzung & Nguyễn Quốc Anh).

Danh tánh người phụ nữ phá thai được giữ kín.

Chi phí cho phá thai

Trong một cuộc khảo sát từ 1995-2000, 75,8% phụ nữ phá thai phải trả chi phí. Phụ nữ tại nông thôn không có bảo hiểm thường phải trả tiền mặt. Những người có công ăn việc làm thường trả bằng tiền của ḿnh mà không sử dụng tiền do bảo hiểm v́ muốn giữ kín.

Chi phí cho một vụ hút thai từ 15.000 tới 75.000 đồng tùy theo thủ thuật và số tuần lễ mang bầu . Chí phí này gồm có thủ thuật phá thai, một ít thuốc chống đau nhức và trụ sinh mang theo về nhà.. Các dịch vụ khác nếu có, phải trả tiền thêm. Giá tiền thay đổi tùy nơi, thí dụ ở Cao Bằng hay Ninh B́nh giá là 20.000 đồng trong khi tại Hànội chỉ có 10.000 đồng. Một tài liệu khác trong năm 1996, giá một vụ hút thai là 32.000 đồng VN và 52.000 đồng cho một vụ phá thai.

Ở các cơ sở y tế tư thù lao mắc hơn ở hệ thống y tế công lập.

Biến chứng do phá thai

Mặc dầu thống kê chính thức năm 1997 không liệt kê được đầy đủ các biến chứng do phá thai gây ra, một nghiên cứu khác đă đưa ra tỷ lệ 32,2% vụ phá thai gây ra biến chứng.



Nguồn tin: Induced Abortion Survey 2000, VNDHS 1997

T́nh trạng xă hội kinh tế

Bảng kê t́nh trạng phá thai của phụ nữ có gia đ́nh, theo tŕnh độ giáo dục và  nghề  nghiệp (1994-1997)



* Chú dẫn :
Nhóm 1 ; gồm có các cấp lănh đạo đảng tại trung ương và địa phương, cơ quan phi chính phủ, quản lư doanh nghiệp, nhân viên y tế, thư kư, chuyên viên giáo chức. Phần nhiều những người này làm trong chính quyền
Nhóm 2: gồm có thợ thuyền lao động
Nhóm 3: công nhân làm rừng, đánh cá chài lưới và nông dân
Nhóm 4: thất nghiệp, nội trợ, sinh viên và quân đội

Nhận xét tổng quát

Những số thống kê cho biết phá thai trong khu vực tư càng ngày càng tăng từ 1989 (World Bank, 2001). Con số chính xác trong lănh vực này rất khó ước lượng, nhưng rất nhiều và tăng gấp bội trên các thành phố lớn, nhất là tại miền Nam, và nhất là đối với các thanh thiếu niên chưa lập gia đ́nh.

Tŕnh độ giáo dục và t́nh trạng nghề nghiệp có ảnh hưởng nhiều đến thái độ của phụ nữ trong việc lựa chọn phá thai. Nói chung, phụ nữ làm việc hành chính và cơ sở công nghệ có tỷ lệ phá thai cao hơn phụ nữ làm việc tay chân.

Phần nhiều phá thai v́ muốn hạn chế số con trong gia đ́nh. Trường hợp đă có con trai rồi cũng là một yếu tố quyết định để người mẹ phá thai đứa con sinh sẽ sinh sau.

Biến chứng do phá thai gây ra khá cao, nhất là đối với những người ở nông thôn, Một số phụ nữ  lại không muốn trở lại nơi đă phá thai để điều trị biến chứng.

Phá thai tại Việt Nam rất phổ cập trên toàn lănh thổ, nhất là thủ thuật hút thai đơn giản và v́ chi phí thấp. Dù vậy tiêu chuẩn săn sóc  y tế cho phụ nữ phá thai rất thiếu, phần nhiều họ không được khám bệnh trước.

Nhân sự phục vụ không đầy đủ về số lượng, tŕnh độ chuyên môn thấp v́ thiếu huấn luyện.

Tỷ lệ phá thai cao chứng tỏ kế hoạch gia đ́nh chưa có hiệu quả.

Do ảnh hưởng của xă hội, trong giới thanh thiếu niên độc thân con số phá thai, nhất là các vụ phá thai lén lút, càng ngày càng tăng thêm.

