Những biến động lớn trong
t́nh h́nh thế giới bên ngoài lúc này đă tác động
mạnh mẽ tới suy nghĩ của lănh đạo ta
về phương hướng chiến lược đối
ngoại. Cuộc khủng hoảng chính trị tại
nhiều nước theo chế độ xă hội chủ
nghĩa đă bùng nổ từ năm 1989 và đang có
chiều hướng lan rộng ra. Tháng 6/1989 xảy ra
vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989,
chế độ xă hội chủ nghĩa ở các nước
Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Ru–ma–ni, Hung,
Tiệp, Hà Lan[2]
đều đă sụp đổ. Đầu tháng 10/1989,
TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm
Quốc Khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội
th́ bức tường Berlin đổ, Honecker bị
lật. Lănh tụ Ru–ma–ni Ceaucescu, người mà khi
ở Berlin anh Linh xem ra tâm đầu ư hợp trong việc
bàn chuyện tâm huyết cứu văn sự nghiệp xă
hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy,
vừa chân ướt chân ráo về đến Bucarest th́
bị truy bắt. Với “tư duy mới” của
Gorbachov, t́nh h́nh Liên Xô ngày càng trở nên lộn xộn.
Trước t́nh h́nh ấy, trong nội bộ lănh đạo ta đă nảy sinh những ư kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước xă hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô. Nổi lên là ư kiến nhấn mạnh mặt xă hội chủ nghĩa của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay sau Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đă tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc. Suy nghĩ đơn giản của ta là không có lư ǵ Việt Nam lại ngủng ngỉnh với Trung Quốc trong khi Liên Xô đă b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc (tháng 5/1989). Lào cũng đă thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, tổng bí thư Đảng NDCM Lào, tháng 10/1989.
Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7/10/89 mà Đặng Tiểu B́nh đă bộc lộ rơ phần nào những tính toán sâu xa của ḿnh đối với Việt Nam: phân hoá Việt –Lào, Việt–CPC, Việt–Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng Việt Nam đă có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh c̣n sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam. Lúc đầu Trung Quốc cho là v́ Brejnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ư đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc v́ Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương …Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đă hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh; Đặng kể lại khi làm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963, đă tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi thăm Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này th́ sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam. Cho đây là việc Việt Nam phải làm, v́ những ǵ Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện b́nh thường hoá quan hệ Trung–Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi CPC th́ sẽ có b́nh thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đă kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi CPC từ ngày 26/9/1989).
Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung–Việt tới 60 phút.
Ngày 21/10/1989 BCT ta đă họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu B́nh khi tiếp Kayson. Cuộc họp đă đi đến kết luận: trong lúc Trung Quốc đang c̣n găng với ta, ta cần có thái độ kiên tŕ và thích đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của Bộ Chính Trị, cần thấy cả mặt xă hội chủ nghĩa và mặt bá quyền nước lớn của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố đoàn kết chặt chẽ với Lào, phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.
Theo phương đó, ngày 6/11/1989, anh Thạch đă chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu B́nh, ngỏ ư mong sớm có b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ba ngày sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị: phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12/1989. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của Tổng bí thư ta lẫn thư của anh Thạch.
Măi đến ngày 12/1/1990, đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của phía Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta: “Đồng chí Đặng Tiểu B́nh và các lănh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm b́nh thường hoá quan hệ Trung–Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề CPC. Đồng chí Đặng Tiểu B́nh có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc CPC lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của VN về việc mở ṿng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng, nếu Việt Nam chấp nhận một cơ chế giám sát quốc tế do Liên Hiệp Quốc chủ tŕ có 4 bên CPC tham gia để kiểm chứng việc rút quân VN và lập chính phủ 4 bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ”.
Từ 26/2 đến 1/3/1990 tại thủ đô Inđônêxia đă họp Hội nghị không chính thức về CPC (IMC–Informal Meeting on Campuchia). Dự họp ngoài các bên CPC, VN, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM, c̣n có thêm đại diện Tổng thư kư LHQ Pháp và Ô–tra–lia[3]). Hội nghị không ra được tuyên bố chung v́ Khơ–me đă dùng quyền phủ quyết.
