Việt
Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế,
và trong thời gian không xa có thể sẽ trở thành thành
viên của WTO và các tổ chức kinh tế khu vực
theo như các nhà lănh đạo cọng sản mong
mỏi. Nhưng muốn hội nhập kinh tế quốc
tế Việt Nam phải có chất lượng và khả
năng cạnh tranh, và muốn có chất lượng và
khả năng cạnh tranh với các nước tân
tiến th́ Việt Nam trước hết phải có
một nền công kỹ nghệ tân tiến tiếp
cận với các nước đó. Giáo dục đóng
vai tṛ then chốt trong việc đưa nước nhà ra
khỏi cảnh chậm phát triển, nâng nước
Việt lên hàng một quốc gia có nền khoa học
kỹ thuật tân tiến. Đó là lư do tại sao
vấn đề giáo dục được các nhà lănh
đạo cộng sản đặt lên hàng đầu
quốc sách trong những năm gần đây, nhất là
trong một seminar về giáo dục hồi mấy tháng trước
tại Hà Nội. Nhiều vấn đề được
mổ xẻ, nhiều kế hoạch phát triển
được đề ra, và nhiều sách lược
đổi mới được nói đến từ
mấy năm nay. Nhưng như nhiều nhà giáo dục
đă nhận định, cho đến giờ phút này, t́nh
trạng giáo dục ở Việt Nam là vẫn giẫm chân
tại chỗ, có nghĩa là càng ngày càng đi lùi xa phía
sau các nước tân tiến trong khu vực cũng như
trên thế giới. Sự thật như thế nào?
T̀NH TRẠNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM VÀO ĐẦU THẾ KỶ XXI
Việt
Nam đă bắt đầu đổi mới từ
giữa thập niên 1980. Từ lúc đổi mới đến
đầu thế kỷ XXI , Việt Nam có đủ
thời gian và điều kiện chính trị (đất
nước ḥa b́nh) để phát triển, thăng
tiến giáo dục, nhưng thực tế cho thấy
sự việc đă không xảy ra như vậy.
Dưới mắt những nhà giáo dục Việt Nam ở hải ngoại
Hồi tháng 11 năm 2001 hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam có tổ chức một hội thảo về quan điểm về việc phát triển Việt Nam. Trong buổi hội thảo này có hai bài thuyết tŕnh về hiện trạng giáo dục ở Việt Nam. Bài thứ nhất của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, cho một cái nh́n khái quát về t́nh trạng của các trường trung tiểu học phổ thông. Những yỬ chính được ghi lại như sau trong đặc san 2002 của hội Khoa Học và Kỹ Thuật:
“Các trường rất nghèo nàn và thiếu thốn trợ huấn cụ, tài liệu giáo khoa, và điều kiện thực tập. Các lớp học thường rất đông học sinh, và chương tŕnh học có tính cách từ chương và nhồi sọ. Mặc dù có nhiều chương tŕnh huấn luyện giáo dục, nhất là của Liên Hiệp Quốc, giáo chức Việt Nam không thể áp dụng những điều học hỏi v́ thiếu phương tiện và bận làm việc khác để sinh sống v́ mức lương quá thấp…”
Bài thứ nh́ của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thùy, đặc biệt chú trọng về t́nh trạng đại học ở Việt Nam. Giáo sư Thùy đi sâu vào cơ cấu tổ chức giáo dục bậc đại học và những yếu kém của nền giáo dục vô cùng quan trọng này. Ư chính được tóm lược như sau trong đặc san 2002 của hội KH KT:
“Vấn đề đại học Việt Nam là một khía cạnh nhức nhối của chánh quyền hiện nay và của đất nước trong tương lai. Có quá nhiều trường đại học, có nhiều loại trường không thể phân biệt, và không theo đúng tiêu chuẩn quốc tế. Tổ chức đào tạo mánh mun, giáo dục bị thương mại hóa. Bố trí cơ sở có sự cách biệt giữa miền Bắc và miền Nam. Đào tạo chuyên ngành bị trục lợi nên gây ra t́nh trạng bè phái và thiếu tŕnh độ. Việc tuyển sinh đại học không công bằng giữa các địa phương, buôn bán chỉ tiêu tuyển sinh, điểm thi của thí sinh càng ngày càng hạ thấp. Về việc học ở đại học và cao đẳng, sinh viên không có đầy đủ phương tiện như sách giáo khoa, phương tiện thông tin, và thư viện; giáo sư đại học có tŕnh độ thấp, lương không đủ sống; tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên thất nghiệp gia tăng.”