Vị trí của thai nhi trong nhân loại

Nh́n từ nhăn quan nhân chủng học, phá thai thuộc khoa học và văn hóa. Truyền chủng qua t́nh trạng  thai nghén là một hiện tượng tự nhiên bất biến và chung cho động vật, loài người hiểu biết được qua những khảo sát sinh học và y học. Phía khác, nh́n qua lăng kính của các hệ thống văn hóa, mỗi phạm trù nh́n bào thai theo quan điểm lư thuyết riêng của ngành ḿnh. Trong khoa học, bào thai là một sinh vật chi phối bởi những định luật của khoa di truyền, trong văn hóa tùy thuộc ḷng tin, luận lư, qua không gian và thời gian, thai nhi được định nghĩa khác nhau. Do đó, thái độ đối với việc chấm dứt tiến tŕnh sinh trưởng của thai nhi cũng biến thái từ chống đối, kết án sang nhắm mắt làm ngơ, mặc nhiên chấp nhận, dung thứ, chấp thuận hay bênh vực.

Thái độ của người mẹ

Khi một phụ nữ quyết định không để đứa con trong bụng ra đời, phần lớn đă có một can đảm lớn lao chấp nhận sự đau đớn tinh thần, đau đớn thân xác hay cả hai, và sự chấp nhận này do hoàn cảnh từng người căn cứ trên những lư lẽ riêng biệt.

Có một quan niệm phân biệt hai loại bào thai, một loại là kết quả của ḷng mong muốn, suy tính và ước mơ tạo thành, loại thứ hai tạm gọi là nhục thể (foetus tumoral), thai nhi là kẻ vô danh, kết quả của một giao hợp nam nữ.

Thực ra nếu mỗi sinh vật do sự gần gũi nam nữ tạo ra, tồn tại đến ngày sinh ra đời, tự bản chất  không có ǵ phân biệt thuộc loại bào thai nào; nhưng khi coi thai nhi là một khối thịt không hơn không kém (foetus tumoral), sự kiện này không những đưa đến hành động giết chết bào thai, mà nguy hiểm hơn nữa c̣n đưa đến hành động giết trẻ sơ sinh, điều đó đă có trong các xă hội sơ khai.

Một nhăn hiệu nữa của bào thai, căn cứ vào phái tính, nhiều nơi trên thế giới, người ta phá thai khi biết thai nhi là con gái (nhất là tại Trung hoa và Ấn độ).

Tại Việt Nam, theo phong tục, đa số gia đ́nh đều muốn có ít nhất một con trai. Ngày nay c̣n sót lại quan niệm nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, một số cha mẹ Việt Nam đă không ngần ngại nạo thai khi đă biết con gái bằng siêu âm. Đă hẳn không phải tất cả các phá thai đều để chọn giới tính.

Những nguyên nhân  khác của trục thai là coi thai nhi như một kết quả bất ngờ của t́nh dục, do kém hiểu biết và thiếu giáo dục về sinh lư của thanh niên nam nữ, cùng nạn măi dâm thịnh hành không kiểm soát nổi..

Đời sống của thai nhi

Bác sĩ Liley, người đầu tiên thực hiện truyền máu cho thai nhi trong tử cung, viết rằng: “Bẩy ngày sau khi thụ tinh, từ lúc thai đậu tổ trong niêm mạc tử cung, đứa trẻ bắt đầu điều khiển môi sinh chung quanh nó và định đoạt số phận của ḿnh. Đây là nhà ở của em nhỏ trong 270 ngày.

Bào thai sống điều ḥa trong sự cộng sinh với sinh lư của thân thể người mẹ.

Đứa trẻ vận động tự do giữa môi trường nước ối bao quanh, biết phản ứng với đau đớn, đụng chạm, âm thanh, ánh sáng. Nó uống nhiều khi nước có vị ngọt và uống ít khi có mùi vị không thích. Nó mút ngón tay, thức và ngủ. Nó chán ngấy những tiếng động liên tiếp. Cuối cùng đứa trẻ định đoạt ngày sinh nhật của nó. Giờ G lâm bồn khởi sự do quyết định đơn phương của thai nhi.

Chúng ta đă biết lo lắng cho thai nhi sau khi sinh, th́ trong lúc sống trong tử cung, nó cũng phải được định bệnh và chữa trị  như bất cứ người nào khác.”

