Đại hội VII
và
cái giá phải trả cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc.

Từ 17 đến 27/6/1991 ĐCS VN họp Đại hội lần thứ 7 đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, ủy viên thường trực Bộ Chính trị kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc pḥng–an ninh–ngoại giao; Vơ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà Nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức ủy viên Trung ương. C̣n Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao… (Thực ra những thay đổi về nhân sự trong Bộ Chính trị đă được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đă biết). Dư luận quốc tế xôn sao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản v́ vấn đề không chỉ là b́nh thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.

Trước hết vấn đề đặt ra là ai sẽ thay anh Thạch giữ chức bộ trưởng ngoại giao? Từ đầu tháng 7, tôi đă nhiều lần được triệu tập lên gặp TBT Đỗ Mười và Trưởng ban Tổ chức trung ương Lê Phước Thọ (người thay Nguyễn Đức Tâm), để được thông báo và đă thông về dự định đưa tôi làm bộ trưởng ngoại giao. Sáng ngày 10/7/91, thấy tôi từ chối, Đỗ Mười đă hiểu lầm tưởng tôi không nhận v́ chưa được vào Bộ Chính trị như Bùi Thiện Ngộ (người thay Mai Chí Thọ làm bộ trưởng bộ Nội Vụ) nên hứa sẽ giải quyết chuyện đó sau. Tôi nói chỉ v́ lư do “sức khoẻ” mà tôi không nhận. “45 năm nay tôi liên tục công tác, cố gắng làm tốt các công việc được giao, không từ nan. Song lần này không thể nhận. Tôi chỉ có nguyện vọng là làm nốt công việc thứ trưởng ngoại giao. Đề nghị các anh quyết định theo phương án chúng tôi đề nghị ngày hôm qua: cử anh Vũ Oanh hay anh Vũ Khoan. Nhân đây tôi xin phản ánh tư tưởng chung của anh em cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao là có sự đối xử chưa công bằng với Ngoại giao”.

V́ sao tôi được người ta chọn để thay Nguyễn Cơ Thạch tuy biết rơ tôi đồng quan điểm chính trị với anh Thạch? Tôi nghĩ có 2 lư do: một là che đậy ư nghĩa chính trị của việc sa thải Nguyễn Cơ Thạch; hai là cơ chế mới về đối ngoại sau Đại hội VII có khả năng vô hiệu hoá hoàn toàn mọi chủ trương và hành động sai khác với quan điểm của mấy vị trong Ban Thường Trực BCT mới.

Mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà Nước đều do Hồng Hà, bí thư T.Ư. Phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối Ngoại chủ tŕ. Một thí dụ điển h́nh về v́ ư đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: ngày 5/8/91, giữa cuộc họp Hội đồng bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (đại sứ TQ), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. (Lê Đức Anh cho biết khi ở TQ, Ban Đối Ngoại TQ Chu Lương có đề nghị: v́ lư do kỹ thuật (?) quan hệ giữa hai đảng xin làm qua Trương Đức Duy). Hôm sau, Hồng Hà với tư cách trưởng ban đối ngoại tiếp đại sứ CPC Ouch Borith, đă thông báo: Theo sự phân công của Bộ Chính trị VN, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đ/c Hồng Hà sẽ phụ trách thảo luận giải pháp CPC và các vấn đề liên quan. Nếu lănh đạo CPC muốn bàn các vấn đề trên th́ đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó.g

Sau khi tôi được miễn, đă có một cuộc vận động khá sôi nổi về chức bộ trưởng ngoại giao. Những tên tuổi như Vũ Oanh, Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Nguyễn Dy Niên, Vũ Khoan… được nói tới. Cuối cùng, Nguyễn Mạnh Cầm (lúc đó đang là đại sứ ta ở Liên Xô) được chọn, mặc dù khi đó anh c̣n rất lưỡng lự.

