Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đă trải qua những sự kiện to lớn: Hiệp định Pa–ri[1] 1973 về Việt Nam kết thúc cuộc đàm phán “ma–ra–tông[2]” 1968–1973 giữa VN và Mỹ, toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đă đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín của quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà c̣n làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á. Nể sợ sức mạnh quân sự và ư chí kiên cường của Việt Nam, mặt khác lo ngại mối đe dọa từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát triển kinh tế, các nước ASEAN[3] sốt sắng b́nh thường hoá và cải thiện quan hệ với Việt Nam; tổ chức liên minh quân sự SEATO[4] tan ră; xu hướng hoà b́nh, ổn định ở Đông Nam Á phát triển. Sau khi bị “gáo nước lạnh” ở Việt Nam, Mỹ lo tháo chạy khỏi Đông Nam Á, song lại sợ tạo ra một “khoảng trống” có lợi cho các đối thủ của ḿnh. Một mặt sợ Liên Xô thừa thế mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và thế giới, mặt khác lo Trung Quốc phát huy vai tṛ nước lớn Châu Á để lấp chỗ “hổng” đó nên Mỹ vừa t́m cách khai thác mâu thuẫn Xô–Trung vừa muốn có một nước Việt Nam độc lập cả với Trung Quốc lẫn Liên Xô để duy tŕ thế cân bằng chiến lược giữa 3 nước lớn trong khu vực Châu Á–Thái B́nh Dương.
Trong tập “Tài liệu Lầu Năm Góc” (Pentagone Papers[5]) của Mỹ có viết: “Báo cáo của đại sứ Mỹ tại Anh gửi Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 1.3.1967 ghi lại một cuộc đối thoại ngắn giữa ngoại trưởng Anh Brown[6] và ngoại trưởng Ba Lan Rapacki[7] tại Luân đôn ngày 22.2.1967. Khi Brown hỏi nhận định của Rapacki về mức độ thế lực của Kossyguine[8] (thủ tướng Liên Xô lúc đó) đối với Hà Nội. Rapacki Trả lời: “Không kém của ông đối với Hà Nội”. Và khi Brown hỏi: “Giữa Trung Quốc và Liên Xô nước nào có nhiều ảnh hưởng hơn đối với Hà Nội?”. Rapacki Trả lời: “Bắc Việt Nam”. Đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam thể hiện rơ nét trong suốt thời gian đàm phán với Mỹ ở Pa–ri.
Sau cuộc đàm phán với Mỹ ở Pa–ri năm 1973 tôi được đề bạt làm vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ nên có đầy đủ điều kiện trực tiếp theo dơi và xử lư mối quan hệ của nước ta với Mỹ sau chiến tranh.
Vào quăng hơn một tháng sau khi giải phóng miền Nam, ta có nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp miệng “Lănh đạo VNDCCH tán thành có quan hệ tốt trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía VN đă tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ. Phía VN đă cố gắng làm mọi sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai. Không có sự thù địch đối với Mỹ ở Việt Nam và VN cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ”.
Ngày 12.6.75, Mỹ gửi đến Sứ quán ta ở Pa–ri bức thông điệp đáp lại: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hằn ǵ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên (procced on this basis in any relations between the two sides). Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ư nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra”. Thông điệp này do Sứ quán Mỹ ở Pa–ri gửi tới Sứ quán ta, nội dung không nói rơ là của Bộ Ngoại giao Mỹ hay của cấp nào.
Ngày 11.7.75, ta gửi thông điệp cho Mỹ, chủ yếu nhắc lại đoạn nói về Mỹ trong Báo cáo của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh[9] đọc trước Quốc hội ngày 4.6.75: “Việc Chính phủ Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, từ bỏ hoàn toàn sự can thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam, làm nghĩa vụ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng lại sau chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ b́nh thường giữa VNDCCH và Hoa Kỳ theo tinh thần Điều 22[10] Hiệp định Pa–ri về Việt Nam.”
Cuộc tiếp xúc đầu tiên sau chiến tranh giữa ta và Mỹ diễn ra tại Pa–ri ngày 10.7 ở cấp bí thư thứ nhất đại sứ quán (Đỗ Thanh–Pratt) chủ yếu bàn về vấn đề MIA[11], cụ thể phía Mỹ xin được trao trả một số hài cốt phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. Đến cuộc gặp tiếp theo ngày 5.9.75, cũng vẫn phía Đỗ Thanh và Pratt, ta đồng ư sẽ giao cho Mỹ 3 bộ hài cốt “giặc lái”. Song măi tới tháng 12 ta mới cho phép một đoàn 4 hạ nghị sĩ Mỹ do Chủ tịch Ủy ban POW/MIA[12] G.V. Montgomery dẫn đầu vào Hà Nội nhận. Đoàn này đă được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp.
