Trước t́nh h́nh quốc tế và khu vực ngày càng rối rắm phức tạp, vấn đề CPC đă được quốc tế hoá cao, chúng tôi không thể không cùng nhau rà lại những nhân tố cơ bản trước khi đưa ra những phương án giải quyết. Qua phân tích t́nh h́nh, chúng tôi thấy việc giải quyết vấn đề CPC nay đă quốc tế hoá cao nằm trong lợi ích không những phe phái CPC mà c̣n đụng đến lợi ích của các nước trong khu vực và chịu ảnh hưởng tính toán chiến lược của các nước lớn trên thế giới nữa. Cho nên những lực lượng trực tiếp can dự vào việc giải quyết vấn đề Campuchia có thể phân thành 3 tầng: Tầng 1 gồm 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An, chủ yếu là ba nước lớn: Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ. Tầng 2 gồm các nước Đông Nam Á, chủ yếu là Việt Nam và Thái Lan. Tầng 3 là các bên Campuchia gồm Nhà nước Campuchia (SOC[1]) và 3 phái trong cái gọi là “Campuchia Dân Chủ”. Thoạt nh́n tưởng chừng như các phe phái CPC và những nước kế cận phải giữ vai tṛ quyết định vấn đề CPC v́ có lợi ích “sát sườn”[2]. Nhưng nếu suy xét thật thấu đáo th́ mới thấy giữ vai tṛ quyết định lại là các nước lớn. Việc nghiên cứu giải pháp của chúng tôi tất nhiên phải tập trung vào theo dơi sát những nhân tố trực tiếp trong tầng thứ ba, nhưng không thể bỏ sót những động thái trong mối quan hệ giữa các nước thuộc tầng thứ nhất.
Để có được phương hướng hành động giữa lúc nhiều nhận thức về đối ngoại của ta khi đó c̣n trong t́nh trạng tranh tối tranh sáng, chúng tôi đă tổ chức những buổi thảo luận trong nội bộ CP87 với tinh thần tự do tư tưởng để có thể nh́n thấy được thực chất của sự việc. Trong lúc nhận thức con người về thế giới bên ngoài c̣n bị chi phối bởi cảm tính mạnh hơn lư trí, người ta dễ xem nhẹ thực chất vấn đề mà hướng theo những hiện tượng nhất thời. Sau sự kiện Trường Sa 1988 mà hải quân Trung Quốc đă gây tổn thất khá nặng cho hải quân ta và việc Trung Quốc tiếp tục gây căng thẳng trong quan hệ với ta, bác bỏ các đề nghị của ta cải thiện quan hệ giữa hai nước, trong nội bộ ta đă xuất hiện những ư kiến khác nhau. Không khí chung lúc đầu là không thuận lợi cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc theo tinh thần Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị. Ta nh́n mặt bành trướng bá quyền của Trung Quốc đậm nét hơn mặt xă hội chủ nghĩa. Nhiều ư kiến cho rằng trong khi Trung Quốc đang chống ta trong vấn đề Campuchia và t́m cách lấn chiếm biên giới hải đảo của ta, việc ta quyết định rút quân khỏi Campuchia, sửa Lời nói đầu của Điều lệ Đảng là hữu khuynh trong quan hệ với Trung Quốc. Chủ trương của Bộ Chính trị về giảm tuyên truyền chống Trung Quốc cũng không được thực hiện đầy đủ. Ngày 20.5.1987, với tinh thần thực sự cầu thị, Bộ Ngoại Giao làm tờ tŕnh lên Bộ Chính trị kiến nghị sửa Lời nói đầu của Hiến pháp, bỏ chỗ nói Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất như đă sửa Điều lệ Đảng, măi tới 26.8.1988 Quốc Hội mới có nghị quyết thông qua việc sửa này. Có người c̣n nói mỉa: có phải Ngoại giao định quỳ gối trước Trung Quốc không”. Nhưng rồi sang năm 1989, khi bắt đầu cuộc khủng hoảng trong phe xă hội chủ nghĩa, một số ngành trong Trung Ương ta và ngay trong Bộ Chính trị lại xuất hiện những ư kiến khác nhau về đánh giá sự kiện Thiên An Môn cũng như đánh giá t́nh h́nh Liên Xô–Đông Âu. Lúc này luận điểm được dùng lại là: “dù bành trướng thế nào Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.
