Ngày 6.12.1988, sau chuyến đi Liên Xô của ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham[1], Liên Xô đă thông báo lại cho ta là “các phát biểu của Tiền về vấn đề Campuchia đă có thay đổi chừng nào, chứng tỏ Bắc Kinh đang dần dần nhận thức thấy việc đạt giải pháp cho vấn đề Campuchia kịch bản của Trung Quốc là không thực tế và Trung Quốc đang từ bỏ đường lối kéo dài cuộc xung đột. Về giải pháp, Trung Quốc đồng ư với Liên Xô là việc rút quân Việt Nam là một bộ phận trong giải pháp; về các vấn đề nội bộ của Campuchia, Trung Quốc cho rằng “phải được giải quyết bởi bản thân nhân dân Campuchia trên cơ sở hoà hợp dân tộc, không có sự can thiệp từ bên ngoài”. Song Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ về việc lập chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu, giảm dần đi đến giải tán quân đội của cả 4 bên Campuchia; thực chất là xoá nguyên trạng ở Campuchia.
Ngày 24.12.1988, trả lời thư ngày 15/12 của Bộ trưởng ngoại giao ta, phía Trung Quốc mời một thứ trưởng ngoại giao Việt Nam tới Bắc Kinh để trao đổi ư kiến giữa thứ trưởng ngoại giao hai nước chuẩn bị cho cuộc gặp cấp ngoại trưởng Trung–Việt. Sau 10 năm đối đầu gay gắt và sau 8 năm một mực từ chối đàm phán với ta, đây là lần đầu Trung Quốc nhận đàm phán với Việt Nam về vấn đề Campuchia và về b́nh thường hoá quan hệ hai nước, thực hiện bước chuyển sách lược ở Đông Nam Á phục vụ cho việc chuyển chiến lược chung của Trung Quốc trên thế giới và trong quan hệ với Xô, Mỹ. Sự điều chỉnh chiến lược này đă được xác định tại Hội nghị Bộ Chính Trị ĐCS Trung Quốc ở Bắc Đới Hà tháng 9 năm 1988, và được công khai hoá tại Quốc hội Trung Quốc tháng 3/1989. Sự điều chỉnh chiến lược lần này diễn ra trong t́nh h́nh thế giới cũng như t́nh h́nh Đông Nam Á và Campuchia đă có những thay đổi to lớn, đặc biệt từ năm 1987. Quan hệ Xô–Mỹ từ năm 1987 đă được cải thiện nhiều, h́nh thành thế hai cực giải quyết công việc thế giới và cả châu Á. Trung Quốc không c̣n lợi dụng được mâu thuẫn Xô–Mỹ như trước; đồng thời quan hệ Trung–Xô cải thiện chậm so với quan hệ Mỹ–Xô, làm cho vị trí của Trung Quốc bị yếu trong quan hệ giữa ba nước lớn. Mặt khác việc Xô–Mỹ giảm cam kết quân sự ở bên ngoài đă thúc đẩy xu thế độc lập của các nước khác, làm tăng xu hướng hợp tác khu vực để giải quyết các vấn đề khu vực. Quan hệ giữa các nước Đông Nam Á từ năm 1987 đă từ t́nh trạng đối đầu chuyển từng bước sang vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại ḥa b́nh. Các cuộc họp JIM1 và JIM2 (Jakarta Informal Meeting) đă giải quyết được mặt quốc tế của vấn đề CPC và tạo khuôn khổ hợp tác giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á để giải quyết các vấn đề khu vực. Đặc biệt chính quyền Chaticha ở Thái Lan lúc này quyết tâm tách khỏi chính sách đối đầu của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thực hiện chính sách “biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường”. Trong t́nh h́nh đó, việc Trung Quốc tiếp tục chính sách gây căng thẳng trên đất liền và trên biển ở khu vực này chỉ làm tăng mối lo ngại đối với nguy cơ bá quyền của Trung Quốc. Với việc quân Việt Nam đă rút 3 phần tư và sẽ rút hết vào tháng 9/1989, cốt lơi của vấn đề Campuchia không c̣n là vấn đề rút quân Việt Nam nữa mà trở thành vấn đề làm sao loại trừ chế độ diệt chủng Polpot. Những biến đổi to lớn này buộc Trung Quốc phải chuyển từ chỗ kéo dài đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Liên Xô để lợi dụng mâu thuẫn Xô–Mỹ và tranh thủ vốn và kỹ thuật của Mỹ sang xúc tiến b́nh thường hoá toàn diện quan hệ với Liên Xô, giữ cân bằng giữa quan hệ của họ với Xô và với Mỹ, đồng thời từng bước cải thiện quan hệ với các nước láng giềng để tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc cải thiện thế của Trung Quốc trên thế giới và châu Á.