Trên đây là ư kiến của hai
giáo sư tiến sĩ ở hải ngoại đă có
dịp về thăm viếng, nghiên cứu về t́nh
trạng giáo dục ở nước nhà từ Trung
Tiểu học phổ thông đến đại học và
cao đẳng chuyên nghiệp vào những năm 2000-01.
Theo báo chí trong nước:
Cơ quan chính thức của Đảng Cọng Sản, khi nhận định về giáo dục đào tạo, đă ghi những yếu kém sau đây:
(a) Chất lượng giáo dục nói chung c̣n thấp một mặt chưa tiếp cận được với tŕnh độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong xă hội. (b) Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ lao động đă qua đào tạo c̣n thấp: c̣n nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm. (c) Cơ cấu tŕnh độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đă được khắc phục một bước song vẫn c̣n mất cân đối. (d) Đội ngủ nhà giáo thiếu về số lượng và nh́n chung thấp về chất lượng. (e) Cơ sở vật chất của nhà trường c̣n thiếu thốn. Chưa thanh toán hết các lớp học 3 ca. (f) Chương tŕnh, giáo tŕnh, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa. (g) Công tác quản lư giáo dục c̣n kém hiệu quả.
Ngoài những yếu kém nói trên, c̣n có những tệ trạng giáo dục chưa hay không giải quyết được. Báo Sài G̣n Giải Phóng ghi lại cuộc phỏng vấn một thứ trưởng giáo dục (ông Trần Văn Nhung) về tệ nạn phao thi như sau: “Cùng với hiện tượng thi hộ, thi kèm, trong kỳ thi ĐH-CĐ năm nay, t́nh trạng phao thi xuất hiện tràn lan đang khiến dư luận rất bức xúc, ông có thể cho biết v́ sao lại có t́nh trạng này?”
Trong một cuộc phỏng vấn
khác của báo Đảng Cọng Sản, với thứ
trưởng giáo dục Lê Vũ Hùng nhà báo hỏi: Hàng
chục ngàn sinh viên ra trường không có việc làm, v́
sao? Ngành giáo dục đào tạo có bó tay trước t́nh
trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, t́nh trạng
bằng thật, học giả? Hàng chục vạn giáo viên
không đạt chuẩn sẽ làm ǵ và đi về đâu?
Dưới cái nh́n của một nhà báo Mỹ
Một nhà báo Mỹ (David Lamb), thăm viếng Việt Nam gần đây (2001) có những nhận định như sau về vấn đề giáo dục ở xứ này: Học sinh chăm chỉ và lễ phép nghe lời thầy cô giảng, ghi lại đúng những điều thầy cô nói, và yên lặng, trật tự ra về lúc hết giờ. Đến ngày thi học sinh viết lại thuộc ḷng những ǵ đă học. Bàn căi, thách thức hay có câu hỏi ǵ đối với thầy cô là bị xem như vô lễ. Về sử chẳng hạn, David Lamb viết: “Sử là cái ǵ thầy cô nói - hay đúng hơn là cái ǵ Đảng Cọng Sản nói - Nó không được mở ra cho những cắt nghĩa nhận định” (“History was what the teacher said - or more precisely, what the Communist Party said - It was not open to interpretation.”)