Tôi và anh em trong bộ phận thường trực CP87 đă mất khá nhiều thời giờ tranh luận về thực chất Trung Quốc là xă hội chủ nghĩa hay bành trướng bá quyền? mặt nào là chính trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc? “chủ nghĩa xă hội mang màu sắc Trung Quốc” cụ thể là ǵ? Trung Quốc muốn ǵ trong vấn đề Campuchia? muốn ǵ khi nuôi dưỡng bè lũ Khơ–me đỏ chống Việt Nam? ư đồ của Trung Quốc đối với Việt Nam?
Chúng tôi thấy rằng: Trung Quốc ngày nay có hai mặt, mặt xă hội chủ nghĩa và mặt bành trướng bá quyền. Tính chất xă hội chủ nghĩa thể hiện tương đối rơ nét hơn về chính sách đối nội, ở cơ cấu xă hội, cơ cấu kinh tế của họ. C̣n đường lối đối ngoại của Trung Quốc lại mang tính chất cổ truyền của họ là bành trướng bá quyền. Cái bất biến của Trung Quốc là tham vọng bá quyền. Nhưng những cái mà Trung Quốc sử dụng làm công cụ để thực hiện chính sách đó lại là “vạn biến”. Tùy theo lợi ích của họ trong từng lúc mà một nước nào đó có thể được Trung Quốc coi là bạn hay là thù. Tại Đông Nam Á, khi Trung Quốc muốn chống hay gây sức ép với chính quyền tư sản các nước này th́ họ lập ra, hoặc giúp đỡ lập ra các đảng cộng sản Mao–it[3] ở Thái Lan, Miến Điện[4], Mă–lai[5], v.v…; khi Trung Quốc thấy cần tranh thủ các chính quyền tư sản khu vực này th́ ta đă thấy các đảng cộng sản đó lần lượt tiêu tan để phục vụ cho mục đích của Trung Quốc. Rồi sau sự kiện Thiên An Môn[6], để xoa dịu phản ứng của Mỹ và phương Tây, Trung Quốc hy sinh nốt Đảng Cộng sản Mă–lai theo lệnh của Bắc Kinh, tổng bí thư đảng này là Trần B́nh gốc Trung Quốc, đă ra kư kết đầu hàng chính quyền Ma–lay–xia và giải tán đảng Cộng sản.
Trường hợp Khơ–me đỏ sau này cũng vậy, theo tờ “Ư thức Khơ–me[7]“ ngày 17/10/2000 dưới đầu đề “Trung Quốc giết Pôn Pốt[8] để đe dọa những chỉ huy Khơ–me đỏ c̣n lại buộc trở về với Hun–xen[9] viết “Sau khi đi gặp Sứ quán Trung Quốc tại Bangkok, Pôn Pốt chết không phải do bệnh tật cũng không phải do Hun–xen mà chết do thuốc độc của Trung Quốc (?). Bởi v́ Trung Quốc vận động các chỉ huy Khơ–me đỏ trở về với chế độ của Thủ tướng Hun–xen không được nên đă giết Pôn Pốt để đe dọa những chỉ huy Khơ–me đỏ khác… Sở dĩ Trung Quốc muốn các chỉ huy Khơ–me đỏ trở về với Hun–xen v́ TQ đă chọn Hun–xen làm con bài có lợi về chính trị cho họ sau khi Pôn Pốt không c̣n ư nghĩa đối với họ nữa”.
Trong lịch sử 50 năm của nước C.H.N.D. Trung Hoa th́ có hơn 30 năm Trung Quốc hết chống Liên Xô lại chống Việt Nam. Trên cơ sở đó, tôi hoài nghi là liệu có thể đứng trên lư tưởng chung xă hội chủ nghĩa để tranh thủ Trung Quốc được chăng?
