Sau 12 năm ḍng dă, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đă kết thúc và đă trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn c̣n đó, vẫn c̣n có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thỏa thuận giữa hai bên, ngày 5.11.1991, tổng bí thư Đỗ Mười và thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă có cuộc đi thăm chính thức nước CHND Trung Hoa, đánh dấu sự b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước. “Quan hệ Việt–Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt–Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ những năm 50–60…”
Tuy nhiên sau khi b́nh thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lănh thổ trên bộ vùng biên giới (Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91, 4, 5/92; Lục Lâm, Quảng Ninh tháng 5/92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc kư kết hợp đồng thăm ḍ khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (băi Tư Chính).
V́ sao Trung Quốc tăng cường
lấn ép ta vào thời điểm này? V́ Trung Quốc cho
rằng t́nh h́nh lúc đó đang thuận lợi cho
họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng
thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ
thử bom 1000–kilotons, thi hành chiến lược “biên
giới mềm”) nhằm tạo cho ḿnh một vị
thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước
lớn khác, trong đó có ư đồ gấp rút biến
biển Nam Trung Hoa thành vùng biển độc chiếm
của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn
bộ vùng Đông Nam Á:
1. Trật tự thế giới cũ không
c̣n, trật tự thế giới mới chưa h́nh thành.
Các đối thủ chính của Trung Quốc ở Châu Á–Thái
B́nh Dương đều đang gặp khó khăn. Liên Xô
vừa tan ră, Liên bang Nga trước mắt chưa
phải là thách thức đáng kể. Mỹ đang
giảm bớt sự có mặt về quân sự ở Châu
Á–Thái B́nh Dương tránh can thiệp nếu lợi ích
của Mỹ và đồng minh không bị đụng
đến.:
2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá
tŕnh nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm
nước đối đầu cũ. Triển vọng liên
kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi
đối với ư đồ bá quyền của Trung
Quốc, đang c̣n có những trở ngại (nghi ngờ
nhau do khác ư thức hệ, va chạm lợi ích, ư đồ
của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đ̣i
hỏi thời gian khắc phục. Trung Quốc muốn
tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế
hợp tác khu vực giữa Đông Dương chủ
yếu là Việt Nam, và ASEAN, tạo ra một tập
hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông
Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khơ–me đỏ
ở CPC và Lào nếu có thể) để khuất
phục Việt Nam.
3. Bản thân Việt Nam c̣n đang lúng túng
về những vấn đề chiến lược
(vấn đề đồng minh, vấn đề tập
hợp lực lượng, vấn đề bạn–thù)
trong t́nh h́nh mới sau khi Liên Xô tan ră, quan hệ với
Mỹ chưa b́nh thường hóa, Trung Quốc muốn
đi vào b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam
trên thế mạnh.
V́ vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề ngoài thân mật gắn bó Trung–Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho ḿnh trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm mục tiêu khẳng định Việt Nam–Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
Ngày 29/11/1993, tại cuộc họp Trung
ương thứ 6 khoá VII để nhận định t́nh
h́nh và bàn về phương hướng tới, dự tính
trước việc tôi sẽ xin rút khỏi Trung ương,
tôi đă tranh thủ nói rơ quan điểm của tôi trước
phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng
tŕnh bày những suy nghĩ của ḿnh về “Thời cơ
và Thách thức”. Tôi cho rằng cục diện mới lúc
này có mặt thuận lợi là làm nảy sinh những xu
thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà
nhập vào đời sống kinh tế–chính trị
quốc tế của ta, đang
tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà b́nh
và phát triển của nước ta. Đó là:
1. Ngày 29/11/1993, tại cuộc họp Trung
ương thứ 6 khoá VII để nhận định t́nh
h́nh và bàn về phương hướng tới, dự tính
trước việc tôi sẽ xin rút khỏi Trung ương,
tôi đă tranh thủ nói rơ quan điểm của tôi trước
phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng
tŕnh bày những suy nghĩ của ḿnh về “Thời cơ
và Thách thức”. Tôi cho rằng cục diện mới lúc
này có mặt thuận lợi là làm nảy sinh những xu
thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà
nhập vào đời sống kinh tế–chính trị
quốc tế của ta, đang
tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà b́nh
và phát triển của nước ta. Đó là:
2. xu thế đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại, tăng cường ngoại giao đa
phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh
tế và an ninh tập thể.
3. xu thế giữ hoà b́nh ổn định
thế giới và khu vực nhằm đảm bảo môi
trường quốc tế thuận lợi cho tập trung
phát triển kinh tế.
4. xu thế liên kết khu vực kinh
tế và an ninh khu vực.
Đồng thời, cũng có những
thách thức lớn đối với an ninh và phát
triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên
ngoài:
a) thách thức bên trong là tệ nạn
tham ô và nhũng
nhiễu đang hủy hoại sức đề kháng
vật chất cũng như tinh thần của dân tộc
ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ
của ta đối với các thách thức bên ngoài
b) diễn biến hoà b́nh–một dạng
biểu hiện của mâu thuẫn Đông–Tây sau
chiến tranh lạnh.
c) Bá quyền bành trướng. Nguy
hiểm không kém diễn biến hoà b́nh, ở sát nách ta,
thể hiện lúc mềm lúc cứng dễ gây mơ
hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội
nghị hầu như không có ư kiến nào đề
cập tới v́ ngại đụng TQ, tuy là nói trong
nội bộ).
d) T́nh h́nh Campuchia c̣n đầy bất
trắc với Khơ–me đỏ, cộng với chủ
nghĩa dân tộc cực đoan của người
Campuchia.
Trên cơ sở nhận định
về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đă
đưa ra kiến nghị:
1. Cần nh́n tổng thể t́nh h́nh khách
quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức
với khả năng các mặt của ta để
chọn cách xử lư sát thực tế, vừa sức.
2. Trước hết xử lư thách
thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống
tham nhũng để bảo tồn và tăng cường
sức đề kháng pḥng ngừa thách thức bên ngoài.
3. Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông
Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu
chống nước nào.
4. Đối với các nước
lớn, hữu hảo không đối đầu nước
nào, nhưng đều phải giữ khoảng cách
nhất định.
5. Song song với việc kết bạn, không
lơ là việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn
luôn giữ giới hạn không gây nguy cơ mất ổn
định khu vực.
6. Tránh không làm ǵ có thể dồn hai
hoặc ba đối thủ câu kết lại với nhau
chống ta.
7. Những ư kiến trên đây có thể
dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này
của tôi, v́ phản ánh đầy đủ quan điểm
của tôi và cho đến nay (1999) xem ra nó chưa phải
là đă lỗi thời. Trước đấy ngày
14/6/1993, theo yêu cầu của Thường trực Bộ
Chính trị, tôi đă viết và ngày 20/6/1991 đă
gửi các đồng chí Thường trực BCT tài
liệu “Những thách thức đối với an ninh và
phát triển của ta. Một số kiến nghị đối
sách” (xem phụ lục Hồi ức), thẳng thắn nêu
ư kiến của ḿnh về mấy vấn đề
lớn: những thách thức, đe dọa đối
với an ninh và phát triển của có thể xuất
xứ từ đâu, dưới những dạng nào.