Ngày 9/7/91, vừa được bàn làm tổng bí thư, Đỗ Mười gặp đại sứ TQ Trương Đức Duy tỏ ư muốn cử đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày–ngày 11/6/91–Bộ Ngoại Giao ta cũng đă gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước. Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ư gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ư việc ta cử đặc phái viên gặp lănh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp sau cuộc gặp đặc phái viên trước cuộc gặp thứ trưởng ngoại giao. Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thỏa thuận với cấp đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đă đề nghị thay chữ “đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là bí thư T.Ư. phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại Giao có đề nghị có một thứ trưởng ngoại giao là ủy viên Trung Ương đi với đoàn để nắm t́nh h́nh vận dụng vào cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đó đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy, lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.5

Ngày 28/7/91, đoàn đă đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đă gặp Kiều Thạch, Lư Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII (những ư kiến khác nhau, quá tŕnh thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội; và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành Trung Ương…) Giang Trạch Dân và Lư Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/1991. Giang tỏ ư hài ḷng “Từ đáy ḷng ḿnh, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.

Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lănh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đă chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29/7/ và tối 31/7 để tạ lỗi (?). Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đă nói: “Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đă xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói t́nh cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi … T́nh h́nh trục trặc trong quan hệ là một việc đau ḷng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đă qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”. C̣n Từ th́ cũng mượn dịp này để than phiền về đại sứ Đặng Nghiêm Hoành: “Một năm nay đồng chí ấy không gặp tôi, trừ khi gặp ở các cuộc chiêu đăi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Hoành kể từ tháng 6 năm ngoái” (sự thực là phía Trung Quốc đă có thành kiến với anh Hoành từ trong cuộc đàm phán tháng 6/1990 ở Hà Nội). Từ không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu để có thể b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ư này… Nếu các đồng chí lănh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn c̣n th́ chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết th́ khi b́nh thường hoá quan hệ với chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”.

Để dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8/1991, tối 31/7 Hồng Hà vẫn bảo với Từ Đôn Tín: “Đồng chí Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ v́ chưa có “tiền sử” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ư kiến chỉ đạo  không những cả về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc. Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đă cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, c̣n hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai tṛ Liên Hiệp Quốc th́ phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt–Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”. Xin ư kiến đối phương về hướng giải quyết vấn đề đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử ngoại giao!

Sau khi ở Trung Quốc về, ngày 4/8/1991, Lê Đức Anh và Hồng Hà gặp tôi và Nguyễn Dy Niên tại Văn pḥng Trung Ương Đảng để chuẩn bị cho Niên đi đàm phán với Trung Quốc. Sau khi anh Niên đọc bản đề án của Bộ Ngoại giao, tôi nói: “Anh Hoành (đại sứ ta ở TQ) vừa điện về, phía TQ thông báo có 3 buổi làm việc nhưng họ nói có thể làm một buổi là xong. Chắc chắn Từ Đôn Tín sẽ đưa văn bản buộc chúng ta phải thoả thuận. Nếu ta nhận, họ sẽ x́ ra cho các nước PS, ASEAN và bạn CPC. Ta sẽ bị vào thế phản bội đồng minh, phản bội bạn bè. Nếu ta đ̣i sửa văn bản của TQ th́ sẽ không ra được văn bản, sẽ thất bại. Chúng tôi đă xem lại biên bản thấy TQ gắn rất chặt vấn đề CPC, với việc b́nh thường hoá quan hệ, vẫn coi CPC là điều kiện. TQ rất khôn, khi gặp cấp cao chỉ tập trung vào vấn đề quan hệ hai nước, c̣n cái xương để lại. Gặm cái xương này, chúng ta phải giải quyết vấn đề có tính nguyên tắc. Ta quyết tâm b́nh thường hoá với TQ nhưng không được phá quan hệ với CPC và không được để thế giới thấy anh Việt Nam là người tráo trở”. Biết tôi quá gai góc, không chịu chấp nhận ư đồ thỏa hiệp vô nguyên tắc với TQ, Lê Đức Anh và Hồng Hà chỉ nói chung chung về chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Hồng Hà nói: Tinh thần tôi nắm được là ư Trương Đức Duy và Từ Đôn Tín đều lo cuộc gặp thứ trưởng thất bại. Không biết đồng chí  thứ trưởng nào gặp tôi có nắm được tinh thần này không?” Tôi liền bảo: “Như vậy càng rơ là họ có yêu cầu cao nên họ sợ ta không thể chấp nhận được”, Hồng Hà: “Tôi hiểu họ muốn b́nh thường hoá quan hệ là chính nên họ lo”. Tôi đáp: Về mặt này th́ phải nói là Việt Nam lo hơn v́ Việt Nam muốn b́nh thường hóa quan hệ với TQ hơn”. Vào cuối buổi họp, Hồng Hà nói: Chuyến đi của anh Niên là thuận lợi, sau chuyến đi của anh Lê Đức Anh. Anh Niên cũng là nhân vật mới, không có “tiền sử”. Khi nhắc đến tháng 6/90 họ rất cay cú. Lê Đức Anh thêm vào: Sau tháng 6/90 lại có phát biểu với báo chí của hai bên nên càng tích tụ thêm, găng thêm. (ư nói đến lần đàm phán tháng 6/90 giữa tôi và Từ Đôn T́n). Và đến chiều, khi họp Thường trực Bộ Chính trị bàn về việc đàm phán với TQ, họ triệu tập anh Niên, không triệu tập tôi.e

