Trong 4 đối tượng có thể tạo nên nguy cơ đe dọa ta, có những nước lớn cỡ toàn cầu hoặc khu vực như Mỹ, TQ, Nhật; riêng Thái Lan là nước ngang tầm với ta nên mức độ thách thức đối với ta không so được với các nước lớn. Trong các dạng thách thức khác nhau của cả 4 đối tượng, có nhiều điều mới trên cơ sở giả định hoặc dự pḥng để cảnh giác, song có những điều đang là hiện thực, đang là những vấn đề thực tế và thúc bách đặt ra trước mắt ta. V́ vậy với khả năng rất hạn hẹp về mọi mặt của ta, ta cần phân biệt rơ đâu là nguy cơ lớn nhất trực tiếp đe dọa những lợi ích sống c̣n của dân tộc VN để tập trung trí lực và vận dụng cao độ sách lược đối ngoại đối phó lại. Trước hết chắc chắn đó không phải là Nhật hay Thái Lan. Đó chỉ có thể là Mỹ hay TQ .
1 Chiến lược của Mỹ và ư
đồ của Mỹ đối với VN:
Sau sự tan ră của LX và sự
kết thúc chiến tranh lạnh, Mỹ gặp phải
nhiều thách thức hơn là cơ hội. Thách thức
bởi những vấn đề kinh tế–xă hội
cấp bách trong nước, thách thức bởi những
đối thủ vốn là đồng minh cũ của
Mỹ trong chiến tranh lạnh như Nhật, EC. V́
vậy mục tiêu chiến lược của Mỹ
phải điều chỉnh lại một cách thực
tế và khiêm tốn hơn: cố gắng duy tŕ vị trí
số một trên thế giới và ở Châu Á–TBD,
hiện đang trở thành vũ đài chính của
thế giới. Trước thách thức ngày càng lớn
của các trung tâm kinh tế phương Tây, việc xoá
CNXH ở Châu Á chưa phải là ưu tiên hàng đầu
của Mỹ hiện nay.
Khoảng cách về so sánh lực lượng
giữa Mỹ và các cường quốc khác không c̣n quá
lớn như trước để thực hiện
được mục tiêu chiến lược, phương
hướng của Mỹ chủ yếu là tạo một
cân bằng lực lượng giữa các đối
thủ có tiềm năng đe dọa vị trí số
một thế giới của Mỹ, dùng đối
thủ này kiềm chế đối thủ kia, thông qua
hợp tác để kiềm chế các đối thủ,
tăng cường vai tṛ các thể chế quốc tế
(như LHQ) trong việc xử lư các xung đột khu
vực, tạo thành một thế ổn định chung có
lợi cho Mỹ.
Mỹ đang cô lập nên trật tự khu vực
mới trên cơ sở tam giác chiến lược mới
Mỹ–Nhật–Trung thay cho tam giác Mỹ–Xô–Trung ngày trước,
trong đó Mỹ vừa tranh thủ và hợp tác với
TQ mà chủ yếu là với Nhật, vừa cảnh
giác kiềm chế cả hai, chủ yếu là TQ.
Riêng với TQ,
Mỹ rất coi trọng vai tṛ của đất nước
có hơn 1 tỷ dân này trong kế hoạch tạo lập
một trật tự quốc tế mới. Mỹ cần
thúc đẩy và tranh thủ sự hợp tác của TQ
trong nhiều vấn đề nhất là trong việc
xử lư các cuộc xung đột khu vực .
Mỹ không thể khuyến khích
hoặc làm ngơ để TQ tự do bành trướng
xuống ĐNÁ. Trong chiến lược Châu Á–TBD
của Mỹ, chính quyền Clinton đă tỏ ra coi
trọng vai tṛ ĐNÁ hơn trước. Có thể v́
đây là một vùng khá năng động về phát
triển kinh tế, đồng thời lại có một cơ
chế tiểu khu vực có sức sống và gắn bó
với lợi ích kinh tế của Mỹ. Song mặt khác
v́ đây là hướng bung ra của TQ trong ư đồ
lấp “khoảng trống quyền lực” sau khi LX tan
ră và Mỹ thu bớt sự có mặt quân sự ở
ĐNÁ. Lợi ích của Mỹ là tạo ra được
ở đây một ĐNÁ ổn định và đủ
mạnh để cản bước TQ trong chiến lược
“biên giới mềm” và “mở rộng không gian sinh
tồn”. Ư đồ của Mỹ là từng bước
thúc đẩy việc mở rộng ASEAN thành một
tổ chức chung cho cả 10 nước ĐNÁ, có
khả năng trở thành một đối trọng đáng
kể đối với TQ bảo đảm ổn định
khu vực. Trong kế hoạch tạo lập một cơ
chế an ninh khu vực của Châu Á–TBD, Mỹ, Nhật
và phương Tây nói chung đều đă lấy ASEAN
làm cốt lơi về tổ chức. Hội nghị thường
niên giữa ASEAN và 6 nước đối tác đang
trở thành diễn đàn trao đổi về an ninh khu
vực Châu Á–TBD. Nga cũng tỏ thái độ ủng
hộ phương hướng này. Riêng TQ không mặn mà.