Sang năm 1976, Mỹ lại thông qua Liên Xô thăm ḍ việc tiếp xúc với ta, song khẳng định sẽ không thực hiện điều 21[13] của Hiệp định Pa–ri. Công hàm ngày 26.3.76 của Henry Kissinger–lúc này là ngoại trưởng–gửi ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh cảm ơn ta đă đón tiếp đoàn Montgomery và sẵn sàng mở cuộc thảo luận về việc thiết lập mối quan hệ mới giữa hai nước. “I believe that the interests of peace and security will benefit from placing the past behind us and developing the basis for a new relationship between our two countries”. Ngày 30.4 bộ trưởng ngoại giao ta gửi công hàm trả lời, nêu lại những vấn đề tồn tại giữa 2 nước (vấn đề bồi thường chiến tranh và vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh), trên cơ sở giải quyết 2 vấn đề đó sẽ b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ theo quy định của Điều 22 Hiệp định Pa–ri. Ta sẵn sàng xem xét đề nghị cụ thể của Mỹ về việc mở thương lượng giữa hai bên. Ta sẽ có trả lời không để quá lâu, song sẽ không trước khi Quốc hội Mỹ bàn về việc bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Gần như đồng thời với việc G. Ford[14] bác kiến nghị của Quốc hội Mỹ yêu cầu tạm ngừng trong 6 tháng lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam. Bộ ngoại giao Mỹ gửi thông điệp khẳng định sẵn sàng sớm có thảo luận với VN, song nhận xét quan điểm ta đặt thương lượng trên cơ sở “selective application of past agreements” là không đem lại kết quả xây dựng; vấn đề “full accounting” về MIA sẽ là một trong những vấn đề hàng đầu của Mỹ, chỉ khi nào vấn đề này được giải quyết “một cách cơ bản” (substantially) mới có thể có tiến bộ thật sự tới b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước chúng ta. Đề nghị VN xem lại một cuộc họp bàn về các vấn đề tồn tại là có bổ ích hay không?
T́nh h́nh nhùng nhằng như vậy kéo dài cho tới khi Jimmy Carter[15] trúng cử tổng thống thay Gerald Ford năm 1977. Chính quyền mới của đảng Dân chủ có quan điểm chiến lược khác và thái độ đối với Việt Nam mềm mỏng hơn. Nguyên nhân quan trọng khiến chính quyền Carter quan tâm ngay từ đầu đến việc thiết lập mối quan hệ mới với Việt Nam là lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á Thái B́nh Dương. Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, Andrew Young, đă nói rơ điều đó: “Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở Châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ” (tháng 1/1977).
Ngày
6/1/1977, thông qua Liên Xô, Mỹ lại đưa ra một
kế hoạch 3 bước về b́nh thường hóa
quan hệ với Việt Nam:
1)Việt Nam cho biết tin về những
“người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA).
2)Mỹ chấp nhận Việt Nam vào Liên
Hiệp Quốc và sẵn sàng lập quan hệ ngoại
giao đầy đủ, cũng như bắt đầu
buôn bán với Việt Nam.
3)Mỹ có thể đóng góp khôi phục
lại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, cung
cấp thiết bị và các h́nh thức hợp tác kinh
tế khác.
Ngày 3/3/1977 chính quyền Carter quyết định nới lỏng một phần cấm vận đối với ta, cho phép tàu thuỷ và máy bay nước khác chở hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu (nhưng vẫn cấm người Mỹ buôn bán với Việt Nam, cấm tàu Mỹ đến Việt Nam, cấm tàu và máy bay Việt Nam đến cảng và sân bay Mỹ). Ngày 9/3/1977 Mỹ cho phép công dân Mỹ được đi thăm Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên, CPC[16] kể từ ngày 18/3/1977.
Đến giữa tháng 3, ta nhận tiếp đón Leonard Woodcock[17], đặc phái viên của tổng thống Mỹ Carter, sang Việt Nam. Ngày 17/3/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đă tiếp L. Woodcock và 4 thành viên – trong đó có Thượng nghị sĩ Mansfield tại Chủ tịch phủ ở Hà Nội. Ngày hôm đó, đoàn Mỹ cũng đă đến chào Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh.
Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đă thỏa thuận mở cuộc đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa–ri. Đoàn ta lúc đó do Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu, thành viên có tôi, vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, anh Vũ Hoàng, vụ trưởng Vụ Lănh sự và mấy cán bộ Vụ Bắc Mỹ: a. Bùi Xuân Ninh, Cương, Lê Mai. Anh Lê Mai khi đó là cán bộ Vụ Bắc Mỹ, làm phiên dịch cho trưởng đoàn. Sứ quán ta ở Pháp có anh Đỗ Thanh, bí thư thứ nhất và anh Nguyễn Thiện Căn, tuỳ viên báo chí, tham gia đoàn. Phía Mỹ do R.Holbrooke làm trưởng đoàn. Cuộc đàm phán diễn ra khá lâu, phải qua 3 ṿng đàm phán trong tháng 5, tháng 6 và tháng 12 năm 1977. Địa điểm luân phiên ở đại sứ quán ta và đại sứ quán Mỹ tại Pháp. Trong đàm phán ṿng 1 (ngày 3–4/5/1977), lập trường của Mỹ là hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ ngay và vô điều kiện, c̣n những vấn đề khác giữa hai bên để lại giải quyết sau; Mỹ sẽ không cản Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. C̣n về điều 21 (của Hiệp định Pa–ri về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đă có quan hệ, bỏ cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. Theo chỉ thị đă nhận trước khi đi, ta kiên quyết đ̣i phải giải quyết “cả gói” 3 vấn đề: ta và Mỹ b́nh thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô–la cho Việt Nam như đă hứa hẹn trước đây. Trở ngại lớn nhất cho việc b́nh thường hoá quan hệ là việc ta đ̣i Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô–la cho ta v́ Quốc hội Mỹ khi đó dứt khoát không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ngày 2–3/6, đàm phán ṿng 2, Mỹ nêu lại các đề nghị hồi tháng 5. Ngày 19/7/1977, tại Hội Đồng Bảo An LHQ, Mỹ rút bỏ việc phủ quyết Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Sau ṿng 2, anh Phan Hiền đă phải bay về Hà Nội báo cáo và xin chỉ thị, thực chất là đề nghị trên nên có thái độ thực tế và đối sách mềm dẻo hơn, nhưng nghe nói cả 4 vị lănh đạo chủ chốt[18] của ta lúc đó đều nhất trí lập trường trên. Trước đ̣i hỏi kiên quyết của ta, tại ṿng 3 (19–20/12/1978), Mỹ đề nghị nếu chưa thoả thuận được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ th́ có thể lập Pḥng Quyền lợi (Interest section) ở thủ đô hai nước, nhưng như vậy th́ chưa bỏ cấm vận được. Sau khi có Pḥng Quyền lợi th́ sẽ tuỳ t́nh h́nh mà xét bỏ cấm vận, song ta vẫn giữ lập trường cứng nhắc đ̣i giải quyết “cả gói” 3 vấn đề.
Rơ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam và năm 1977 đă có khả năng thực tế để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ nhưng ta đă bỏ qua. Trong khi đó, theo sự xúi dục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu chiến tranh biên giới từ ngày 20 tháng 4 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.1977.
Từ đầu năm 1978, quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ–Xô–Trung bắt đầu chuyển từ h́nh thái đối đầu từng đôi một sang h́nh thái Mỹ–Trung câu kết chống Liên Xô. Liên Xô nhân thế yếu của Mỹ sau thảm bại ở Việt Nam ra sức tăng cường ảnh hưởng ở Á–Phi và Mỹ la tinh bằng học thuyết “chủ quyền hạn chế” của Brejnev[19]. Tại Châu Á, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách bao vây Trung Quốc. Cũng từ năm 1978, Mỹ đẩy nhanh quá tŕnh b́nh thường hóa quan hệ với Trung Quốc (từ tháng 2/1978), khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh, TQ[20] và Mỹ đă kư thoả thuận lập Cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước với quy chế như một sứ quán. Nước cờ “chơi lá bài Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô” của cố vấn an ninh quốc gia Z. Brzezinski[21] đă dần dần lấn lướt chủ trương của ngoại trưởng Cyrus Vance và R. Holbrooke là “thúc đẩy song song việc cải thiện quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc”. Ngày 23/8/78, trong lúc Mỹ đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với ta ở Pa–ri, ngoại trưởng Mỹ C. Vance đă đi thăm Bắc Kinh. Cho đến khi Đặng Tiểu B́nh[22] tuyên bố “Trung Quốc là NATO phương Đông” và “Việt Nam là Cuba phương Đông” (19/5/1978) và Brzezinski đi thăm Trung Quốc (20/5/1978) th́ chính quyền Carter đă chọn con đường b́nh thường hóa quan hệ với Trung Quốc và gác sang bên việc b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam.