Được biết trong cuộc họp này TBT Đỗ Mười đă khẳng định là không nên v́ vấn đề Campuchia mà cản trở việc b́nh thường hoá quan hệ của ta với Trung Quốc. Về vấn đề CPC, họ chỉ thị cho Niên thỏa thuận với phía TQ:

a) không nói vấn đề diệt chủng. Lê Đức Anh nói phải dứt khoát thôi vấn đề diệt chủng. Và TBT Đỗ Mười nhấn thêm: Nếu nói vấn đề diệt chủng tức là đồng minh với Mỹ chống Trung Quốc (!) b) nâng cao vai tṛ HĐDTTC, hạ thấp vai tṛ LHQ.
c) giảm quân các bên CPC 50%.

Để đảm bảo cuộc đàm phán không đi chệch khỏi quỹ đạo đă dàn xếp trước với Trung Quốc, Hồng Hà c̣n để Trịnh Ngọc Phái, phó ban Đối ngoại, ở lại Bắc Kinh để tham gia đoàn đàm phán, thực chất để giám sát Nguyễn Dy Niên theo đúng những điều họ đă thoả thuận trước với Trung Quốc. Ngày 10/8/1991, sau khi cái gọi là cuộc đàm phán này đạt kết quả đúng ư Trung Quốc (hoan nghênh Sihanouk giữ chức chủ tịch HĐDTTC, ủng hộ văn kiện khung của LHQ về giải pháp CPC… ) vào đúng ngày Quốc Hội Việt Nam thông qua việc bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm thay Nguyễn Cơ Thạch làm bộ trưởng Ngoại Giao. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhận tiếp Nguyễn Dy Niên và ngỏ lời mời ban ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ngày 10/9/1991 thăm Trung Quốc để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao Trung–Việt ở Bắc Kinh.

Ta đă dự kiến sau cuộc đàm phán ở Bắc Kinh sẽ sang Nông Pênh thông báo cho bạn CPC, nhưng tối 18/8/1991 Hồng Hà gọi điện chỉ thị: Theo ư kiến đồng chí Lê Đức Anh, anh Niên không phải đi CPC thông báo với bạn nữa và cũng không thông báo cho bất cứ ai về cuộc đàm phán ở Bắc Kinh vừa qua (mặc dù phía TQ đă thông báo cho các nước ASEAN và các nước phương Tây rồi). Và c̣n nói thêm: Từ nay trở đi, trên giấy trắng mực đen đừng ghi ư đồ của Trung Quốc nữa (?) v́ vấn đề này BCT đă nắm rồi.

Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến tŕnh b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Trung Quốc như cỗ máy đă được tra dầu đầy đủ, diễn biến chơn chu theo tŕnh tự đă định. Ngày 5 đến 10/11/91, sau khi Hiệp Định về Campuchia được kư kết ở Pa–ri, TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Vơ Văn Kiệt thăm chính thức CHND Trung Hoa để hoàn thành việc b́nh thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2/1979. Nhưng trong khi lănh đạo ta ôm kỳ vọng cùng TQ “bảo vệ xă hội chủ nghĩa chống đế quốc” th́ họ đă xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). TQ nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lănh thổ lănh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.