Chi
phí hằng năm cho mỗi đầu học sinh là $41
(bậc trung học) trong khi ở những thành phố giàu
ở Mỹ là $7300 (Western Connecticut). Lương giáo
chức chỉ vào khoảng $30 mỗi tháng (trong khi ở
Western Connecticut lương giáo chức có thể lên
tới $60,000 một năm). V́ lương quá thấp, không
đủ sống nên họ cần phải làm nhiều
việc khác mới đủ sống, nhất là dạy thêm,
dạy riêng thêm ngoài giờ học. Tệ nạn mua bán
bằng cấp, mua bán thứ hạng cho học sinh ở
đâu cũng có. Theo sự xếp hạng của cơ
quan Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới th́ Việt Nam
đứng hàng thứ 53 trong tổng số 59 nước
về phương diện tư thế cạnh tranh
tổng thể. Về chỉ số tham nhũng (Corruption
Index) do cơ quan Transparency International xuất bản th́
Việt Nam là 1 trong 14 xứ tham nhũng nhất trong danh sách
100 nước. Vào năm 2001 cơ quan Hong Kong consultancy nâng
Việt Nam lên hàng tham nhũng số 1 trong các nước
tham nhũng nhất ở Á Châu. Nh́n chung dù đă có đổi
mới, Việt Nam vẫn c̣n trong t́nh trạng kém mở
mang và c̣n là một nước nghèo trong danh sách của
những nước nghèo nhất thế giới. Kết
luận của David Lamb: “Các chuyên viên phát triển
quốc tế tin rằng cải tiến giáo dục là
một trong ba hay bốn thách thức lớn nhất mà chánh
phủ Việt Nam phải đương đầu
nếu muốn trở thành một nước có tư
thế cạnh tranh, bớt tham nhũng, và đáp ứng
được nguyện vọng của nhân dân.” (
“Educational reform, international development experts believed, was one of
the three or four biggest challenges the government had to confront if Vietnam
was to become more competitive, less corrupt, and more in tune with the
aspirations of its people.”) Tóm
lại t́nh trạng giáo dục ở Việt Nam vào đầu
thế kỷ XXI có nhiều yếu kém, phải
đương đầu với nhiều khó khăn
về tất cả các phương diện: (1) trường
sở, (2) cơ cấu tổ chức, (3) quản trị/điều
hành, (4) chương tŕnh giảng dạy, (5) tài
liệu/học cụ giáo khoa, (6) hàng ngũ giáo chức, và
(7) vấn đề thi cử /lượng giá học sinh.
BIỆN PHÁP CẢI TIẾN VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Tựa trên những lời tuyên bố của các nhà lănh đạo giáo dục, những bài viết trên báo chí trong nước, những quyết định trong các đại hội đảng thứ VIII và thứ IX và của Thủ Tướng chính phủ, người ta thấy như các người lănh đạo (Cộng Sản) Việt Nam muốn làm cho dân giàu nước mạnh, muốn làm cho xă hội Việt Nam tiến lên ngang hàng với các nước xung quanh và thế giới về phương diện công nghiệp và khoa học hiện đại. Họ thấy tầm quan trọng của giáo dục trong việc phát triển xă hội, nhất là trong việc công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) nước Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hiện nay trên thế giới. Họ thấy những khuyết điểm của nền giáo dục hiện thời, và họ đă đưa ra những biện pháp chấn chỉnh. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, họ đề ra một lô những mục tiêu phát triển cấp bậc học, tŕnh độ và loại h́nh giáo dục như sau:
. Giáo dục mầm non: tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên 15% năm 2005 và 18% năm 2010; tăng tỷ lệ trẻ 3-5 đến mẫu giáo từ 50% năm 2000 lên 58% năm 2005 và 67% năm 2010; tăng tỷ lệ trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo chuẩn bị vào lớp Một từ 81% năm 2000 lên 85% năm 2005 và 95% năm 2010.
. Giáo dục phổ thông: tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010. Đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển năm 2005, trong cả nước năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi THCS từ 74% năm 2000 lên 80% năm 2005 và 90% năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh THPT từ 38% năm 2000 lên 45% năm 2005 và 50% năm 2010.
. Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học: Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 năm học 2000-2001 lên 200 vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11,727 năm 2000 lên 38,000, nghiên cứu sinh từ 3,870 năm 2000 lên 15,000 vào năm 2010....
Đại khái c̣n một số các mục tiêu khác liên hệ đến các trường chuyên nghiệp, giáo dục không chính quy, giáo dục trẻ khuyết tật, vv... Nh́n chung đây là những mục tiêu phát triển về số lượng nhưng c̣n về phẩm chất th́ như thế nào?
Nhằm cải tiến phẩm chất của giáo dục nhà lănh đạo Cọng Sản nêu ra các giải pháp:
Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương tŕnh giáo dục,
. Phát triển đội ngủ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục,
. Đổi mới quản lư giáo dục,
. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục,
. Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục,
. Đẩy mạng xă hội hóa giáo dục,
. Đẩy mạng hợp tác quốc tế về giáo dục.