Tháng 1/1989, ta nối lại đàm phán với Trung Quốc để cố gắng b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc đồng thời khẳng định thái độ ủng hộ Nhà nước Campuchia giữ vững thành quả cách mạng.
Ngày 5/1/1989, TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam sang Nông Pênh dự lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Cộng Hoà Nhân Dân Campuchia. Ngay chiều hôm đó (16 giờ) TBT Nguyễn Văn Linh đă có cuộc hội đàm với Heng Somrin tại Hoàng Cung. Heng Somrin thông báo: “Bộ Chính trị (CPC) đă nhất trí sẽ tiếp tục tấn công ngoại giao trên cơ sở rút quân Việt Nam đồng thời với việc ngăn chặn viện trợ quân sự nước ngoài giúp bọn Khơ–me đối địch, chấm dứt mọi sự can thiệp vào cách mạng CPC … tạo điều kiện thuận lợi cho hoà đàm Việt Nam–Trung Quốc, Liên Xô–Trung Quốc, đẩy mạnh thương thuyết CPC–Thái Lan. Chúng ta phải có một lịch rút quân mới, trong đó nếu có một giải pháp chính trị, ta sẽ tuyên bố rút hết (quân Việt Nam) không chậm quá tháng 9/1990. Nếu Việt Nam đồng ư, sẽ tuyên bố trong diễn văn của tôi và của đồng chí ngày mai”. Nguyễn Văn Linh tán thành và đề nghị thông báo lại cho Liên Xô và Lào biết. Ngay chiều tối hôm đó anh Linh đă bảo tôi sửa lại bài diễn văn của anh theo như hai bên đă thoả thuận.
Sáng 6/1/1989, trong buổi mit–ting[2] long trọng. Tổng bí thư Heng Somrin tuyên bố: CPC và VN đă thỏa thuận là nếu có giải pháp chính trị th́ quân VN sẽ rút hết, chậm nhất là vào tháng 9/1990. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng tuyên bố: VN hoàn toàn nhất trí với CPC sẽ rút toàn bộ quân VN c̣n lại vào cuối tháng 9/1990. Việc rút hết quân phải song song với việc chấm dứt viện trợ của nước ngoài, chấm dứt việc sử dụng lănh thổ nước ngoài chống CPC, tiến hành dưới sự kiểm soát quốc tế.
Qua những cuộc trao đổi giữa ta với bạn, là một thành viên trong đoàn Việt Nam, tôi đă dự cảm chừng nào những khó khăn khi đi sâu vào giải pháp. Lănh đạo CPC có phần quá tự tin, muốn ta hoàn toàn ủng hộ bạn ăn cả; c̣n ta lại thiên về giải quyết vấn đề CPC một cách thuận lợi cho cải thiện quan hệ Việt–Trung.
Trong nửa đầu năm 1989, đă có hai ṿng đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao giữa ta với Trung Quốc (Đinh Nho Liêm và Lưu Thuật Khanh) tại Bắc Kinh. Ṿng đầu (16 19.1.1989). Trung Quốc chỉ trao đổi lướt qua về quan hệ hai nước rồi lại tập trung đàm phán vấn đề Campuchia. Hai bên thoả thuận tương đối nhanh mấy vấn đề về mặt quốc tế của giải pháp CPC (rút quân VN, giám sát quốc tế, chấm dứt viện trợ quân sự, tổng tuyển cử). Hai bên đồng ư thúc đẩy các bên CPC thương lượng để sớm đạt giải pháp CPC. TQ cho là mặt quốc tế cơ bản đă xong, muốn ta thỏa thuận hướng giải quyết mặt nội bộ của giải pháp CPC, chủ yếu là hai vấn đề chính quyền và vấn đề quân đội của các bên CPC trong thời kỳ qúa độ (thời gian ngừng bắn cho đến tổng tuyển cử); cho nên có thảo luận và đạt kết quả này th́ mới có giải pháp, nếu không th́ mặt quốc tế có thỏa thuận cũng không giải quyết được và khó bàn quan hệ hai nước. Lập trường của ta là của vấn đề nội bộ Campuchia phải do các bên Campuchia giải quyết. Đáng chú ư là Tiền Kỳ Tham khi tiếp Đinh Nho Liêm có nói: “4 nước Trung Quốc, Liên Xô, Việt Nam, Thái Lan là những nước có liên quan trực tiếp, có trách nhiệm về vấn đề CPC cần thỏa thuận với nhau về chính quyền lâm thời 4 bên Campuchia trong thời kỳ quá độ th́ mới giải quyết được vấn đề Campuchia”. Họ nói đă bàn với Liên Xô và Liên Xô đă nhất trí nguyên tắc này.
