Sáng 30/5/1990, Bộ Chính trị họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 tổng bí thư đảng Lào và đảng Campuchia ngày 20–21/5, nói ra dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong BCT tỏ ư phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc. Anh Tô[1] nói: Mấy ngh́n năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin. Ta cần thăm ḍ thúc đẩy nhưng phải cảnh giác đừng để hớ. Đỗ Mười cũng khuyên anh Linh không nên gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín trước cuộc đàm phán. Nhưng Lê Đức Anh lại tỏ ra đồng t́nh với dự định của anh Linh, cho rằng phải thăm ḍ và phân tích chiến lược của Trung Quốc, xử lư mối quan hệ của 3 nước lớn và 5 nước thường trực HĐBA, tranh thủ thế giới thứ ba, ủng hộ các nước xă hội chủ nghĩa. Đa số trong BCT đều cho rằng không nên nói đến “giải pháp đỏ” với Trung Quốc nữa. Cuối cùng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kết luận lại là anh sẽ chỉ gặp đại sứ Trung Quốc, c̣n không gặp Từ Đôn Tín; về phía lănh đạo ta, chỉ có anh Thạch tiếp Từ. Nguyễn Văn Linh c̣n nói khi gặp Trương Đức Duy anh sẽ chỉ nói về hợp tác hai nước và đề nghị gặp cấp cao, không nói đến “giải pháp đỏ”. Nhưng trên thực tế trong cuộc gặp đại sứ TQ vài hôm sau, Nguyễn Văn Linh đă lại nêu vấn đề đó.
Ngày 5/6/90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đă mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật. Đây cũng là lần đầu tiên trong 10 năm, tổng bí thư Đảng ta tiếp đại sứ Trung Quốc để tỏ sự trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê b́nh của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đă sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ư muốn sang gặp lănh đạo TQ để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xă hội” v́ “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xă hội … chúng âm mưu diễn biến hoà b́nh, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành tŕ xă hội chủ nghĩa, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xă hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lănh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xă hội, kiên tŕ chủ nghĩa Mác–Lênin”. Về vấn đề Campuchia, anh Linh đă gợi ư dùng “giải pháp đỏ” để giải quyết: “Không có lư ǵ những người cộng sản lại không thể bàn với những người cộng sản được”, “họ gặp Sihanouk c̣n được huống chi là gặp lại nhau”.
Sáng 6/6/1990, Bộ trưởng Quốc pḥng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người. Trương Đức Duy vốn là thông dịch rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này măi đến ngày 19 tháng 6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11–13/6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đă gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ư mà anh Linh đă nói với đại sứ Trung Quốc hôm trước (gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xă hội; hai nhóm cộng sản Khơ–me nên nói chuyện với nhau). Nhưng trước đó, từ ngày 6/6, phía Trung Quốc (tham tán Lư Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đă cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. C̣n Đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, vụ trưởng Vụ Trung Quốc, biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6/6, anh Lê Đức Anh đă nói khá cụ thể về “giải pháp đỏ”: Sihanouk sẽ chỉ đóng vai tṛ tượng trưng, danh dự, c̣n lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot. Trung Quốc và Việt Nam sẽ bàn với bạn Campuchia của ḿnh, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, c̣n bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn b́nh thường… Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi …
Theo Hồ Càn Văn, ngày 23/5/90 Cục trưởng Cục Đối Ngoại Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đă mời Tuỳ viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Chính những động thái bất thường và vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao này của ta đă làm cho Trung Quốc hiểu rằng nội bộ Việt Nam đă có sự phân hoá và vai tṛ của Bộ Ngoại giao không c̣n như trước.