Chúng ta thấy có một số những đổi mới được nêu ra ở đây nhưng không thấy nói rơ cái mới đây là cái ǵ và phải làm ǵ để đổi mới. (Trước đây giáo sư Đỗ Bá Khê có nhận xét về sự đổi mới các đại học ở Việt Nam là thật sự trở về cái cũ, tức là cái đă có ở miền Nam hồi trước năm 1975). Những biện pháp trên đây thật ra cũng đă được các nhà lănh đạo cọng sản nói đến trong đại hội VIII của họ. Họ đă đề ra và họ đă cố áp dụng nhưng kết quả không được bao nhiêu. Trong seminar về giáo dục tổ chức từ ngày 3/6 đến ngày 25/9/2004 (với 5 lần họp) tại Hà Nội, nhiều nhà giáo dục trong cũng như ngoài nước, khi nhận định về t́nh trạng giáo dục hiện thời ở Việt Nam đều xác nhận là không có hiệu quả, ngược lại c̣n đi thụt lùi một cách rất đáng ngại. Ngoài những con số cho thấy đà phát triển b́nh thường về số lượng của một quốc gia, phẩm chất của giáo dục (phần chính yếu giúp tân tiến hóa và hiện đại hóa xă hội) vẫn trong t́nh trạng rất yếu kém so với các nước khác trong khu vực. Trong seminar này các nhà giáo dục đă dưa ra một bản kiến nghị gồm ba phần. Phần thứ nhất phân tích t́nh trạng giáo để t́m ra cái gốc của các khó khăn và bất cập hiện nay, phần thứ hai đề xuất phương hướng hiện đại hóa giáo dục để khắc phục các khó khăn và bất cập một cách cơ bản, và phần ba tŕnh bày một số giải pháp cấp bách cần thực hiện để trả lại môi trường hoạt động b́nh thường cho giáo dục, và mở đường chuyển dần sang cải cách, hiện đại hóa toàn hệ thống. Trong phần 1, bản kiến nghị ghi:
“Ai
cũng biết vai tṛ quan trọng của giáo dục đối
với tiền đồ dân tộc. Thế nhưng từ
nhiều năm, chúng ta đă để cho giáo dục
Việt Nam tụt hậu khá xa so với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Nh́n chung cả nước,
hệ thống giáo dục chưa ra khỏi trạng thái
lộn xộn bất b́nh thường, hoạt động
không theo quy luật khoa học, hiệu quả kém, chất
lượng thấp, đang có nguy cơ bị thương
mại hóa theo xu hướng ngược với lư tưởng
công bằng và dân chủ của xă hội. . . . sự sút
kém của giáo dục hoàn toàn không xứng với
tiềm năng của dân tộc, cả về tinh
thần, trí tuệ, vật chất cũng như vận
hội. . . . tuy chúng ta đă có nhiều cố gắng
để vực giáo dục lên, song những căn
bệnh chính của nó không hề giảm, trái lại ngày
càng trầm trọng và kéo dài chưa biết đến
bao giờ. . . .”
Tại sao?