Ngày 11/2/1989, BCT họp bàn đề án
đấu tranh về vấn đề CPC theo hướng:
- tách và giải quyết từng bước
mặt quốc tế và mặt nội bộ của
vấn đề Campuchia;
- gắn việc giải quyết vấn
đề CPC với yêu cầu kiến lập hoà b́nh
ở Đông Nam Á;
- triển khai các diễn đàn:
Việt–Trung (ṿng 2), JIM2, 4 bên CPC, Thái–SOC, Việt –Thái,
Việt–Mỹ;
Trên tinh thần đó, ngày 15/2/1989, tôi cùng mấy cán bộ CP87 bay đi Gia–các–ta họp Nhóm Làm việc (Working Group) để chuẩn bị cho cuộc họp JIM 2 (19–21/2/1989) với các thành phần cũng như JIM1 các bên CPC, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN. Hội nghị khẳng định lại kết quả đạt được năm trước JIM 1(25 28/7/1988) và nhất trí là vấn đề CPC phải được giải quyết bằng một giải pháp chính trị góp phần vào việc thiết lập có chủ quyền, hoà b́nh, trung lập và không liên kết trên cơ sở quyền tự quyết và hoà hợp dân tộc. Hội nghị nhất trí cần triệu tập Hội nghị quốc tế về CPC để bàn và đi đến một giải pháp chính trị toàn diện, công bằng và hợp lư cho vấn đề CPC.
Ngày 14.3.1989 BCT họp quyết định rút hết quân khỏi CPC vào cuối tháng 9/1989 và thúc đẩy diễn đàn Hun–xen–Sihanouk.
Sang ṿng 2 (8–10.5.1989) vẫn tại Bắc Kinh, cuộc đàm phán vấp ngay vào hai tảng đá lớn vấn đề diệt chủng và việc xử lư các vấn đề nội bộ của CPC. Phía Trung Quốc đ̣i ta thỏa thuận về nguyên tắc hai vấn đề thuộc mặt nội bộ CPC: lập chính phủ liên hiệp lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu, đóng kết và giảm quân đội của 4 bên CPC. Đàm phán kết thúc mà không đi đến kết quả ǵ. Phía TQ đề nghị tạm thời chưa tính đến đàm phán ṿng 3. Tiền Kỳ Tham nói với Đinh Nho Liêm rồi sau đó công bố: b́nh thường hoá quan hệ hai nước chỉ có thể thực hiện sau khi vấn đề CPC đă được giải quyết, không phải là trước đó. Sau này Trung Quốc đă nói toạc ra rằng: Việt Nam không những phải rút hết quân khỏi Campuchia mà c̣n có trách nhiệm giải quyết những hậu quả của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia, cụ thể là xoá chính quyền và quân đội CHND CPC đă được h́nh thành sau khi quân Việt Nam vào Nông Pênh đánh đuổi bọn Polpot.
Việc Trung Quốc nối lại đàm phán với Việt Nam lúc này, mà phía Trung Quốc gọi là gặp gỡ nội bộ, theo tôi, mục đích chính là để biểu diễn cho thế giới thấy là TQ đă nắm con chủ bài giảiquyết vấn đề CPC.
[1] Qian Qichen (1928–) Phó Thủ Tướng
Quốc vụ viện từ 1993, ủy viên của Bộ
Chính Trị, Trung Ương Đảng CS Trung Quốc khóa
14 (1992–97) và 15 (1997–2002). Không c̣n là ủy viên trung
ương đảng CSTQ khóa 16 (2002–) http://www.chinavitae.com/biography_display.php?id=414
[2] Meeting