Ngày 8/6/1990, khi được biết là lần này tôi sẽ là người đứng ra thay anh Đinh Nho Liêm đàm phán với Từ Đôn Tín, Bộ trưởng Quốc Pḥng Lê Đức Anh c̣n điện thoại dặn tôi tránh chủ động nói đến “giải pháp đỏ”: Việc hai bên đỏ tiếp xúc với nhau là chuyện lâu dài, cần cho ổn định lâu dài. Trung Quốc sẽ tác động với phía CPC thân Trung Quốc, ta sẽ tác động với phía CPC thân với ta để hai bên kiềm chế việc thù địch nhau. Việc này phải có thời gian, không thể đ̣i họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được th́ họ trả lời … Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói khi đàm phán. Việc anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi TQ gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại nếu họ chưa nói tới. Những lời dặn ḍ này đối với tôi thực ra là không cần thiết, không phải v́ tôi sẵn ư thức bảo mật cao, mà bởi v́ ngay từ đầu tôi đă khó chịu với cái ư nghĩa gọi là “giải pháp đỏ”, với ư nghĩa bắt tay với bọn diệt chủng–dù chỉ là gián tiếp–để làm vừa ḷng Trung Quốc. Nhưng sự việc trở nên phức tạp khi trưa ngày 11/6/1990 sau đàm phán phiên đầu với Từ Đôn Tín, tôi về Bộ Ngoại Giao hồi báo lại với anh Thạch lúc này đang họp Hội nghị ngoại giao đánh giá t́nh h́nh Đông Âu–Liên Xô. Anh Thạch liền gạn hỏi tôi có nói với Từ về “giải pháp đỏ” không. Tôi nói: đồng chí Lê Đức Anh đă dặn phải thận trọng tránh nói đến vấn đề đó khi đàm phán. Anh Thạch vặn lại: Vậy đồng chí nghe theo ư kiến bộ trưởng Quốc pḥng hay ư kiến bộ trưởng Ngoại giao. Tôi đáp: Là cán bộ ngoại giao tôi sẵn sàng chấp hành ư kiến anh, với sự hiểu biết rằng anh nói với tư cách là ủy viên Bộ chính trị. Lúc ấy tôi thật bất ngờ trước phản ứng của anh Thạch, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được vết rạn nứt trong BCT đă khá sâu.
Phía Trung Quốc tất nhiên không để lọt hiện tượng này v́ chính họ đang muốn tác động vào nội bộ ta. Chính thái độ quá đặc biệt, quá nhún ḿnh và cũng quá sơ hở của lănh đạo ta ngày 5 và 6/6/1990 đă gây khó khăn không nhỏ cho ngoại giao ta trong đợt đàm phán này. Ngay từ hôm đầu đến Hà Nội và trong suốt mấy ngày đàm phán, Từ Đôn Tín luôn dở giọng cao ngạo, dùng uy lực của chính lănh đạo ta để gây sức ép với cán bộ ngoại giao ta. Ngay trong lời đáp từ tại buổi tiệc của tôi chiêu đăi đoàn TQ tối 9/6/1990, Từ đă nói: “Sau khi nghe đại sứ Trương Đức Duy báo cáo lại, tôi càng tăng thêm ḷng tin tưởng, tôi tin rằng đồng chí thứ trưởng Trần Quang Cơ và các đồng chí lănh đạo Việt Nam, cụ thể hóa vào cuộc trao đổi với chúng tôi để chúng ta nhanh chóng giải quyết xong vấn đề”.
Vào phiên đàm phán đầu tiên, sáng
11/6/1990, Từ đă t́m cách ghim lại những điểm
có lợi cho Trung Quốc hoặc ít nhất cũng hợp
với ư đồ của họ bằng cách nêu ra 5
nhận thức chung rất bổ ích mà hai bên đă đạt
được trong cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu
tháng 5/1990:
1 Hai bên đều cho rằng vấn đề
Campuchia cần đạt được một giải pháp
toàn diện, công bằng và hợp lư.
2 Phía Việt Nam bày tỏ đă rút
hết quân khỏi Campuchia, chấp nhận sự kiểm
chứng của Liên Hiệp Quốc và cam kết sẽ không
quay lại Campuchia.
