Những thách thức đe dọa an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu và dưới những dạng nào?

Hơn 2 năm qua kể từ Đại hội Đảng lần thứ 7, trên cơ sở những thành tựu trong công cuộc Đổi mới trong nước, việc triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá quan hệ theo hướng “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu v́ hoà b́nh, độc lập và phát triển”, chúng ta đă cải thiện một bước đáng kể vị trí nước ta trên quốc tế. Quan trọng nhất là ta đă phá được một bước quan trọng thế bị cô lập về chính trị trong môi trường quốc tế, thuận lợi hơn cho việc giữ vững hoà b́nh và đẩy mạnh phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, trong t́nh h́nh quan hệ đối ngoại của ta đă bị đảo lộn ghê gớm với sự tan ră của hệ thống các nước bạn bè ở Liên Xô và Đông Âu th́ những kết quả này mới chỉ là bước đầu và chưa thật vững chắc. Về chính trị, ta chưa tạo được một hậu thuẫn quốc tế thay thế chừng nào cho những chỗ dựa truyền thống mà ta vừa mất đi. Về kinh tế, đất nước ta c̣n ở t́nh trạng lạc hậu về kinh tế, KHKT so với nhiều nước trong khu vực và chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế–xă hội. Ngày nay quan hệ giữa ta và các nước chủ yếu dựa trên cơ sở lợi ích tương đồng, trên từng mặt, từng vấn đề; hoàn toàn khác với phương thức tập hợp lực lượng truyền thống trước đây và đối với bất cứ đối tác nào cũng đều có hai mặt hợp tác và đấu tranh rất phức tạp. Trong khi đó, những đe dọa thách thức đă và đang nảy sinh từ những phía khác nhau, trước mắt và trong tương lai gần.

Trên cơ sở dự báo chiến lược, những đối tượng chính trước mắt hoặc sau này có thể tạo nên những đe dọa thách thức chủ yếu đối với sự nghiệp an ninh và phát triển của ta là: Trung Quốc, Mỹ, Nhật và Thái Lan.

Sau đây là những dạng thách thức đe dọa mà mỗi đối tượng có thể gây ra đối với ta:

 1.  Trung Quốc: Sau hơn 1 năm b́nh thường hoá, quan hệ Việt–Trung có nhiều mặt được thúc đẩy như trao đổi đoàn qua lại, mở một số cửa khẩu, buôn bán biên giới… Song mặt tiêu cực và hạn chế đang nổi lên, nhiều hiệp định đă kư kết và nhiều thỏa thuận ở cấp cao chưa được thực hiện. Đặc biệt từ đầu năm 1993, TQ dùng nhiều biện pháp tổng hợp để tăng sức ép và tạo thêm nhiều khó khăn cho ta, gây t́nh h́nh không ổn định cho ta cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm làm chậm đà phát triển kinh tế của ta và ḱm hăm việc mở rộng quan hệ đối ngoại của ta trước hết là ở khu vực ĐNÁ và Châu Á–TBD. Những thách thức và đe dọa của Trung Quốc đối với ta đang được thể hiện ngày càng rơ nét dưới các dạng chính sau đây:
  a.  Xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của ta trên bộ và trên biển: trong khi trên bộ, TQ không có dấu hiệu nào muốn giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lại c̣n làm xấu thêm t́nh h́nh (xâm canh xâm cư, xây kè cống làm thay đổi ḍng chảy  các sông suối biên giới có lợi cho TQ, lấn sang phía ta) th́ trên biển TQ liên tiếp có những bước leo thang nghiêm trọng từ tranh chấp ngoài biển Đông, TQ đă từng bước ngày càng lấn sâu vào thềm lục địa, ngay trong khu vực ta đă phân lô kư kết với các công ty nước ngoài và đang thăm ḍ khai thác dầu khí (đầu tháng 5/93 TQ cho tàu “FENDOU 4” vào thăm ḍ địa chấn ở khu vực lô 6 nằm sâu trong thềm lục địa của ta) bộc lộ ư đồ biến một số khu vực trong thềm lục địa của ta thành vùng tranh chấp, đang chuẩn bị dư luận để đưa đảo Bạch Long Vĩ vào diện tranh chấp.
  b.   Phá môi trường quốc tế ḥa b́nh ổn định của VN với những hoạt động: ở CPC, thông qua Khơ–me đỏ khuấy động vấn đề người VN ở CPC đồng thời làm cho t́nh h́nh CPC khó đi vào ổ định; lôi kéo 3 nước (Thái, Miến, Lào) thành một cụm liên kết kinh tế ở ĐNÁ lục địa thượng lưu sông Mê Kông gắn với TQ, tách rời VN, khủng hoảng biển Đông kéo dài cũng có tác động phá môi trường phát triển của VN.
  c.   Gây mất ổn định chính trị, kinh tế bên trong VN: nêu trở lại “vấn đề người Hoa”, đẩy số người Hoa đă bỏ về TQ từ những năm 78,79 trở lại VN; thông qua Khơ–me đỏ dồn đuổi Việt kiều ở CPC về nước; gây sức ép với Hồng Kông đưa toàn bộ số thuyền nhân ở đó về VN trước năm 1997; để hàng lậu từ TQ tuồn vào VN qua con đường tiểu ngạch bán hàng vào VN với giá rất rẻ gây rối loạn thị trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất ở nước ta.
  d.   Ḱm hăm phát triển kinh tế đối ngoại của VN: tiếp tục bắt giữ tàu thuyền của ta (số lượng nhiều hơn 1992: 28 chiếc); chống việc ICAO[1] trả lại vùng FIR Hồ Chí Minh cho VN.