Vậy có khả năng Mỹ đồng
t́nh hay câu kết với TQ chống VN không? Trước
đây Mỹ và TQ hợp lực chống VN trong vấn
đề CPC là v́ cả 2 cùng có yêu cầu chung là đánh
vào LX và xoá bỏ ảnh hưởng của LX ở ĐNÁ.
Nay LX đă sụp đổ, thế chiến lược
ở Châu Á–TBD đă thay đổi, nếu Mỹ
lại đi với TQ chống VN th́ chẳng khác ǵ là
đẩy VN vào t́nh thế hoặc chủ động liên
minh với TQ hoặc phải khuất phục trước
sức mạnh của TQ, từ đó tạo điều
kiện cho TQ từng bước khống chế cả
ĐNÁ một cách dễ dàng và nhanh chóng trở thành
một trong những đối thủ đe dọa vị
trí số 1 của Mỹ trên toàn cầu. Điều này
hoàn toàn ngược lại mục tiêu chiến lược
của Mỹ.
Mặt khác, một nước VN đổi
mới, độc lập với Nga, TQ, cũng như không
chịu sự chi phối của Nhật, cải thiện
quan hệ và hoà nhập với các đồng minh của
Mỹ ở ĐNÁ là phù hợp với lợi ích của
Mỹ về hoà b́nh, ổn định, nhằm duy tŕ
ảnh hưởng của Mỹ và hạn chế các thách
thức nổi lên đối với vị trí của
Mỹ ở khu vực. VN tuy không có một vị trí quan
trọng trong chiến lược toàn cầu của
Mỹ, nhưng VN vẫn là một nhân tố mà Mỹ không
thể không tính đến trong chiến lược
của Mỹ ở Châu Á–TBD và ĐNÁ. Hơn nữa
về kinh tế Mỹ có lợi ích tranh thủ thị trường
và nguồn nguyên liệu của VN. Mỹ không muốn
vắng mặt trong khi các đối thủ của Mỹ
đi mạnh vào thị trường VN.
Bên cạnh những lợi ích có
phần nào trùng hợp với ta như trên, mặt tiêu
cực trong chính sách của Mỹ đối với ta không
nhỏ. Mỹ không thể từ bỏ ư đồ
diễn biến hoà b́nh với ta. Tuy nhiên Mỹ có làm
được hay không chủ yếu c̣n tuỳ thuộc vào
khả năng giữ vững ổn định chính
trị trong nước của ta, tức là tuỳ
thuộc vào bản lĩnh chính trị của Đảng
ta và sự vững vàng cảnh giác của cán bộ và nhân
dân ta và sự gắn bó giữa dân với Đảng.
Ở đây nhân tố vững mạnh bên trong có ư nghĩa
quyết định. Thắng lợi của công cuộc
Đổi mới, sự ổn định về kinh
tế–xă hội ở nước tavà việc không
ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng trong quá tŕnh đa
dạng hoá và mở rộng quan hệ quốc tế
sẽ là đảm bảo tốt nhất hạn chế tác
động của mọi thủ đoạn diễn
biến hoà b́nh. Mặt khác cũng phải thấy rơ không
phải Mỹ tập trung chống phá VN với bất
cứ giá nào v́ Mỹ có những ưu tiên chiến lược
lớn hơn và hơn nữa hiện nay Mỹ là đang
có những lợi ích trùng hợp với ta ở khu
vực mà ta có thể tranh thủ lợi dụng để
phục vụ hữu hiệu cho mục tiêu chiến lược
của ta.
2. Chiến lược của TQ và ư đồ
TQ đối với VN:
Trái với Mỹ, TQ thấy ở
những biến đổi lớn trong cục diện
thế giới ngày nay, một “cơ hội ngàn năm có
một”. Đối với TQ cơ hội đang tăng
lên, c̣n thách thức giảm đi. Trong khi Mỹ cảm
thấy cần co bớt lại để củng cố và
pḥng ngự là chính th́ TQ nuôi tham vọng lớn là
muốn vươn lên trở thành 1 cực trong trật
tự thế giới đa cực mới. Trong khi hiện
đại hoá trên 4 mặt vẫn là cứu cánh chính
để thực hiện mục tiêu đó, TQ không
ngừng tranh thủ mọi cơ hội có được
để thực hiện kế hoạch bành trướng,
gây mất ổn định cho nước khác hoặc
lợi dụng t́nh trạng mất ổn định
của nước khác (CPC, Myanmar) để mưu lợi
cho ḿnh. Do hiện nay thế cũng như lực chưa
đủ mạnh, nên họ thực hiện ư đồ
một cách tính toán thận trọng tuỳ theo diễn
biến của t́nh h́nh khu vực, phản ứng của các
đối thủ và thực lực của chính họ.