3 Hai bên đều cho rằng, trong
thời kỳ quá độ ở Campuchia sau khi Việt Nam
rút hết quân, chấm dứt viện trợ bên ngoài và
thực hiện ngừng bắn, cần thành lập
Hội đồng toàn quốc tối cao. Về nguyên
tắc hai bên chúng ta đều tán thành Hội đồng
toàn quốc tối cao phải là cơ cấu quyền
lực có thực quyền, c̣nviệc tổ chức
Hội đồng đó thế nào, ư kiến của hai bên
cơ bản nhất trí với nhau. Ứng cử viên
của Hội đồng đó cụ thể là ai th́
phải do các bên Campuchia lựa chọn. Trung Quốc,
Việt Nam tôn trọng sự lựa chọn đó. Chúng
ta tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao không
loại trừ bất cứ bên nào, cũng không để
bên nào nắm độc quyền. Về Hoàng thân Sihanouk,
hai bên đều chủ trương Hoàng thân Sihanouk làm
Chủ tịch Hội đồng toàn quốc tối cao.
4 Vấn đề quân sự trong thời
kỳ quá độ, hai bên đều cho rằng để
tránh xảy ra nội chiến và giữ hoà b́nh ở
Campuchia, cần có sự sắp xếp thoả đáng quân
đội 4 bên Campuchia. Dĩ nhiên sắp xếp như
thế nào, hai bên chúng ta cần bàn thêm.
5 C̣n một điểm nữa, các đồng
chí Việt Nam bày tỏ từ nay về sau sẽ không
nhắc đến vấn đề diệt chủng,
kể cả trong các văn kiện quốc tế cũng
không nêu nữa.
V́ vậy Từ đề nghị tập trung bàn hai điểm tồn tại của lần gặp trước là vấn đề phạm vi quyền lực của Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia và vấn đề lực lượng vũ trang của các bên Campuchia trong thời kỳ quá độ. Trong 3 ngày đàm phán, mỗi khi phía Trung Quốc thấy ta không chấp nhận yêu sách vô lư của họ về hai vấn đề thuộc nội bộ CPC này, nhất là khi ta kiên tŕ công thức “hai bên Campuchia”– tức là hai chính phủ Nông Pênh và chính phủ Campuchia Dân chủ – hoặc có thể nói 2 bên Campuchia, nhưng dứt khoát bác công thức “4 bên Campuchia” của họ mang hàm ư chấp nhận vai tṛ hợp pháp của bọn Khơ–me đỏ, th́ Từ lại lên giọng chê trách tôi làm trái ngược ư kiến của lănh đạo VN, với lập luận là lănh đạo Việt Nam đă đưa ra ư “hợp tác giữa 2 phái cộng sản Khơ–me” tức là nhận từ “4 bên CPC” (có nghĩa là đưa Khơ–me đỏ lên ngang với Chính phủ Nông Pênh) và nhắc đến thoả thuận Tokyo, Từ nói: “Phát biểu của các đồng chí không nên trái ngược với các đồng chí lănh đạo Việt Nam. Ư kiến của Bộ Ngoại Giao nên nhất trí với ư của lănh đạo cấp cao, không nên có hai tiếng nói trái ngược”. Tôi phải đưa Từ trở về vị trí của y: “Đồng chí có thể yên tâm, không cần lo hộ, chúng tôi là Bộ Ngoại Giao có tiếng nói khác Trung ương. Đảng chúng tôi nhất trí từ trên xuống do Bộ Ngoại Giao là một bộ phận chịu sự lănh đạo chặt chẽ của Bộ Chính Trị chúng tôi”.
Về vấn đề Hội đồng
Dân tộc Tối cao Campuchia, Trung Quốc kiên tŕ 3 điểm:
- HĐDTTC (SNC) phải là cơ quan chính
quyền tối cao hợp pháp duy nhất đại
diện cho độc lập, chủ quyền, thống
nhất của Campuchia. Về mặt đối ngoại,
đại diện cho Campuchia trên quốc tế, giữ
ghế cho Campuchia ở Liên Hiệp Quốc; về mặt
đối nội, thực hiện quyền lập pháp và
quản lư hành chính, trực tiếp nắm các ngành quan
trọng ảnh hưởng đến tổng tuyển
cử tự do, công bằng gồm quốc pḥng, ngoại
giao, nội vụ, tuyên truyền, tài chính (với hiểu
biết là xoá 5 bộ này của chính quyền Nông Pênh).