Ngày 8/3/1990, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ư kiến về vấn đề CPC: cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề CPC. Phải giải quyết với TQ, nếu không th́ không giải quyết được vấn đề CPC. Không thể gạt Khơ–me đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở CPC. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề CPC trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác. Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ư đó.
Đến ngày 3/4/1990, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.
Lúc này CP87 đă giải thể. Các thành viên thường trực của CP87 đều đă được bổ nhiệm đi nhận trọng trách ở nước ngoài. Anh Đặng Nghiêm Hoành đă nhận quyết định đi đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức đại sứ ở An–giê–ri[4]. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức đại sứ ở Phi–li–pin, đă chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan. Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đă lập Nhóm ad hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn v́ vấn đề CPC đă đến lúc phải giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.
Nhóm Nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng
tôi nhận định có mấy lư do đă khiến Trung
Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối
với Việt Nam về vấn đề CPC:
- quan hệ Mỹ–Xô đang có chuyển
động mạnh. Chỉ trong ṿng 6 tháng, từ tháng
12/1989 đến tháng 5/1990, đă có 2 cuộc gặp
cấp cao Xô–Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung
Quốc với Mỹ và các nước phương Tây
chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.
- giữa Trung Quốc với Mỹ, phương
Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn về vấn
đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề
đối xử với Khơ–me đỏ. Trong các
cuộc họp 5 nước thường trực Hội
Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3/1990, Trung Quốc
ở thế bị cô lập đă buộc phải có nhân
nhượng và phải chấp nhận vai tṛ của Liên
Hiệp Quốc.
- đàm phán Sihanouk–Hun–xen có tiến
triển. Ngày 9/4/1990 Sihanouk có phần nhượng bộ
khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập
Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao (Supreme National
Council–SNC) gồm số đại diện bằng nhau
của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Nông Pênh và 6
của Chính phủ Campuchia Dân Chủ như đề
nghị của Hun–xen; không đ̣i hỏi giải tán Nhà
Nước Campuchia (SOC), tuy đ̣i thực quyền cai
quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là
cơ cấu quyền lực của Liên Hiệp Quốc.
Ngày 10/4 BCT họp bàn đề án đấu
tranh sách lược về vấn đề CPC do Bộ NG[5] dự thảo: dùng
công thức LHQ để nói về vấn đề
diệt chủng và cho Khơ–me đỏ vào chính phủ
liên hiệp CPC, nhận vai tṛ Sihanouk, lập chính phủ
liên hiệp để tổ chức tổng tuyển
cử… Đại đa số BCT đồng ư. Các đồng
chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng,
Đồng Sĩ Nguyên c̣n nhấn vào âm mưu của
đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính
trị ở Đông Âu, VN và TQ cần liên kết bảo
vệ chủ nghĩa xă hội và cùng tác động
để có một nước CPC thân thiện với TQ và
VN và định hướng đi lên chủ nghĩa xă
hội, coi đó là lợi ích chung của TQ và VN. Riêng
Nguyễn Cơ Thạch nói rơ quan điểm của
Ngoại Giao là cần tranh thủ TQ, song đồng
thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái
độ của TQ:
- khả năng 1: TQ cùng ta bảo vệ
chủ nghĩa xă hội.
- khả năng 2: TQ cấu kết với
Mỹ chống ta như trước.
- khả năng 3: TQ vừa b́nh thường
hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, phương
Tây là chính.
Lúc đó tôi có cảm giác nhiều ủy viên BCT không tán thành quan điểm này v́ đă có định hướng cùng TQ bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc.
Ngày 16–17/1/1990, thực hiện quyết định của Bộ Chính Trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi Nông Pênh gặp 4 người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chia Xira[6], Hun–xen và Sor Kheng[7] để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khơ–me đỏ, nhưng phía Campuchia không đồng ư v́ tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bộ ta sẽ không c̣n vũ khí ǵ chống các luận điểm của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền Nông Pênh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.
