Ngày 29/8/1990, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân[1] và Thủ tướng Lư Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3/9/90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu B́nh có thể gặp anh Tô. Trung Quốc c̣n lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD[2] (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được v́ khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.
Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói rằng chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Năm ngày trước–ngày 24/8/1990–Trung Quốc c̣n bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ư cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề CPC và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ.
Thái độ “thiện chí” gấp gáp
như vậy của Bắc Kinh không phải là tự nhiên
mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức
bách:
a) tất cả những hoạt động
đối ngoại và đối nội của Trung
Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định
chiến lược nhất quán của họ là kiên
quyết thực hiện “4 hiện đại”, biến
Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu
trên thế giới, đồng thời xác định
vị trí nước lớn của ḿnh trước
hết ở Đông Nam Á và châu Á–Thái B́nh Dương.
V́ lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên
tŕ tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng
thời b́nh thường hoá quan hệ với Liên Xô. Nhưng
sau hơn 10 năm cải cách và mở cửa, t́nh h́nh chính
trị, xă hội và kinh tế của Trung Quốc rất
khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu
chiến lược đó đang bị đe dọa nghiêm
trọng. Về đối ngoại, bị Mỹ, Nhật
và phương Tây thi hành cấm vận. Trong khi đó, quá
tŕnh cải thiện quan hệ Mỹ–Xô tiến triển
rất nhanh và rất sâu. Xô–Mỹ hợp tác chặt
chẽ giải quyết các vấn đề thế
giới và khu vực không kể đến vai tṛ của
Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai tṛ Trung
Quốc cũng bị lấn át (Xô–Mỹ tiếp xúc trao
đổi chặt chẽ về vấn đề CPC;
cuộc gặp Sihanouk–Hun–xen ở Tokyo là do sự dàn
xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ư muốn
của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đ̣i
Trung Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết
vấn đề CPC trên cơ sở kiềm chế Khơ–me
đỏ.
b) chuyến đi Đông Nam Á của Lư
Bằng (6–13/8/1990) nằm trong yêu cầu chiến lược
của Trung Quốc tranh thủ hoàn cảnh quốc tế
hoà b́nh để thực hiện “4 hiện đại”,
diễn ra trong bối cảnh liên minh mà Trung Quốc xây
dựng ở Đông Nam Á trong 10 năm qua để
chống Việt Nam đang tan vỡ sau khi Việt Nam rút quân
khỏi CPC và sau khi Mỹ đă điều chỉnh chính
sách. Cuộc đi thăm của Lư đă bộc lộ
những điểm đồng và bất đồng
giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Các nước
ASEAN vẫn rất lo ngại ư đồ bành trướng
của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam kết
nội bộ các nước trong khu vực không ủng
hộ các đảng cộng sản và vấn đề
Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương lượng
và hợp tác về vấn đề Trường Sa.
Tiếp tục đối đầu với Việt Nam không
c̣n phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung
Quốc lúc này nữa.
c) sau khi Việt Nam đă hoàn tất
việc rút quân khỏi CPC, các nước phương Tây,
Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào cải thiện quan hệ
với ta theo hướng không có lợi cho tính toán
của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước t́nh h́nh
đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.
d) về thời điểm: trong cuộc
họp ngày 27 và 28/8/1990 tại Nữu ước, 5 nước
thường trực Hội Đồng Bảo An đă
thoả thuận văn kiện khung về giải pháp toàn
bộ cho vấn đề Campuchia (gồm 5 vấn đề:
lực lượng vũ trang CPC, tổng tuyển cử dưới
sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo
đảm quốc tế đối với thể chế
tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân
quyền không đề cập trực tiếp đến
vấn đề diệt
chủng, chỉ nói CPC sẽ không trở lại chính sách
và hành động trong quá khứ. C̣n Trung Quốc buộc
phải nhân nhượng không c̣n đ̣i lập chính
phủ liên hiệp 4 bên ngang nhau, phải chấp nhận
vai tṛ lớn của Liên Hiệp Quốc. Năm nước
thường trực HĐBA/LHQ thỏa thuận lịch
giải quyết vấn đề CPC: trong tuần từ
3/9 đến 9/9 họp các bên CPC ở Gia–các–ta để