(Liley : A Case Against Abortion)

Cho nên để trả lời câu hỏi đời sống bắt đầu từ lúc nào, ta có thể căn cứ vào sinh học. Trong sinh học hiện tượng sống của mỗi người bắt đầu từ lúc hai giao tử, tinh trùng của người cha và noăn (trứng) của người mẹ, kết hợp làm một tế bào nguyên thủy. Sự hợp tác của 23 cặp nhiễm sắc thể này đă mang h́nh dạng, nhân tính, giới tính, tương lai con người đă được thảo chương (programmé) cho cuộc đời ngót trăm năm. Đời sống cá nhân khởi sự từ lúc thụ thai, thời điểm zero, từ đó cá nhân tăng trưởng, sinh ra và lớn lên cho đến lúc chết.

Câu hỏi tiếp theo là nếu sự sống bắt đầu từ khi thụ thai, đời sống đó có được pháp luật bảo vệ như những pháp nhân khác? Khi thân thể bị xâm phạm, ai là phán quan trọng tài?

Trên căn bản nào, thai nhi bị kỳ thị, bào thai có thể bị giết chết sau vài tháng hiện hữu mà không bị h́nh luật truy tố?

Những người bênh vực sự sống khẳng định thai nhi là một vấn đề nhân quyền và dân quyền, đời sống phải được bảo đảm từ lúc thành h́nh.

Mạnh mẽ hơn cả, Christine Boutin c̣n đưa ra quan niệm coi bào thai như một công dân (Embryon Citoyen, Éditions Le Sarme)

Thế nhưng luật pháp can thiệp bằng cách băi bỏ trừng trị phá thai (depénalisation), mặt khác c̣n coi như quyền của người mẹ, phá thai trở thành một hành động chính đáng với ít nhiều  giới hạn.

Hệ quả là cho đến một giai đoạn nào đó (thường là dưới 20 tuần lễ) trong cuộc đời ngắn ngủi chín tháng, thai nhi không được bảo vệ quyền sống, v́ một lư do nào đó nó có thể bị trục ra khỏi môi sinh tự nhiên trong ḷng tử cung.

Sau khi hợp pháp hóa, trừ những người cực đoan, cuộc tranh căi giữa kẻ bênh người chống cũng bớt tính cách quyết liệt hơn. Hành động phá thai được mặc nhiên nhân nhượng, và người phá thai được bào chữa hay là được nhắm mắt làm ngơ.

Dù không c̣n là một hành động bị cấm đoán, phá thai vẫn c̣n trong bóng tối của dư luận, vẫn c̣n che dấu trong sự âm thầm và kín đáo.

Kết cục tranh đấu cho đời sống thai nhi sẽ c̣n kéo dài măi.

a - Phe chống phá thai phản đối việc hợp thức hóa phá thai, muốn cấm đoán hoàn toàn, tái lập lại các chế tài h́nh sự và lập ra các biện pháp có thể triệt tiêu hành động mà họ cho là phạm pháp. Nhưng ư kiến cực đoan này chẳng  phải là giải pháp hoàn toàn.

Họ cứ tưởng rằng người ta phá thai nhiều hơn là v́ được pháp luật cho phép.

Họ quên rằng trước khi được hợp thức hóa, số phá thai bất hợp pháp rất cao và c̣n gây ra nhiều biến chứng trầm trọng, kể cả tử vong.

Nhớ lại hồi giữa thế kỷ 20, nhiều người tưởng rằng với kế hoạch gia đ́nh và sự phát minh ra thuốc ngừa thai, có thể giảm bớt phá thai, đến nay các tiên liệu đó hoàn toàn không xẩy ra như dự đoán.

Hơn nữa, lập lại các h́nh phạt sẽ đem đến t́nh trạng phá thai lén lút như trước kia.

b- Ngược lại các phần tử thiên về tự do phá thai (pro-choice) cũng chưa bằng ḷng với sự chấp thuận của luật pháp.

Họ chỉ trích các giới hạn trong thủ tục phá thai, như tuổi của thai nhi, số tuần lễ mang thai, tuổi của người mẹ, số con đă có trong gia đ́nh v.v... Họ không bằng ḷng các hạn chế phá thai trong nhà thương, viện cớ t́nh trạng ứ đọng của các bệnh nhân khác.

Họ công kích y giới làm cho phụ nữ mặc cảm, v́ coi việc phá thai là một nghiệp vụ bất thường, kín đáo, mang tính đặc ân, thực hành thủ thuật một cách bất đắc dĩ, và có khi c̣n coi như  phạm pháp. Họ kêu gọi đừng bi thảm hóa (dédramatisation) hành động phá thai.