Ngày 21 tháng 8 năm 1978 Quốc hội Mỹ c̣n cử một đoàn 7 hạ nghị sĩ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà, do hạ nghị sĩ Dân chủ G.V. Montgomery, chủ tịch Ủy ban POW/MIA, dẫn đầu sang Việt Nam chủ yếu để trao đổi với thứ trưởng Phan Hiền về vấn đề t́m kiếm “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA). Ta đă trao trả cho Mỹ một số bộ hài cốt để tỏ thiện chí hợp tác trong vấn đề MIA. Và theo yêu cầu của họ, tôi đă dẫn đoàn Montgomery đi miền Nam, thăm thánh thất Cao Đài và một trại người Campuchia tị nạn chiến tranh ở biên giới Tây Ninh. Đây là lần đầu tiên ta cho phép một đoàn Mỹ chính thức thăm thành phố Hồ Chí Minh kể từ khi giải phóng miền Nam.
Sau đó chừng một tháng, tôi sang Nữu–ước[23] để tiếp tục cuộc đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán ṿng 4 về b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Mỹ không kéo dài nhiều năm 1977 ở Pa–ri. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta là thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch[24]. C̣n phía Mỹ vẫn là R. Holbrooke. Đến lúc này khi ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến tranh – viện trợ 3,2 tỷ đô–la – mới b́nh thường hoá quan hệ” và nhận công thức “b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ th́ đă muộn. Sở dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn đề b́nh thường hoá với ta lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan hệ với Liên Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đă chuyển hướng sang phía Trung Quốc. R. Holbrooke nói với ta: Mỹ coi trọng Châu Á; Mỹ cần b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước. Nhưng Mỹ lo ngại Liên Xô đặt căn cứ ở Cam Ranh.
Trong khi chờ đợi phía Mỹ trả lời dứt khoát về vấn đề b́nh thường hoá quan hệ, khoảng hạ tuần tháng 11, anh Thạch về Hà Nội trước, c̣n tôi vẫn ở lại Nữu ước để giữ cầu. Ngày 30/11/1978, R. Oakley[25], trợ lư ngoại trưởng Mỹ, trả lời sự thúc dục của tôi, c̣n nói: Mỹ không thay đổi lập trường b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại v́ cần làm rơ 3 vấn đề CPC, Hiệp ước Việt–Xô và vấn đề người di tản. Rồi họ trao cho tôi tấm ảnh toà nhà của sứ quán ngay trên đường R. ở Hoa–thịnh–đốn[26], nói là sẽ trao trả ta toà nhà đó làm trụ sở đại sứ quán, yêu cầu ta cung cấp sơ đồ ngôi nhà cũ của tổng lănh sự quán Mỹ tại đường Tràng Thi (?) Hà Nội.
Tôi ở lại Nữu ước măi tới cuối tháng 1/1979, sau khi ta đưa quân vào Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông–Pênh[27]. “Các cuộc nói chuyện Mỹ–Việt Nam về b́nh thường hoá đă tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam” (Cyrus Vance 9/1/1979). Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đă quyết định dứt bỏ quá tŕnh đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với ta từ khi ta tham gia khối COMECON[28] và kư Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (3/11/1978), để bắt tay với Trung Quốc chống Liên Xô ở Châu Á–Thái B́nh Dương.
Việc Đặng Tiểu B́nh đi thăm Mỹ (29–30/1/1979) đánh dấu việc b́nh thường hoá quan hệ Mỹ–Trung Quốc, cũng là chính thức xếp lại việc b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Mỹ tới 17 năm sau. Trong khi gặp Carter ở Hoa–thịnh–đốn, Đặng Tiểu B́nh đă tỏ ư sẽ tiến công vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ. Theo Brzezinski, trong cuộc hội đàm với Carter hôm 29/1, Đặng yêu cầu có sự cộng tác giữa Mỹ và TQ để chống Liên Xô. C̣n Carter có phần thận trọng hơn, đồng ư có những cuộc tham khảo chặt chẽ giữa hai nước để chặn chủ nghĩa bành trướng của LX nhưng thận trọng tránh đề cập tới đề nghị của Đặng. Sau đó, ngày 26/2/1979, Carter có nêu 6 nguyên tắc xử sự khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Mỹ không can thiệp trực tiếp; khuyến khích các bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, cuộc xung đột không đe dọa lợi ích trước mắt của Mỹ; không đặt lại vấn đề b́nh thường hoá với Trung Quốc; quyền lợi đồng minh của Mỹ không bị đe dọa. Cũng từ đó, cuộc xung đột CPC và quan hệ với Việt Nam đă được đặt trong khuôn khổ của mối quan giữa 3 nước lớn Mỹ–Xô–Trung. Và cũng từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ–Việt Nam với quá tŕnh giải quyết vấn đề CPC.
Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Pa–ri năm 1977 rồi ở Nữu ước năm 1978, tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hoà b́nh để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi kư của ḿnh (From Third world to First[29]–Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất). Lư Quang Diệu[30] đă nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Băng–cốc[31]. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.
Việc ta từ chối lời đề nghị “b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ư muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đă đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến lược “thêm bạn–bớt thù” thực sự cầu thị hơn? Việc b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối ASEAN măi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật.
Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đă không theo kịp bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam 1975, để dám có những quyết sách linh hoạt kịp thời đem lại lợi ích to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ cơ hội b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đă khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng.
C̣n với Trung Quốc, sau khi có Hiệp định Pa–ri 1973, Trung Quốc có lợi ích duy tŕ nguyên trạng ở Đông Dương, nhất là việc Việt Nam chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù hợp với ư đồ lâu dài của họ ở Đông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K. Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ (1/2/1975): Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại. Trung Quốc cho rằng một nước Campuchia thống nhất, trung lập là điều chủ yếu trong một Đông Dương ổn định.
Từ 1973, đă xảy ra những va chạm ở biên giới Việt–Trung. Năm 1974, Trung Quốc chiếm ngon lành nốt phần c̣n lại ở quần đảo Hoàng Sa của ta. Có người cho rằng chỉ sau khi ta ngả hẳn theo Liên Xô th́ Trung Quốc mới chống ta. Song sự thật là các hoạt động thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam đă xảy ra từ trước khi Việt Nam tham gia khối SEV[32] (tháng 6/1978) và kư Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (tháng 11/1978). Tháng 12 năm 1975, sau khi thăm Trung Quốc qua Pa–ri, H. Kissinger nói: Mỹ đang tính toán việc sử dụng Trung Quốc để hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực.
Nét đặc trưng của giai đoạn 1975–78 là Campuchia trở thành tiêu điểm của sự đối đầu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Việt Nam được Liên Xô ủng hộ. Sự đối đầu ấy trở thành xung đột quân sự ngay từ tháng 5/1975 và phát triển lên thành cuộc chiến tranh biên giới Tây–Nam nước ta. Trong khi trả lời phỏng vấn, ngày 8/1/1978 tôi đă nhận định: Điều lư thú đây là trường hợp đầu tiên của một cuộc chiến tranh qua tay người khác giữa Liên Xô và Trung Quốc; xung đột giữa Việt Nam được Liên Xô ủng hộ và CPC được Trung Quốc ủng hộ.
Như vậy chỉ qua 4 năm sau khi giải phóng được đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc, kẻ đă từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược phương Tây. Sau hai cuộc kháng chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng và hoà b́nh êm ả chưa đầy 5 năm. Vết thương chiến tranh chưa lành th́ đă lâm vào cảnh nửa hoà b́nh nửa chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam c̣n có được mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, c̣n trong cuộc chiến đấu chống diệt chủng Polpot th́ Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập. Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong” Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á. C̣n Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia và có mưu đồ lập “Liên bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia, xoá mờ tính chất “chống diệt chủng” của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia.
Cũng thời gian này, do những khó khăn kinh tế–xă hội chồng chất của thời kỳ chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận bên ngoài nên trong nước đă nảy sinh ra t́nh trạng “vượt biên” trốn ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho ta, bôi đen thêm h́nh ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền nhân” (boat people) lúc đó quả là hai gánh nặng trên mặt trận đối ngoại của ta trong thập niên 80 của thế kỷ 20.
Nửa cuối của thập kỷ 70 này
là thời gian ta chồng chất nhiều sai lầm về
đối ngoại nhất trong suốt lịch sử
dựng nước sau cách mạng (từ 1945 đến
nay):
- Ta không khôn ngoan duy tŕ mối quan hệ
cân bằng với Trung Quốc và Liên Xô, nhân tố
cực kỳ quan trọng đảm bảo thắng
lợi của ta trong kháng chiến chống Mỹ.