lập HĐDTTC trước phiên họp Đại hội
đồng LHQ, tiếp đó họp mở rộng với
các nước trong khu vực (có TQ), đến khoảng
tháng 10 11 năm 1990 họp ủy ban Phối hợp Hội
nghị Pa–ri về CPC để soạn thảo Hiệp
định trên cơ sở văn kiện khung do 5 nước
vạch ra; các ngoại trưởng kư Hiệp định;
15 nước trong Hội Đồng Bảo An thông qua,
Trung Quốc đặt cuộc gặp cấp cao
Trung–Việt trong cái khung thời gian này. Tuy nhiên Bắc
Kinh dấu không cho ta biết ǵ về những thỏa
thuận giữa họ và các nước lớn trong HĐBA,
mặt khác cũng giữ kín việc hẹn gặp ta
ở Thành Đô v́ không muốn làm cho phương Tây và
ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết và hợp tác
giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp bàn về việc gặp lănh đạo Trung Quốc. Anh Linh nêu ư kiến sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc, và hợp tác giữa Nông Pênh và Khơ–me đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia, mặc dù trước đó Bộ Ngoại giao đă tŕnh bày đề án nêu rơ là rất ít có khả năng thực hiện phương án này v́ phương hướng chiến lược của TQ vẫn là tranh thủ phương Tây phục vụ “4 hiện đại”. Anh Lê Đức Anh bổ sung ư anh Linh: Phải nói về hoà hợp dân tộc thực sự ở Campuchia. Nếu không có Polpot th́ vẫn tiếp tục chiến tranh. Anh Vơ Chí Công không đồng ư, nói: Trung Quốc sẽ không nghe ta về hợp tác bảo vệ chủ nghĩa xă hội. Trung Quốc muốn tranh thủ phương Tây. Anh Thạch cảnh giác: Vẫn có 3 khả năng về quan hệ giữa ta và Trung Quốc, không phải chỉ là khả năng tốt cả. Dự kiến Trung Quốc sẽ nêu công thức “HĐDTTC 6+2+2+2” để nhấn rơ là có 4 bên Campuchia. (trong đó Khơ–me đỏ là 1 bên), xoá vấn đề diệt chủng… Sự thực này cho thấy Trung Quốc c̣n đ̣i cao hơn thế!
Ngày 2/9/90, ba đồng chí lănh đạo cấp cao của ta đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có Hồng Hà chánh văn pḥng Trung Ương, Hoàng Bích Sơn trưởng ban Đối ngoại, và Đinh Nho Liêm thứ trưởng ngoại giao. Đáng chú ư trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.
Sau 2 ngày nói chuyện (3–4/9/90), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên không c̣n tranh căi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề CPC; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia có kiểm chứng), c̣n 5 điểm th́ hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả. Trong bản thỏa thuận, vấn đề nổi cộm nhất là điểm 5 về việc thành lập Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao CPC. Lănh đạo ta đă thỏa thuận dễ dàng, không do dự (?), công thức “6+2+2+2+1” (phía Nông Pênh 6 người, phía “3 phái” 7 người: 2 của Khơ–me đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk và bản thân Sihanouk) mà Từ Đôn Tín vừa đưa ra ở Hà Nội và bị tôi bác. Công thức này bất lợi cho Nông Pênh, khác với công thức “6+6” hay “6+2+2+2”, tức là hai bên có số người ngang nhau, mà Sihanouk và Hun–xen đă thỏa thuận ở Tokyo.
Về sáng kiến “giải pháp đỏ” cho vấn đề Campuchia mà lănh đạo ta đưa ra, tưởng như phía Trung Quốc sẽ nhiệt t́nh hoan nghênh, song Lư Bằng đă bác đi: “Các đồng chí nói cần thực hiện 2 đảng cộng sản hợp tác với nhau để phát huy hơn nữa. Tôi đồng ư một phần và không đồng ư một phần. Bốn bên Campuchia xét về lực lượng quân sự và chính quyền, mạnh nhất là hai đảng cộng sản, có vai tṛ nhiều hơn. Nhưng phần tôi không đồng ư là ở Campuchia không chỉ có hai đảng cộng sản mà c̣n có các thế lực khác là lực lượng của Sihanouk và lực lượng của Son San. Lực lượng của họ không lớn lắm nhưng họ được quốc tế ủng hộ. Bài xích họ th́ cô lập Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao, không thể đoàn kết Campuchia. Cần phải để cho hai bên kia phát huy tác dụng ở Campuchia”. Và Giang Trạch Dân cũng nói thêm: “Các nước phương Tây rất chú ư tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho rằng Việt Nam xă hội chủ nghĩa, Trung Quốc xă hội chủ nghĩa đều do đảng cộng sản lănh đạo, hợp với nhau bàn cái ǵ đây? V́ vậy chúng tôi giữ kín chuyện này. T́nh h́nh quốc tế hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.
[1]
Jiang Zemin (1926–), TBT đảng CSTQ (1989–2002), Chủ
tịch nước (1993–2003), Chủ tịch Quân Ủy
Trung Ương (1989–2004)
[2] XI Asian Games 1990 Beijing (china),
do hội đồng đại
hội thể thao Á Châu tổ chức,
6122 lực sĩ từ 37
quốc gia
tham dự 29 bộ môn.