1. Xét về so sánh lực lượng
giữa Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam là nước
nhỏ so với TQ là nước lớn, trọng lượng
và ảnh hưởng chính trị rộng lớn hơn ta
nhiều đẩy mạnh phát triển kinh tế, để
cải thiện thế chính trị của ta trong cuộc
đấu tranh nhằm giải quyết các vấn đề
tranh chấp với TQ để bảo vệ lợi ích chính
đáng của ta.
V́ bên cạnh những chỗ mạnh so
với ta, trên mặt trận đối ngoại TQ có
những điểm yếu cơ bản mà ta có thể và
cần biết cách khai thác
để hạn chế TQ trong chính sách lấn ép ta trên
nhiều mặt. Những điểm yếu đó là
a) Để thực hiện ưu tiên
tối cao là đẩy nhanh hiện đại, TQ cần
Mỹ hơn là Mỹ cần TQ. Do đó tuy giữa
Mỹ–TQ có đấu tranh và thoả hiệp, nhưng rơ
ràng TQ ngại phản ứng của Mỹ, không dám thách
thức Mỹ trong khi thế và lực của TQ c̣n có
hạn. Thế giới cũng như các nước khu
vực đều coi Mỹ là đối trọng có
hiệu quả nhất trong việc kiềm chế TQ. Cũng
v́ thế TQ rất không
muốn Mỹ cải thiện quan hệ và đi tới b́nh
thường hoá quan hệ với VN.
b) Trong lúc chưa xây dựng được
lực lượng kinh tế cũng như quân sự
đủ mạnh, TQ rất ngại các khu vực ĐNÁ–đối
tượng bành trướng trước mặt của
TQ–liên kết với nhau, đặc biệt là giữa
ASEAN và VN, thành thể “quần lang đấu hổ”
chống lại nguy cơ
chung. Chính v́ vậy mà TQ đang t́m mọi cách lôi kéo phân
hoá ĐNÁ thành những mảnh riêng biệt, thậm chí
có thể chống đối nhau.
c) Trước xu thế mạnh mẽ
của chung trên thế giới và trong khu vực muốn có
ổn định để tập trung ganh đua phát
triển kinh tế, TQ rất ngại bị dư luận
quốc tế, trước hết là dư luận khu
vực, coi là “nhân tố gây mất ổn định”
ở Châu Á–TBD và
thế giới . Cuộc vận động của Mỹ,
Nhật, nhất là ASEAN, nhằm từng bước thúc
đẩy việc h́nh thành một diễn đàn và
tiến tới một cơ chế về an ninh tập
thể khu vực Châu Á–TBD hiện nay chính là nhằm
kiềm chế TQ.
2. Để có thể tận dụng
những điểm yếu của TQ vào việc cải
thiện thế chính trị trong cuộc đấu tranh không
cân sức này, ta nhất thiết cần phải chọn
lựa và h́nh thành một chiến lược đối
ngoại hết sức linh hoạt phù hợp với
chiều hướng diễn biến chung của chính
trị và kinh tế thế giới, thích ứng với
những đặc điểm lớn của cục
diện quốc tế hiện đại. Cuộc đấu
tranh chống lại những thách thức đe dọa
của đối tượng đặc biệt này là
một nhiệm vụ hết sức thúc bách, đ̣i
hỏi những biện pháp tổng hợp song diễn ra
trên mặt trận ngoại giao là chính.
Với sự kết thúc trạng thái
thế giới phân thành 2 cực đối đấu
nhau, do tính tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng
giữa các nước trên toàn cầu và trong mỗi khu
vực, việc không ngừng mở rộng quan hệ
quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa
dạng hoá để hoà nhập vào đời sống
chung của cộng đồng quốc tế là rất
quan trọng cả về chính trị lẫn kinh tế.
Đồng thời trong bối cảnh quốc tế
hiện nay, an ninh của một nước tuỳ
thuộc rất lớn và trước hết vào mối
quan hệ quốc tế và khu vực của ta vừa qua
cho thấy việc xử lư tốt mối quan hệ
với các nước lớn là cực kỳ quan trọng
đối với lợi ích an ninh và phát triển của nước ta. Kinh
nghiệm xương máu của dân tộc ta trong những
thập kỷ qua cho thấy cần có chính sách quan hệ cân bằng giữa các nước
lớn, và tuyệt đối không để bên ngoài
hiểu là VN có ư đồ đi với nước
lớn này chống nước nọ, gắn lợi ích
của ta với lợi ích an ninh và phát triển của các
nước láng giềng trong khu vực để tạo
cho nước ta một thế quốc tế thuận
lợi hơn.
