Identité
Cách đây hai năm, nhân đang làm một công-tác, chúng tôi có hỏi các anh, chị trên diễn-đàn y-sĩ làm sao dịch tiếng identité. Các anh, chị đề-nghị rất nhiều tiếng: lư-lịch, căn-cước, diện-mạo, bản-chất, bộ mặt thực, v..v.. Các tiếng đó đều có cái ư identité ở dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Lí-lịch, trong Việt-Nam tự-điển, giải là chức-nghiệp, sự-trạng của một người. Từ-điển tiếng Việt viết là Lư-lịch: nguồn gốc và lịch sử. Nói chung, lư-lịch ghi nguồn-gốc: tên cha mẹ, ngày và nơi sinh; kỹ hơn th́ nguyên-quán, sinh-quán, trú-quán. Căn-cước là giấy ghi những đặc-điểm trong lư-lịch và thường có ghi thêm các đặc-điểm nhân-dạng để phân-biệt một người với mọi người khác. Cái đặc-biệt nhân-dạng có khi thay bằng ảnh để nhận ra khi cần. Lư-lịch và căn-cước có tính-cách tĩnh, chú-ư tới khía-cạnh sinh-vật (bio-logique) hay hành-chánh; thường không chú-ư đến mặt tinh-thần hay kinh-nghiệm. Nên có thêm chữ lai-lịch kể gốc-tích đầu đuôi,(VNTD) hay nguyên do và con đường trải qua, như là học-vấn, công-việc đă làm, chức-vụ đă nắm, đời sống từ trước đến nay, áng chừng thu-nhập được những kinh-nghiệm ǵ v..v..
Thí-dụ căn-cước ghi lư-lịch tên Nguyễn văn Mỗ, cha là Nguyễn văn Kèo, mẹ là Trần thị Cột, nguyên-quán Nguyễn xá, Thái-b́nh; sinh-quán Sài-g̣n, nay trú-quán là quận Cam, bang Cali, Hoa-kỳ-quốc. Mỗ có cái thẹo chéo trên trán bên phải và nốt ruồi đuôi mắt tay trái.
Về lai-lịch sẽ ghi thêm Mỗ động-viên,
sau vào ngành Thiết-giáp, đóng Trung-úy, một thời làm quận-trưởng; sau chuyển sang quân-y, chuyên về ngành mổ-xẻ. Sau năm 75, bị cộng-sản giam-giữ trong trại cải-tạo bẩy năm. Ở cùng trại với thầy Chân Châm, học được đông-y và châm-cứu. Vượt biển sang Hoa-kỳ, nay hành nghề châm-cứu cứu-nhân độ-thế ở quận Cam.
Sống trong xă-hội đảo-điên, có nhân-vật trong xă-hội hay đóng kịch nên muốn tố-cáo họ, ta thường nói lột mặt nạ, vạch-trần cái bản-chất của kẻ nọ. Bản-chất, bộ mặt thật trong những hoàn-cảnh đó, cũng có chứa-đụng phần nào cái identité. Bản-chất hay bản-tính chỉ đặc-tính sâu-xa quyết-định những biểu-hiệu bề ngoài hay những cư-xử có tính-cách biểu-hiệu trong xă-hội. Đối với ư lột mặt nạ, người ta đôi khi dùng bộ mặt thật hay con tim đen để chỉ cái tâm-tính thực-sự của người bị quan-sát. Có người nói kẻ bị quan-sát v́ chủ-quan nên không biết rơ ḿnh; người quan-sát nh́n từ bên ngoài, vô-tư nên khách-quan hơn và thấy rơ bản-chất hay bộ mặt thực của kẻ bị quan-sát. Nhưng chính người quan-sát, nghĩ ḿnh vô-tư, trên thực-tế lại chủquan trong niềm tin thầm-kín của ḿnh. Nên cái mà người quan-sát gọi là bản-chất hay bộ-mặt-thực nó có tính-cách gán-ghép và phê-đoán, từ bên ngoài ép lên đương-sự. Đương-sự trở thành nạn-nhân chịu-đựng tiê thực-tế
Thí-dụ một bài đả-kích đề là: X và Y,hai người là ai? Lột mặt nạ tên tḥ-ḷ chính-trị X, vạch trần bộ mặt thật của Y, tố-cáo bản-chất tham-nhũng và dối-trá của hai con mọt nước... Người "lột" và "vạch" tích-cực và chắc cũng có thiên-kiến.
Có cái bản-chất, không phải do người ngoài (hay xă-hội) gán-ghép mà do chính
ḿnh cảm thấy cho ḿnh. Tự cái cảm thấy đó, rồi tự phân-tách xem có đúng như ḿnh muốn không. Nếu chưa ưng-ư, ḿnh có thể sửa-sai cho vừa ư. Vậy bản-chất có biến-chuyển thay-đổi. Khi vừa ư rồi th́ ḿnh nhận lấy làm thật; rồi cư-xử một cách tương-xứng với cái bản-chất cảm và nhận đó.
Tựa như người nọ, một sáng đẹp trời, thấy ḿnh bản-chất là Việt-Nam, vậy yêu tiếng nước ḿnh, bèn lên giọng hát: Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi tôi mới ra đời; không thể hát Moi yêu tiếng nước moi từ khi moi mới ra đời.
Thay v́ bộ mặt thật, có người đưa chữ diện-mạo. Diện-mạo chỉ diện-mục, vẻ mặt nói chung, phản-ành tâm-tính, trí
tuệ. Tiếng diện đôi khi gây ngộ-nhận là mặt, bề ngoài. Cho nên có người ưa tiếng tướng-mạo v́ nó gợi lên cả h́nh-hài ở thể tĩnh lẫn phong-thái trong thể động. Nhưng tướng-mạo lại là do người ngoài nhận-xét vá gán-ghép.