Trước mắt TQ đang ra sức
thực hiện ư đồ nhanh chóng trở thành 1 cường
quốc ở Châu Á–TBD, có địa vị ngang hàng
với Mỹ, Nhật ở khu vực này. TQ đặt
mục tiêu lấn chiếm toàn bộ biển Đông
ở vị trí ưu tiên hàng đầu. TQ coi trọng
vị trí chiến lược của biển Đông v́
kiểm soát được biển Đông tức là
khống chế được cả ĐNÁ và cả con
đường giao lưu huyết mạch từ Thái B́nh
Dương qua Ấn Độ Dương, và cũng là
khu vực giàu tài nguyên nhất là dầu khí (trữ lượng
dầu ở khu vực này ngang Vịnh Ba Tư[1])
mà TQ đang cần để đẩy nhanh tốc độ
phát triển.
Đáng chú ư là trong khi TQ mở một
chiến dịch hoạt động ngoại giao rộng
lớn nhằm tranh thủ tăng cường quan hệ
hợp tác phát triển với tất cả các nước
công nghiệp hoá phương Tây, tranh thủ các nước
đang phát triển và không liên kết ḥng khôi phục
vai tṛ lănh đạo thế giới thứ ba, cải
thiện quan hệ với các nước láng giềng cùng
chung biên giới, đặc biệt là gần đây tăng
cường lôi kéo các nước khu vực ĐNÁ để
phá thế “quần lang đấu hổ”, th́ TQ luôn
tập trung mũi nhọn gây sức ép và lấn dần
VN trên mọi vấn đề, mặc dù ta đă dùng
đủ phương sách để tỏ thái độ
cầu hoà và hữu hảo với họ. Phải chăng
v́ TQ cho rằng VN là điểm yếu và dễ tính để
lấn nhất lúc này (khó về quân sự, nghèo về
kinh tế, đơn độc về chính trị) mà
lại chiếm một vị trí chiến lược quan
trọng ở ĐNÁ và là trở ngại lớn nhất
cho kế hoạch biển Đông của TQ.
Những hoạt động bất
lợi đối với VN của TQ sẽ không dừng
lại ở trạng thái hiện nay mà sẽ c̣n
được tiếp tục đẩy tới v́ TQ cho
rằng t́nh thế hiện tại đang rất thuận
lợi cho việc TQ lấn ép VN mà chỉ gặp phải
phản ứng quốc tế ở mức thấp nhất
v́ Mỹ chưa bỏ cấm vận VN; quan hệ hợp
tác, đầu tư giữa các nước và VN c̣n chưa
phát triển; vấn đề CPC đang c̣n thu hút
nhiều sự chú ư của dư luận quốc tế; cơ
chế an ninh khu vực Châu Á–TBD chưa h́nh thành. TQ đặt
năm 1997 thành một mốc thời gian quan trọng trong
quá tŕnh xây dựng sức mạnh mọi mặt của
TQ: năm 1997 là năm TQ thu hồi Hồng Kông và cũng có
thể là năm thực hiện một bước kế
hoạch h́nh thành “vành đai kinh tế Đại Trung
Hoa” bao quanh ĐNÁ; năm 1997 là năm quân đội TQ
sẽ được trang bị hàng không mẫu hạm và
các trang bị tối tân khác, đặc biệt về
hải không quân để có thể vươn ra khắp
biển Đông; có tin TQ đang cố rút ngắn mục
tiêu của năm 2000 xuống năm 1997 sẽ tăng
tổng sản phẩm quốc dân lên gấp
4 lần. Sức ép của TQ đối với ta
sẽphát triển thuận chiều với sự phát
triển các mặt của TQ..
3. Những phân tích t́nh h́nh trên đây có
thể dẫn đến kết luận:
Trước mắt cũng như trong tương
lai dư báo được, TQ là nguồn xuất xứ chính
của những thách thức đe dọa đối
với chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ, cũng
như đối với an ninh và phát triển của VN.
Những thách thức đe dọa trên nhiều mặt
của TQ đối với ta đều đang là
những vấn đề hiện thực, đang xảy
ra và ta đang phải xử lư, khác với những thách
thức đe dọa của các đối tượng khác,
kể cả Mỹ, có phần nào c̣n là giả định
và dự pḥng. Nhưng mâu thuẫn và lợi ích trên các
mặt giữa ta với TQ có nhiều hơn đối
với các đối tượng khác.
[1] Persian gulf giữa Saudi Arabia, United Emirates và Iran