Trong khi nghiên cứu ư đồ Trung
Quốc đối với Việt Nam và trong vấn đề
Campuchia, chúng tôi đă thử liệt kê những thay đổi
trong lập trường của Trung Quốc về việc
nối lại đàm phán b́nh thường hoá quan hệ
với ta trong thời gian 1980–1988. Kết quả cho
thấy là từ khi Trung Quốc đơn phương
chấm dứt ṿng 2 đàm phán Việt –Trung về b́nh
thường hoá quan hệ hai nước vào ngày 8.3.1980,
Trung Quốc đă luôn luôn nâng cao điều kiện
nối lại đàm phán với Việt Nam:
A (1980–9/1985) Trung Quốc đ̣i ta rút
hết quân khỏi CPC th́ sẵn sàng nối lại đàm
phán
- Tháng 10.1982, tại ṿng 1 đàm phán Xô–Trung,
Trung Quốc trao cho Liên Xô bản đề nghị 5 điểm
về vấn đề Campuchia trong đó điểm 2 nói:
Việt Nam tuyên bố rút hoàn toàn. Trung Quốc sẽ
tiến hành tham khảo với Việt Nam về b́nh thường
hoá quan hệ hai nước ngay sau khi Việt Nam rút
những đơn vị đầu tiên. Tháng 3.1983, Trung
Quốc đưa ra công khai đề nghị này.
- Sau chiến dịch pháo kích và tập kích
quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới miền Bắc
nước ta kéo dài 3 tháng (tháng 4–6.1984), Trung Quốc tuyên
bố: chỉ cần Việt Nam hứa rút quân khỏi
Campuchia th́ hai bên sẽ mở đàm phán.
B Từ tháng 9/1985 đến cuối năm
1985 khi ta tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Campuchia
trong năm 1990, Trung Quốc lại không nói “sẵn sàng
đàm phán” với ta nữa, mà chỉ nói sẽ nói
chuyện qua đại sứ hai bên.
- Ngày 6.9.1985, đại sứ quán Trung
Quốc tại Hà Nội gửi công hàm trả lời công
hàm ngày 21.8.85 của Bộ Ngoại Giao trong đó nói:
“Việt Nam tuyên bố thời gian rút quân kéo dài đến
1990 và đặt điều kiện vô lư cho việc rút
quân, như vậy là chưa có thiện chí. Đàm phán
giữa hai nước với bất cứ h́nh thức nào
cũng khó đạt kết quả. Nếu Việt Nam có
vấn đề ǵ cần nói th́ cứ chuyển qua đại
sứ hai bên”.
C Từ cuối 1985 đến tháng 3.1986,
Trung Quốc một mặt vẫn đ̣i ta cam kết rút
quân nhưng đưa thêm điều kiện là nếu
Việt Nam không loại trừ lực lượng Polpot th́
Trung Quốc sẽ đàm phán ngay với Việt Nam.
- Ngày 18.12.1985, lănh tụ Rumani Ceausescu[10]
sau khi thăm Trung Quốc thông báo với anh Hoàng Tùng để
chuyển Tổng Bí Thư Lê Duẩn: “Trung Quốc
sẽ đàm phán ngay với Việt Nam, nếu Việt Nam
đồng ư không loại trừ lực lượng
Polpot. Đàm phán sẽ bắt đầu trong khi Việt
Nam chưa rút hết quân khỏi Campuchia, song cần cam
kết rút hết”.
D Từ tháng 3.1986 (khi 3 phái Khơ–me
phản động đưa đề nghị 8 điểm)
đến nay (6.1987) Trung Quốc đ̣i Việt Nam rút
hết quân nhưng đ̣i Việt Nam nói chuyện với
“Chính phủ liên hiệp CPC dân chủ” và với
Sihanouk, c̣n Trung Quốc chỉ đàm phán trực tiếp
với Việt Nam sau khi vấn đề Campuchia được
giải quyết theo cách của Trung Quốc.
- Ngày 25.8.1986, thứ trưởng
ngoại giao Trung Quốc Lưu Thuật Khanh nói với
vụ phó Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại Giao ta Vũ
Thuần: Trung Quốc không thể thay mặt Campuchia để
bàn với Việt Nam vấn đề Campuchia được,
Việt Nam phải bàn với Campuchia Dân chủ.
- Tháng 10.1986, TBT Hồ Diệu Bang[11]
nói với Honecker[12] đang thăm Trung
Quốc “Lúc đầu Trung Quốc nghĩ có thể
đàm phán (với Việt Nam) trước, rút quân sau. Nhưng
sau tính lại nhiều lần, Trung Quốc quyết định
Việt Nam phải rút quân trước, sau đó mới
đàm phán. Đây là phương án tốt nhất,
nếu không sẽ tác động không tốt tới ASEAN
và 3 phái (Sihanouk, Son San[13]
và Khơ–me đỏ)”.