Để kết luận một câu hỏi đặt ra :Thai nhi có được coi như một thành phần xă hội?

-Một sinh vật được coi là đă gia nhập vào xă hội khi các thành phần trong tập thể công nhận rằng tương quan của tập thể với sinh vật đó đặt ra những vấn đề để trao đổi, hay lập ra những giao ước.

Hiểu theo nghĩa đó, thai nhi đă đi vào xă hội bằng cách mở ra các cuộc tranh luận, tác động trên công luận những bàn căi về sự sống bào nhi.

Giải đáp cho câu hỏi trên là chủ trương coi bào nhi là một sinh vật mà hiện tượng sống do khoa học khám phá ra từ lúc thụ thai; loài người nhận biết qua h́nh ảnh, nghe tiếng tim đập, biết trước tính phái, có thể định bệnh và chữa trị trong nhiều trường hợp.

Sự can thiệp của pháp luật vào cuộc sống bào nhi là một phương thế làm dịu đi những tranh chấp, nhưng kết quả chẳng khi nào trọn vẹn, luật pháp tuy  có hiệu lực áp đặt trật tự cho xă hội, nhưng không giải quyết toàn bộ vấn đề của sự sống. Khi căn cứ vào khả năng kỹ thuật nuôi sống hài nhi ngoài tử cung (thường là 20 tuần lễ) rồi định cho nó một giới hạn sống c̣n, cho phép chấm dứt cuộc sống yên ổn của thai nhi trong môi sinh tự nhiên của nó, pháp luật đă thiếu hẳn sự công chính. Sự sống của bào thai không thể phân chia thành từng thời kỳ nhân tạo.

Cho nên cuối cùng phải trả vấn đề thai nhi lại lại cho lẽ phải.

Hiện nay cứ 100 thai nhi thành h́nh th́ hơn một phần ba sẽ bị giết chết ở thời kỳ trứng nước, khi chưa sống quá nửa  cuộc đời ngắn ngủi 270 ngày.

Chấm dứt t́nh trạng phá thai là một cần thiết cho những ai muốn có một thế giới trong đó nhân loại chấp nhận bào nhi  như đồng loại, đón nhận những đứa trẻ từ lúc tụ  h́nh.

Loài người sẽ phải đối phó với những khám phá mới của khoa phôi sinh học, đ̣i hỏi phải chấp nhận một «quy chế» cho thai nhi. Chân trời trong đó bào thai là một thành phần của nhân loại và được bảo đảm các quyền lợi như một con người sống trong xă hội có lẽ c̣n xa vời.

Trong sự đi t́m thái độ nhân tính đó, phải đặt t́nh dục vào vị trí của nó, v́  nó không hoàn toàn độc lập, nó phải đi đôi với sự cân bằng giữa t́nh dục và  sinh sản.

Phạm Hữu Trác

A man pleaded wih GOD
“Dear GOD, why don’t you send us men and women who can find a cure for cancer, aids and heart disease, who can help the poor, feed the hungry and can stop war?”
GOD replied “I did”
“But ... but ... where are they?”
“They came back to Me almost at once: You aborted them”


Extracted from: Why can’t we love them both.

Tài liệu

- APAS, International Data for Evaluation of Abortion Services Reproductive Health and Abortion Statistics, 19-8-2004.
- BÉLANGER Danielle and KHUAT Thu Hong Young Single Women Using Abortion in Hanoi, Vietnam, June 1998.
- BOUTIN Christine, L  embryon Citoyen, Le Sarme
- ĐANG Thi Nghia & NGUYEN Duy Khe, Vietnam Abortion Situations, Country Report, Conference in South Africa, 2-6 December 2001.
- HENSHAW K. Stanley, SINGH Susheela and HAAS Taylors, The Incidence of Abortion Worldwide.
HILL Mark Dr, UNSW Embryology, Carnegie Stages.
- HOANG Kim Dzung and NGUYEN Quoc Anh, Induced Abortion in Vietnam: Facts and Solutions, Paper presented at Chulalongkorn University, Bangkok November 2002.
- JOHNSTON Wm. Robert, Percentage of Pregnancies aborted by Country, Annuary 2005
- TRẦN Giao Thủy, Trai thừa gái thiếu, Đàn Chim Việt, 14-12-2005.
- Why can’t we love them both: The Human embryo, Human Life, Fetal Development, Dr. & Mrs J. C. Willke.