- Không loại bên nào (tức là không
loại Khơ–me đỏ), không bên nào độc
quyền. Thành phần, số lượng do 4 bên Campuchia bàn
bạc và quyết định. Sihanouk làm chủ tịch HĐDTTC
(thực chất là bác bỏ Thông cáo chung Tokyo đă
thỏa thuận là Hội đồng gồm 12 người,
chia đều cho 2 bên, mỗi bên 6 người).
Tôi khẳng định HĐDTTC có trách nhiệm và quyền lực trong việc thực hiện các hiệp định được kư kết về Campuchia, về hoà giải dân tộc và về tổng tuyển cử; hai chính quyền hiện tồn tại không được làm việc ǵ cản trở trách nhiệm và quyền lực trên đây của HĐDTTC. C̣n việc các bên Campuchia chấp nhận ư kiến của Trung Quốc đến đâu là quyền của các bên Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc không thể thay các bên Campuchia sắp đặt việc nội bộ của Campuchia.
Về vấn đề lực lượng vũ trang, Trung Quốc đ̣i ghi vào biên bản thỏa thuận: quân đội của 4 bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm do ủy ban giám sát của Liên Hiệp Quốc chỉ định. C̣n việc giảm quân hay thực hiện các nguyên tắc trên sẽ do các bên Campuchia thỏa thuận với nhau.
Như để thuyết phục ta
chấp nhận lập trường của họ, Từ
đưa ra dự kiến của Trung Quốc giải
quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước:
- Trung–Việt đạt được
thoả thuận về giải pháp vấn đề
Campuchia và ghi nhận lại bằng một biên bản
nội bộ;
- Họp ngoại trưởng 5 nước
Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và ra tuyên
bố chung;
- Họp hội nghị có tính chất khu
vực giữa 5 nước trên và 4 bên Campuchia;
- Họp 5 nước Hội Đồng
Bảo An với 4 bên Campuchia;
- Họp Hội nghị quốc tế
Pa–ri về Campuchia.
Từ nói chỉ trao đổi nội bộ với ta dự kiến này ở đây, không nói với 4 nước ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An, cũng không nói với Liên Xô để tránh sự quấy nhiễu của bên ngoài. Tôi tránh b́nh luận cụ thể, chỉ nói đây là một gợi ư thú vị, rất đáng suy nghĩ, song cần làm sao cho bước khởi động của chúng ta ở đây có kết quả th́ toàn bộ kế hoạch mới có khả năng triển khai được.
Chiều ngày 12/6/1990, thực hiện yêu cầu của phía Trung Quốc, đă có cuộc họp hẹp giữa hai trưởng đoàn. Qua đó Từ nhờ tôi chuyển tới lănh đạo VN trả lời của lănh đạo Trung Quốc về những ư kiến mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc ngày 5 và 6/6/1990: “Lănh đạo Trung Quốc rất coi trọng quan hệ Trung–Việt. Lănh đạo Trung Quốc cũng rất coi trọng những ư kiến Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trương Đức Duy. Phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung–Việt sớm muộn cũng sẽ b́nh thường hóa. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện.Vấn đề Campuchia, cuộc chiến tranh Campuchia đă kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đă đạt được, tiếp tục trao đổi ư kiến về hai vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội đồng tối cao và việc xử lư quân đội của các bên CPC), làm sao cho có tiến triển về hai vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề Campuchia. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này lănh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao và việc thúc đẩy hai phái cộng sản Khơ–me đỏ hoà giải với nhau. Giải quyết xong 2 điểm tồn tại đó để có được giải pháp toàn bộ, không nên vượt qua vấn đề Campuchia. Giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ các bước tiếp theo về gặp gỡ cấp cao và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước sẽ dễ giải quyết.