3. Những trọng điểm trong
chiến lược đối ngoại của ta phải là
các nước lớn trong tam giác chiến lược Châu
Á–TBD và khối các nước ASEAN, những nhân tố có
khả năng tác động nhiều tới TQ.
a) Với Mỹ:
Quan hệ với Mỹ là một bộ
phận quan trọng chính sách đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại của ta. Hiện nay Mỹ là nhân
tố duy nhất có khả năng làm đối trọng
và kiềm chế TQ, do đó ta cần kiên tŕ và quyết
tâm kéo Mỹ đi vào b́nh thường hoá quan hệ. Kéo
Mỹ vào để Mỹ có lợi ích trực tiếp
ở VN, nhất là lợi ích trong lĩnh vực dầu khí
ngoài khơi VN, khiến Mỹ không thể làm ngơ trước
t́nh h́nh “bất ổn định” do TQ khiêu khích, xâm
lấn gây ra. Một nhà nghiên cứu Mỹ về Châu Á
đă đánh giá “một dàn khoan của Công ty Mobil Oil
(Mỹ) ở biển Đông có giá trị ngang với
cả một Hạm đội 7”.
Thúc đẩy b́nh thường hoá quan
hệ với Mỹ trước hết là việc bỏ
cấm vận có ư nghĩa rất quan trọng đối
với yêu cầu an ninh, ổn định và phát triển
kinh tế của ta, giúp ta cải thiện với các đối
tượng khác và tạo thêm điều kiện
thuận lợi cho ta đối phó với các thách
thức hiện nay. Triển khai mạnh mẽ quan hệ với Mỹ cũng như với các
đối tượng khác không phải để tạo
một tập hợp lực lượng chống TQ v́
điều đó trái với phương châm đối
ngoại “làm bạn với tất cả” của ta, cũng
không phù hợp với các tính toán chiến lược
của Mỹ cũng như của các nước khác.
Việc ta xin giữ hoà khí với TQ
vừa có quan hệ b́nh thường với Mỹ và thúc
đẩy quan hệ với Nhật, phương Tây và
ASEAN và các nước khác sẽ tạo ra cho ta thế
mạnh trong quan hệ cân bằng với các đối tượng.
Trong t́nh h́nh hiện nay việc hợp tác
giải quyết tốt vấn đề POW/MIA là khâu
thiết yếu để tháo gỡ trở ngại cho quan
hệ Việt–Mỹ. Đồng thời đẩy
mạnh công tác vận động trong nội bộ
Mỹ (lobby) với khẩu hiệu có tính sách lược
để tranh thủ dư luận Mỹ thúc đẩy
Mỹ sớm bỏ cấm vận, thu hút các công ty Mỹ
vào làm ăn ở VN vừa tạo áp lực vừa
tạo điều kiện cho chính quyền Mỹ đi vào
b́nh thường hoá với ta sớm nhất. Mặt khác
ta cần quan tâm có chủ trương, chính sách và
biện pháp thích đáng để vô hiệu hoá ư đồ
của Mỹ và các nước phương Tây dùng
vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để gây
sức ép với ta.
Song song với các bước cải
thiện quan hệ VN và Mỹ, cần kết hợp
mở rộng đường lối “hoà hợp dân
tộc” bằng những chính sách cụ thể đối
với Việt kiều ở Mỹ và các nước khác
nhằm chuyển họ thành những lực lượng
mạnh mẽ hỗ trợ cho công cuộc hiện đại
hoá nền kinh tế và KHKT[1]
của nước nhà. Việc làm mày tất nhiên sẽ tác
động trở lại đối với việc tăng
cường quan hệ hợp tác của ta với Mỹ và
các nước có người Việt sinh sống.
b) Với ASEAN:
ASEAN hiện được coi là tổ
chức khu vực có sức sống mạnh nhất mà các
nước lớn, trong đó có TQ, phải tính đến
trong chính sách Châu Á–TBD của họ. Giữa ta và các nước
ASEAN có nguyện vọng chung là hoà b́nh, ổn
định và phát triển, đồng thời cùng
phải lo đối phó với thách thức bên ngoài,
từ TQ và Nhật Bản. Tăng cường hợp các
khu vực vừa phù hợp với xu thế hiện nay
vừa tạo thế cho ta trong quan hệ với các nước
lớn ngoài khu vực, nhất là TQ.