Những yếu tố quyết định (determining factors) trong việc nâng cao phẩm chất giáo dục là nhân sự và phương tiện. Về nhân sự, từ các nhà lănh đạo giáo dục đến các cán bộ cao cấp, cần phải là những người có căn bản học vấn cao, có quan niệm giáo dục tân tiến hiện đại, có kiến thức khoa học vững chắc, có tinh thần khai phóng, có sáng kiến và có tinh thần phụng sự quốc gia dân tộc. Giáo sư đại học phải có căn bản học vấn cao va vững chắc, và họ cần có tự do để nghiên cứu, phân tích, lựa chọn cái hay, có phương tiện vật chất và tinh thần để hoạt động của họ thật sự có hiệu năng. Rất tiếc là những yếu tố này không có trong chế độ cọng sản hiện nay. Các nhà lănh đạo vẫn ôm ấp chính sách độc tài, độc quyền của đảng, nghi kỵ những sáng kiến lạ, khư khư ôm chặt những cái đang có, tránh xa tính cách tự do, khai phóng của giáo dục tiến bộ. Một số lớn các giáo sư đại học thật sự có giá trị trước kia đă ra đi v́ không thể làm việc được dưới chế độ cọng sản. Thay vào đó là những người được gởi đi học ở Nga Sô và các nước cộng sản Đông Âu. Những tiến sĩ/phó tiến sĩ xuất thân từ các nước cọng sản thường chỉ mang về tờ giấy bằng cấp. Họ không có những transcripts ghi rơ đă học những ǵ, tới tŕnh độ nào, với quá tŕnh học vấn thế nào (đây là điểm rất bất lợi cho trường trong vấn đề accreditation và lượng giá văn bằng của sinh viên tốt nghiệp). Ngoài ra những kiến thức về khoa học và xă hội của họ không sâu xa tiên tiến như kiến thức của những người được đào tạo trong các xứ văn minh của thế giới tự do. Nhưng họ lại là người của đảng cọng sản, và chính quyền cọng sản vẫn c̣n giữ khuynh hướng “hồng hơn chuyên,” và chế độ “bao che” cho nên họ đă chiếm những địa vị then chốt trong cơ cấu giáo dục. Thành phần cốt cán này sẽ làm ǵ được để nâng cao phẩm chất của nền giáo dục nước nhà hay chỉ ngồi ôm chặt cái ghế của ḿnh để áp dụng những kiến thức chật hẹp, lỗi thời. Một số các nhà lănh đạo cọng sản cũng thấy sự sai lầm, thiếu sót đó. Họ cũng muốn đem giáo sư giỏi, hải ngoại về phục vụ. Nhưng người giỏi ở hải ngoại có thể về làm việc ở Việt Nam được không? Được nhưng mà không. Được, có nghĩa là chánh quyền sau khi điều tra cẩn thận có thể cho phép người nước ngoài về phục vụ đại học trong nước. Nhưng không v́ không có điều kiện và phương tiện để phục vụ hữu hiệu. Muốn dạy cái ǵ th́ phải tự ḿnh soạn tài liệu giáo khoa, tŕnh lên chính quyền, được chính quyền duyệt qua, chấp thuận cho th́ mới được dạy, và phải dạy đúng những ǵ đă được chấp thuận. Giáo sư không có cái tự do cần thiết của giáo sư đại học mà ta thường thấy ở đây. Lương th́ quá thấp, học liệu, học cụ đều không có. Thành ra người nước ngoài dù có thiện chí muốn giúp phát triển cũng không giúp được.
TS Đỗ Nguyên Phương, trưởng ban khoa giáo trung ương đảng CSViệt Nam, nhận định là việc đào tạo nhân lực ở Việt Nam trong 20 năm qua chưa bám sát cơ cấu lao động, chất lượng đào tạo nhân lực, nhất là ở bậc đại học, c̣n thấp so với mục tiêu giáo dục, với yêu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xă hội và với tŕnh độ các nước trong khu vực. Nội dung, phương pháp dạy đại học chưa đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn bị nhân lực cho công nghiệp hóa và tŕnh độ chưa theo kịp phát triển khoa học công nghiệp hiện đại. Đặc biệt là công tác bồi dưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức. Cơ chế quản lư hoạt động khoa học, công nghệ và văn hóa c̣n nhiều dấu ấn của lối quản lư hành chánh, quan liêu, bao cấp. Chánh sách đối với người tài không rơ ràng, đồng bộ nên người có thực tài vươn lên khó khăn gây chán nản trong hàng ngũ trí thức. Thiếu những cơ chế đủ mạnh để chuyển những người không có khả năng nghiên cứu sang những công việc khác thích hợp với năng lực hoặc sàng lọc