Ngày 2/5/90 với danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ư kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lư bộ trưởng Từ Đôn Tín[8]. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Nghiêm Hoành lúc này đă là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc. Cuộc đàm phán không có mấy tiến triển về thực chất.
Về b́nh thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà ǵ với gợi ư của ta về việc xích lại gần hơn nữa giữa hai nước xă hội chủ nghĩa để cứu văn sự nghiệp xă hội chủ nghĩa chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà b́nh như các nước láng giềng khác.
Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuư nội bộ của Campuchia, đ̣i ta đàm phán về vi phạm quyền lực của Hội đồng dân tộc tối cao Campuchia (SNC) và về việc xử lư quân đội 4 bên Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là lập một chính phủ liên hiệp 4 bên–gọi là Hội đồng dân tộc tối cao cũng được–bằng không th́ phải chọn phương án giao quyền cho Liên Hiệp Quốc. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ư Khơ–me đỏ được chính thức coi là 1 bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn th́ nói là “các bên Campuchia” cũng được, không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. (Trong buổi làm việc với anh Đặng Nghiêm Hoành sáng 4/5, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ư này: Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được). Từ nói: nếu so sánh giữa phương án chính thức liên hiệp lâm thời đỏ, Trung Quốc đề ra và phương án Liên Hiệp Quốc quản lư th́ chúng tôi vẫn thấy phương án của TQ là tốt hơn. Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ư đe dọa là nếu cứ khẳng định Khơ–me đỏ phạm tội th́ phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Nông Pênh là ngụy quyền, cho nên không nên nói đến vấn đề đó nữa.
Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rơ ư đồ muốn Hội đồng Dân tộc tối cao thực tế sẽ thay thế Chính phủ Nông Pênh; c̣n quân đội của “4 bên” Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải pháp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa, mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà Nước Campuchia. Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchia vừa phân hoá quan hệ Việt Nam–Campuchia. Để tránh đi ngay vào chuyện hóc búa này, anh Liêm nói sẽ đem hai vấn đề này về bàn nghiên cứu thêm rồi sẽ phát biểu. Đồng thời theo chỉ thị trên, ta đă nhận Việt Nam không nói đến từ “diệt chủng” nữa và sẽ t́m một công thức khác thích hợp để nói về vấn đề đó. Phía Trung Quốc c̣n đề nghị lănh đạo Việt Nam nên gặp Sihanouk như Sihanouk đă ngỏ ư để “tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giải pháp”. Đáng suy nghĩ là Từ Đôn Tín đă gợi ư là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia th́ 3 nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chúng tỏ là Thái Lan giữ một vai tṛ không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khơ–me đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề CPC.
Phần v́ t́nh thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần v́ hài ḷng với cuộc gặp này, Tiền Kỳ Tham đồng ư đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà Nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ư kiến với ta. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt–Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh. Động thái này đă được lănh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam.
[1]
(13.12.1920, Naseng – 21.11.1992, Vientiane) mẹ người Laos,
bố Việt Nam, Kaysone học luật tại Hà Nội, trở về làm lănh
tụ Pathet Lao. 1975 lật đổ chính phủ hoàng gia
Laos. Thủ tướng CHDCND
Laos (1975–91), Chủ tịch (1991–92) – "Kaysone
Phomvihan." Britannica Concise Encyclopedia. 2004.
Encyclopædia Britannica Premium Service. 29 Jan. 2004
http://www.britannica.com/ebc/article?eu=394304.
[2]
Biên tập gạch ngang
[3] Australia
[4] Algérie
[5] Ngoại Giao
[6]
Semdech Chea Sim, Kampuchean People's Revolutionary Party. Đến 1991,
thay Heng Samrin là chủ tịch đảng với tên
mới là Đảng Nhân Dân Cambodia (Cambodian People's Party,
CPP)
[7]
Sar Kheng, Phó Thủ tướng kiêm đồng Bộ trưởng
nội vụ chính phủ Cambodia
[8]
Xu Dunxin (1934–), Thứ trưởng ngoại giao (1991–1993);
Thành viên Ủy Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân
Dân Trung Quốc (1998–2003)