Để thúc đẩy quan hệ này,
ngoài việc tăng cường quan hệ song phương
bằng các biện pháp xây dựng ḷng tin, cần sớm
gạt những tồn tại trong quan hệ tay đôi
giữa ta và một số nước ASEAN qua việc
hợp tác giải quyết vấn đề vùng chống
lấn với Inđônêxia,
Malaysia, Thái Lan…, cần có các bước đi mạnh
mẽ tham gia các cơ chế hợp tác khu vực v́ an
ninh và phát triển phù hợp với khả năng và
lợi ích của ta; đặc biệt là cần tích
cực tham gia quá tŕnh trao đổi về cơ cấu an
ninh khu vực và sớm
tham gia ASEAN. Nói chung, ta cần tích cực chủ động
tăng cường các điểm đồng giữa ta và
các nước ASEAN, xử lư khéo léo những khác
biệt.
c) Với các nước và các đối
tượng khác, đặc biệt là với Nhật
Bản, Nga, Cộng đồng Châu Âu…
nbsp; Ta cần tiếp tục tăng cường quan hệ
hợp tác về nhiều mặt nhằm tận dụng
tối đa khả năng hợp tác kinh tế, KHKT, kinh
nghiệm quản lư của các nước này cho các công
cuộc phát triển đất nước và qua đó góp
phần tạo thế cân bằng lực lượng có
lợi ích cho ta ở khu vực, tranh thủ tập hợp
dư luận rộng răi hỗ trợ cho cuộc đấu
tranh bảo vệ chủ quyền, lănh thổ của ta,
tạo nên một mạng lưới lợi ích kinh
tế–chính trị che chắn thêm cho ta trước mưu
đồ xâm lấn của TQ.
d) Với TQ:
- B́nh thường hoá với TQ là một
yêu cầu chiến lược của ta. Do TQ thi hành chính
sách 2 mặt nên đối sách của ta cũng gồm 2
mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa
chủ động thúc đẩy quan hệ trên cơ
sở những thoả thuận đă đạt được,
vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền lănh
thổ đồng thời giữ vững phươn châm
không để trở lại t́nh trạng đối đầu
với TQ cũng như không đặt các nước trước
sự lựa chọn hoặc VN hoặc TQ. Biện pháp
tối ưu lúc này là chủ động tạo nên
cục diện các nước lớn và ASEAN có lợi ích
kinh tế, an ninh ngày càng lớn trong quan hệ với VN.
Cục diện đó cộng với sự lớn mạnh
càng nhanh càng tốt của bản thân chúng ta sẽ là
sự răn đe có hiệu quả nhất đối
với mọi hoạt động lấn chiếm của
TQ.
- Kiên quyết đấu tranh hạn
chế ư đồ lấn chiếm của TQ ở biển
Đông, đặc biệt ở vùng thềm lục địa
của ta; áp dụng các biện pháp khôn khéo nhưng có
hiệu quả ngăn chặn hoạt động của
TQ mà không dẫn đến đối đầu về quân
sự.
- Xúc tiến việc xác định
phạm vi của quần đảo Trường Sa để
xem xét khái niệm “khai thác chung”, phá ư đồ TQ
lợi dụng vấn đề này chia rẽ phân hoá
giữa ta và ASEAN.
- Chuẩn bị khả năng đưa
ra toà án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế
vấn đề Trung Quốc vi phạm thềm lục
địa của ta.
- Đến một lúc nào đó ta nên tính
đến khả năng mở cảng Cam Ranh thành một
thương cảng cho các tàu quốc tế ra vào, kể
cả tàu Mỹ, tạo sự có mặt của nhiều
quốc gia ở khu vực biển Đông, ngăn ư đồ
độc chiếm của một nước. Song tất
nhiên ta phải có chính sách và luật pháp chặt chẽ
để bảo đảm chủ quyền và an ninh
quốc gia