những người bất tài sa sút đạo đức nghiêm trọng. Cơ chế hiện nay vẫn “dành chỗ đứng” cho những người làm việc cầm chừng, dung túng sự lười biếng trong sáng tạo, không tạo được sự đua chen cần thiết và chính đáng về tài năng và cống hiến. Số cán bộ khoa học và công nghệ và nhà giáo có tŕnh độ cao c̣n ít mà lại không được sử dụng tốt. Cán bộ lănh đạo, cán bộ quản lư chủ yếu được đề bạt rồi mới đào tạo nên thường hụt hẫng, chấp vá, thiếu chuyên sâu. Một số người khác đang bị lăo hóa, ít có điều kiện cập nhật hóa kiến thức mới. Sự hẫng hụt cán bộ nghiêm trọng nhất là trong lănh vực khoa học cơ bản. CNH và HĐH rất cần thiết để Việt Nam phát triển và tiến bộ gần với các nước tiền tiến khác. Trong CNH và HĐH trí thức đóng vai tṛ chủ yếu nhưng theo ông Phương th́ cho đến nay vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức c̣n bị nhiều hạn chế: thiếu chiến lược và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, chưa gắn kết và đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, chưa xây dựng được những trường đại học đạt chuẩn quốc tế, chưa có chính sách phát hiện đăi ngộ trí thức. (Kinh phí b́nh quân cho mỗi cán bộ KH-CN hiện nay là 10 triệu/năm, dưới 1000 USD, cán bộ giảng dạy ở đại học là 300USD trong khi ở Thái Lan là 18,000 USD, và Nhật Bản là 194,000 USD. Một giáo sư hải ngoại về dạy đại học Việt Nam lănh 100 USD mỗi tháng). Không thể sống bằng lương nên số đông trí thức phải xoay xở đủ cách (chính đáng hay không chính đáng) để tăng thu nhập. Họ không có điều kiện để tập trung vào công tác chuyên môn, vào nghiên cứu, học hỏi nâng cao tŕnh độ.
Nhân
sự và phương tiện (vật chất lẫn tinh
thần) c̣n là những trở ngại lớn lao cho
việc phát triển giáo dục hiện nay ở Việt
Nam. Nhưng nghĩ cho cùng th́ đó cũng chỉ là
những viên đá to chắn ngang đường đi
ở đằng sau một tảng đá vĩ đại
ở phía trước. Chướng ngại lớn lao
đó là chính sách g̣ bó độc tài chuyên chính của
chính thể cọng sản. Một chính thể mà bên ngoài
th́ trương những khẩu hiệu thật to đề
cao dân chủ, đề cao độc lập, tự do,
hạnh phúc nhưng trên thực tế luôn bảo thủ,
bao che, tập trung quyền hành vào tay một số rất
ít, một chính thể không bao giờ làm đúng những
điều ḿnh nói. ”Ngôn hành bất nhất” là điều
thật đáng buồn cho chính sách đổi mới
hiện nay. Những người có thiện chí, có khả
năng muốn giúp dọn sạch những chướng
ngại đó đi th́ phải đi ṿng qua tảng đá
vĩ đại kia để cố dẹp bớt
những chướng ngại nhỏ ở phía sau c̣n
tảng đá không lồ kia th́ chắc khó bề lay
chuyển.
Kết luận
Nếu những chướng ngại vẫn c̣n nằm ́ ra đó th́ 10 năm nữa hay 20 năm nữa chưa chắc ǵ xă hội Việt Nam đă được công nghiệp hóa và hiện đại hóa như các nhà lănh đạo giáo dục muốn, chưa chắc ǵ nước Việt Nam thoát được t́nh trạng vẫn là một trong những nước nghèo nhất của thế giới văn minh, và chưa chắc ǵ người dân Việt có được đời sống hạnh phúc ấm no như người dân các xứ khác trong khu vực. Thế hệ trẻ Việt Nam chưa chắc đă có thể có cơ hội và điều kiện để học hỏi, tiến thân, phụng sự quê hương như thế hệ trẻ ở các nước tiền tiến trên thế giới. Đó là những ưu tư của người làm giáo dục vậy.
Đă có một số người có đủ tiền của gởi con đi học ở xứ ngoài như Mỹ, Pháp, và một ít các nước văn minh khác. Có cơ hội hấp thụ văn hóa dân chủ tự do những người trẻ này có giúp được ǵ chăng? Có nên hy vọng ở lớp người này chăng trên con đường đổi mới giáo dục, CNH và HĐH nước nhà trong thời gian sắp tới? Hay là nên mong mỏi cho trở ngại lớn nhất vừa nói trên kia được dẹp đi để cho lớp trẻ có thiện chí trong cũng như ngoài nước có cơ hội cải tiến giáo dục, làm giàu quốc gia, đem hạnh phúc về cho nhân dân?
Hy vọng tất nhiên là phải có nhưng rất mong manh. Ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn xa xôi mù mịt.