- Ngày 14.5.1987, Đặng Tiểu B́nh
tiếp Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc De Cuellar và
nhờ ông ta chuyển cho ta một “thông điệp
miệng” (message oral): chỉ khi nào vấn đề
Campuchia được giải quyết theo cách này
(Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, lập chính phủ liên
hiệp 4 bên gồm Sihanouk, Son San Khieu Samphon[14],
Heng Xamrin[15]; do Sihanouk đứng
đầu) th́ Trung Quốc mới đàm phán trực
tiếp với Việt Nam. Đàm phán như vậy sẽ
bao gồm cả vấn đề b́nh thường hoá quan
hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. C̣n trước
đó th́ mọi cuộc đàm phán trực tiếp đều
không thể có được.
Như vậy là từ sau khi đơn
phương cắt đứt cuộc đàm phán (sau khi
Trung Quốc gây chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng
2/1979, ta đă có 2 ṿng đàm phán với Trung Quốc: ṿng
1 từ 18/4 đến 18/5/1979 tại Hà Nội; ṿng 2
từ 28/6/79 đến 6/3/80 tại Bắc Kinh) từ năm
1980 đến cuối năm 1988, đă ngót hai chục
lần Việt Nam gửi thư hoặc công hàm cho Trung
Quốc đề nghị nối lại đàm phán nhưng
đều bị Trung Quốc bác với lư do này hoặc lư
do khác. Và Trung Quốc nâng cao dần điều kiện lên
(tựu chung là về quân sự đ̣i Việt Nam rút quân,
về chính trị đ̣i Việt Nam chấp nhận
việc lập chính phủ liên hiệp ở Campuchia, bao
gồm cả Khơ–me đỏ). Trong khi thoái thác đàm
phán với ta, Trung Quốc xúc tiến đàm phán b́nh thường
hoá quan hệ với Liên Xô (từ tháng 10.1982) và với Lào
(từ cuối 1986) để cô lập và ép Việt Nam.
Đặc biệt là thông qua đàm phán với Liên Xô.
Sau khi Gorbachov lên làm tổng bí thư Đảng cộng
sản Liên Xô (11/3/1985). Xô–Trung bắt đầu bàn
đến vấn đề Campuchia trong ṿng đàm phán
thứ 7 ở Bắc Kinh (4–20/10/1985), Trung Quốc thể
hiện ngay thái độ làm cao, không nói đến đàm
phán với Việt Nam nữa để gia tăng sức
ép đối với Việt Nam về vấn đề
Campuchia. Trong ṿng 10 đàm phán Xô–Trung ở Mạc–tư–khoa
(7.2.1987), Trung Quốc nêu lại “3 trở ngại” trong
việc b́nh thường quan hệ với Liên Xô mà
trở ngại lớn nhất là việc Việt Nam xâm lược
Campuchia. Và cũng từ đó, các lần gặp gỡ Xô–Trung
đều tập trung bàn vấn đề Campuchia và công
khai hoá điều đó.
[1] State of Cambodia
[2] “vested interest”
[3] Maoist
[4] Myanmar
[5]
Malaysia
[6]
Quảng trường Tiananmen nơi hang ngàn thanh niên
thiếu nữ TQ bị quân đội nhân dân đàn áp
trong cuộc vận động đ̣i tự do dân chủ
từ tháng 4 đến tháng 6.1989
[7]
Moneakseka Khmer (Khmer Conscience)
[8]
Pol Pot, lănh tụ Khmers Đỏ
[9]
Samdech Hun Sen
[10]
Nicolae Andruta Ceausescu (26.1.1918–25.12.1989). Nicolae cùng vợ là
Elena (thành viên BCT đảng CS Romania) bị bắt và
xử bắn sau cuộc cách mạng lật đổ
chế độ độc tài và đảng CS Romania.
[11]
Tổng Bí Thư (1980–1987) Hu Yaobang (1915–15.4.1989)
[12]
Erich Honecker (August 25, 1912 – May 29, 1994),
[13]
Son Sann (5.10.1911, Phnom
Penh, Cambodia—19.12. 2000, Paris, France) – Lănh tụ MTGPQGND Khmer
(KPNLF)
[14]
Khieu Samphan (27.7.1931–) Tổng Tư Lệnh QĐ Khmer Đỏ,
Quốc Trưởng Cambodia (14.4.1976–7.1.1979)
[15]
Heng Samrin – Quốc Trưởng Cambodia (1979–1991)