- Bỏ lỡ cơ hội b́nh thường
hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi chính quyền
Carter đă chủ động đề nghị hai bên b́nh
thường hoá quan hệ không điều kiện.
- Đánh giá sai và không gia nhập
khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả 6 nước này đều
mong muốn ta tham gia v́ lợi ích của mỗi một
quốc gia và của chung khu vực.
- Dính líu sâu và lâu vào vấn đề
Campuchia.
Những sai lầm này có hệ quả liên quan chặt chẽ với nhau, gây thiệt hại lớn cho ta về đối ngoại, về an ninh quốc pḥng, về phát triển kinh tế trong một thời gian dài.
[1]Paris
[2]Marathon
[3]
The Association of Southeast Asian Nations, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á
[4]
Southeast Asia Treaty Organization
[5]The Pentagon Papers (1971), the New York Times Ed.
[6]
George Alfred George–Brown, Baron
George–Brown (11.8.1966–16.3.1968) – Từ chức v́ nghiện
rượu
[7]
Adam Rapacki, Ngoại trưởng Poland 1956–1968 (+1970)
[8]
Kosygin, Alexei Nikolayevich , 1904–80, Thủ tướng USSR
(1964–80) dưới thời Leonid Brezhnev
[9]
1910–1985, Đại diện VNDCCH kư Hiệp Định
Paris 1973
Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà b́nh ở Việt Nam – 27.01.1973,
Paris
Chương VIII – Điều 22
[13] Hiệp định về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà b́nh ở Việt Nam – 27.01.1973,
Paris
Hoa Kỳ mong rằng Hiệp định này sẽ mang
lại một thời kỳ hoà giải với Việt Nam
dân chủ cộng hoà cũng như với tất cả các
dân tộc Đông dương. Theo chính sách truyền
thống của ḿnh, Hoà Kỳ sẽ đóng góp vào
việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công
cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân
chủ cộng hoà và toàn Đông Dương.
[14]
Gerald Rudolph Ford, (14.7.1913–), tên Leslie Lynch King, Jr. khi mới
chào đời, đổi tên và lấy họ của cha
kế. Tổng Thống thứ 38 của Hoa Kỳ
(1974–1977)
[15]
James Earl Carter, Jr. (1.10.1924–) Tổng Thống thứ 39
của Hoa Kỳ (1977–1981)
[16]
Kampuchea (Cambodia)
[17]
(15.2.1911–18.1.2001) Chủ tịch Công Đoàn UAW (1970–77),
Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại
Beijing
[18]
Lănh đạo bộ chính trị ĐCSVN (1977): Lê
Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê
Đức Thọ
[19]
Leonid Ilyich Brezhnev (1906–1982)
[20]
Trung Quốc
[21]
Zbigniew Brzezinski (28.3.1928–) Warsaw, Poland, trở thành công dân
Canada, rồi công dân Hoa Kỳ (1958); cố vấn cho các chính
phủ của đảng Dân Chủ từ những năm
60; Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của TT Carter
[22]
Deng Xiaoping (1905–1997), cha đẻ của “Kinh tế thị trường
định hướng XHCN” tại Trung Quốc vào
cuối thập niên 70
[23]New York
[24]
Tên thật là Phạm Văn Chương (1920–1998), thư
kư riêng của Vơ Nguyên Giáp (1945–49); Tổng Giám Đốc
ở Bộ ngoại giao (1954); Tổng Lănh Sự tại
India (1959) vào Trung ương đảng từ 1976, Thứ
trưởng thứ nhất (1979), Bộ trưởng
Ngoại Giao từ 1986 đến khi “về hưu” năm
1991.
[25]
Robert B. Oakley, Deputy Assistant Secretary of State for East Asia and the
Pacific (2.1977)
[26]Washington D.C.
[27]
Phnom Penh, thủ đô Cambodia
[28]
The Council for Mutual Economic Assistance
[29]
From Third World to First: The Singapore Story, 1965–2000,
Lee Kwan Yew, HarperCollins, 10.1.2000
[30]
Lee Kwan Yew, Thủ tướng đầu tiên của
Singapore sau ngày độc lập (1959–1990)
[31]
Bangkok, thủ đô Thailand
[32]
SEV, Hội đồng hỗ trợ kinh tế (COMECON, CMEA,
CEMA: Cuuncil for Mutual ECONomic assistance)