Ngay sau đó, tôi sang gặp thủ tướng Đỗ Mười báo cáo t́nh h́nh cuộc đàm phán để chuẩn bị cho việc anh ấy tiếp Từ Đôn Tín chiều hôm sau như đă dự định. Tôi nói: chỉ với việc anh Linh và anh Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi Từ Đôn Tín tới Hà Nội đă làm cho phía Trung Quốc lên giọng trong đàm phán, nay nếu anh Linh hoặc anh Mười lại tiếp hắn nữa th́ rất không nên. Nghe tôi tŕnh bày xong, Đỗ Mười bảo sở dĩ anh nghĩ đến chuyện gặp Từ là v́ sáng 10/6/1990 Lê Đức Anh đến yêu cầu Đỗ Mười gặp Từ. Nay như vậy th́ không cần gặp nữa. Đỗ Mười bảo tôi cùng đi ngay sang báo cáo sự t́nh với TBT Nguyễn Văn Linh v́ anh Linh cũng dự định tiếp Từ. Sau khi nghe tôi tŕnh bày, có một phút lặng đi, tôi nghĩ bụng Tổng bí thư chắc bị bất ngờ về những câu trả lời quá ư lạnh nhạt của lănh đạo Trung Quốc đối với những điều tâm huyết mà anh và Lê Đức Anh đă thổ lộ với đại sứ Trương Đức Duy. Rồi anh Linh cho ư kiến là trong t́nh h́nh này anh Mười hoặc một cấp cao khác của ta không cần tiếp Từ Đôn Tín nữa.
Ba ngày đàm phán với Từ nói chung là căng nhưng giông tố chỉ nổ ra khi Từ Đôn Tín đến chào Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chiều 13.6.1990 trước khi đoàn Trung Quốc rời Hà Nội. Ngay từ đầu, không khí tṛ chuyện đă không lấy ǵ làm mặn mà lắm. Nhưng đến khi Từ nói: “Các đồng chí nói chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản Campuchia ḥa giải với nhau nhưng lại không chấp nhận có “4 bên” Campuchia. Chúng tôi không thể hiểu được trong hai giọng nói đó cái nào là thật cái nào là giả. Nghe tiếng nói này th́ tiếng nói kia là giả dối, nghe tiếng nói kia th́ tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đồng chí không nên làm như vậy”, anh Thạch đă phản ứng mạnh: “Chúng tôi không đ̣i các đồng chí nói chỉ có hai bên Campuchia; các đồng chí cũng không thể đ̣i chúng tôi nói 4 bên. Chúng tôi nói các bên, không loại bỏ bên nào là đủ rồi. Nếu nói khác đi là chống lại Hội nghị Tokyo. Tôi nói thật, dùng thủ đoạn xuyên tạc th́ rất khó đàm phán … Tôi rất trọng đồng chí nhưng rất không hài ḷng với những điều đồng chí nói v́ đồng chí có những xuyên tạc. Như thế rất khó đàm phán”. Cuộc nói chuyện kết thúc bằng câu “Chào Ngài” của Từ Đôn Tín. Và anh Thạch cũng đáp lại bằng từ đó thay vào từ “đồng chí”.1...
Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên. Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu “sứ giả thiên triều” của Từ trong buổi gặp ngày 13/6/90: Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc–Việt Nam. Khi nói “nguyện vọng của các đồng chí” là Từ muốn nói đến những điều mà anh Linh và anh Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy ngày 5 và 6/6/1990. Đây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia b́nh đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện “xem xét nguyện vọng” của lănh đạo Việt Nam được thêm vào đó; tâm trạng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong những ngày này lại đang nặng trĩu những suy tư khác.
Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn TQ Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn; suốt nửa cuối 1990 đến đầu 1991, TQ phớt lờ Bộ Ngoại Giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội đồng LHQ ở Nữu–ước tháng 9/1990. Trước đó, ư đồ TQ phân hoá nội bộ ta đă bộc lộ rơ: muốn ta phải thay đổi bộ trưởng ngoại giao.
Liều thuốc của thầy Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dă được tật!
[1] Phạm Văn Đồng