 2.  Mỹ có thể thách thức đe dọa an ninh và phát triển của VN qua các dạng:

  a.   Mỹ là nước lớn duy nhất hiện nay chưa b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam và c̣n tiếp tục chính sách cấm vận gây trở ngại cho các tổ chức quốc tế (Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới … ) và các nước khác trong việc viện trợ tài chính và hợp tác với ta phát triển kinh tế.
  b.  Tiến hành diễn biến hoà b́nh: thông qua những cái gọi là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ép ta đa nguyên, đa đảng; kích động các vấn đề tôn giáo, dân tộc thiểu số để gây t́nh h́nh phức tạp làm mất ổn định chống ta.
  c.  Nuôi dưỡng những phần tử phản động hoặc thoái hoá biến chất c̣n lại ở VN và các lực lượng phản động người Việt đang ở nước ngoài khi có điều kiện thuận lợi th́ gây bạo loạn, lật đổ như đă làm ở một số nước.

 3.  Nhật Bản trước mắt là một đối tượng hợp tác chính của ta để thực hiện yêu cầu phát triển nhanh kinh tế VN, song ta vẫn phải dự pḥng về lâu dài những khả năng xấu từ phía Nhật:

   -   Trước hết là cùng với việc tăng cường đầu tư viện trợ, Nhật sẽ từng bước thao túng kinh tế VN và đưa VN và cả ĐNÁ vào quĩ đạo Nhật Bản phục vụ cho tham vọng bá quyền khu vực và thế giới của Nhật Bản về kinh tế cũng như về chính trị.
   -   Mặt khác, cùng với tham vọng về chính trị và kinh tế được thực hiện từng bước, chủ nghĩa quân phiệt Nhật có thể được phục hồi nhằm trở thành 1 siêu cường toàn diện ở khu vực và trên thế giới. Nguy cơ này sẽ có hậu quả trực tiếp tới khu vực Đông Á trong đó có VN.

 4.  Thái Lan hiện là một bộ phận của ASEAN mà ta đang tích cực tranh thủ hợp tác cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng chủ nghĩa “Đại Thái” xưa nay là nguy cơ truyền thống đối với an ninh và phát triển của VN, hiện vẫn tồn tại và đầy tham vọng.

Thái luôn coi VN là một đối thủ tiềm tàng về kinh tế cũng như về chính trị. V́ vậy thách thức của Thái đối với ta có thể đến từ hai phía:

   -   Về kinh tế, Thái có lợi ích kiềm chế nhịp độ phát triển của VN (vấn đề Uỷ ban Mê Kông, FIR[2] Hồ Chí Minh), đồng thời tận dụng được VN như một thị trường tiêu thụ hàng Thái và một nguồn cung cấp nguyên liệu (lâm sản, hải sản, khoáng sản).
   -   Về chính trị, quân sự Thái có lợi ích biến Lào và CPC từ những đồng minh của VN thành vùng chịu ảnh hưởng Thái nhiều hơn. Đồng thời Thái vẫn có thể cung cấp căn cứ địa cho các lực lượng phản động VN thâm nhập phá hoại nội địa ta

[1] International Civil Aviation Organization (Tổ chức hàng không dân sự quốc tế)
[2] HCM Flight information regions (Phía Nam đảo Hải Nam)