Những hàng chữ trên đây đảo qua cách dịch identité; không phải là đề-tài để tranh luận hay bàn-thảo mà chỉ là để đóng khung ư identité chúng tôi dùng trong bài này. Đó là
bản-chất hay cá-tính của một người, do chính nhân-vật đó tự cảm thấy và nhận lấy; rồi từ đó, xử-sự một cách hợp-lư với cái cá-tính ḿnh
chấp-nhận.
So-sánh hoàn-cảnh Kim Lefèvre và Linda Lê
Cả hai cùng là phụ-nữ dị-chủng (lai Việt-Pháp), cùng đă rời Viết-Nam ở lớp tuổi trẻ để tiếp-tục sinh-sống, theo học rồi tốt-nghiệp tại Pháp. Cả hai đều thành-công trong trong xă-hội, Kim Lefèvre trở thành giáo-sư, Linda Lê phục-vụ trong ngành xuất-bản. Cả hai đều viết tiếng Pháp và đều thành-công trong lănh-vực viết văn. Và cả hai đều có thể tiếp-tục cuộc sống thoải-mái trong xă-hội hiện-tại.
Nhưng cả hai đều cùng có những ưu-tư về t́nh-trạng "con-lai" của ḿnh. Và bỗng khởi đầu hành-tŕnh t́m về nguồn-gốc và identité của ḿnh sau tháng tư 1975, khi một số khá đông-đảo người Việt tỵ-nạn kích-thích óc quan-sát của hai bà, đánh-thức tiềm-thức gốc-nguồn trong họ. Hăy thử so-sánh hành-tŕnh của hai vị.
Hành-tŕnh Kim Lefèvre
Kim Lefèvre thành-công và được xă-hội Pháp tiếp-nhận như một người ngoại-quốc có học, họ không lư đến việc Kim có bà mẹ da-vàng: bà ta ở quê bà ta xa-lắc trong khi Kim, nhờ hoàn-cảnh được học-bổng du-học, sống yên-ổn bên quê nội. Một cuộc sống kể như b́nh-thản. có người thân-yêu bên ḿnh chia-sẻ ngọt-bùi và yểm-trợ. Và Kim Lefèvre cứ thản-nhiên sống... không mảy may đặt vấn-đề ḿnh là người Pháp lai hay ḿnh là người Việt hoàn toàn. Nhưng v́ đám dân Việt tỵ-nạn đông-đảo ở vài khu phố Paris khiến Kim chợt nhớ ra t́nh-trạng con-lai của ḿnh. Không phải là Tây-lai như nói ở trên, Tây-lai-vàng hay Tây-lai-đen mà là ta-lai-trắng, do đó đề cuốn sách đầu tay của Kim là La métisse blanche, nói lên quan-điểm bên ngoại của ḿnh, chứ không phải từ góc nh́n thông-thường quen-thuộc của xă-hội bên nội.
Góc nh́n mới lạ với độc-giả Âu-tây gây nên sự chú-ư đặc-biệt về mặt tiếp-nhận ở Pháp; nhận-định ta-lai xích Kim Lefèvre về gần với Việt-Nam. Chuyến về thăm quê ngoại được đánh dấu bởi một cuốn sách mới, Retour À La Saison De Pluie. Về với nước, với người Việt, Kim Lefèvre nẩy sinh ư muốn trở về với tiếng mẹ đẻ. Trong giai-đoạn hiện-tại, qua việc dịch-thuật, giới-thiệu nhiều tác-phẩm Việt qua tiếng Pháp. Kim Lefèvre có một cuộc trở về nguồn êm-ả, nhiều thành-công và vui-vẻ hơn là trắc-trở, khó-khăn.
Vấn-đề cần nói là chiến-lược đi t́m identité của Kim Lefèvre qua cách "hợp-lư-hóa" t́nh-trạng con-lai của ḿnh. Đầu-tiên là phấn-đấu để giành được vị-trí thuận-lợi sang Pháp học, mặc-dầu từ buổi bé thơ,... luôn chịu sự khinh-bỉ, hắt-hủi, đôi khi cà sự căm-thù. Kim Lefèvre đă tuân theo mọi luật-lệ của xă-hội nên có thể hănh-diện và tự-tin khi viết Điều giành được ấy (vị-trí đặc-biệt đi du-học) tôi (đă) phải trả giá đắt. Thánh-công rồi mới viết tự-truyện và tiểu-luận giải-thích tại sao có con lai. Không phải giản-dị về mặt sinh-học như sự pha-giống trong pḥng thí-nghiệm giữa con chuột bạch và con chuột xám, hạt đậu vỏ nhẵn và vỏ sần-sùi. Mà là hậu-quả tự-nhiên của công-cuộc xây-dựng các đế-quốc da trắng với chính-sách thuộc-địa. T́nh-trạng con-lai không c̣n là một sự nhầm-lẫn (aberration) hay tai-nạn ngẫu-nhiên. Nó có nguyên-do vững-chắc trong giấc mộng và mưu-toan vĩ-đại của con người- hay của một giống người-muốn ngự-trị bền-lâu và rộng-lớn trên thế-giới. Kim Lefèvre nói như là kết-luận: Tôi đă chứng-minh sự vô-tội của tôi.
Ngược ḍng thời-gian, Kim Lefèvre phân-tách thế-hệ những bà mẹ của con-lai, khi tŕnh-bày hoàn-cảnh các
Èves jaunes có tên là Thị Ba và Thị Ngâu. Kim Lefèvre leo lên một bậc cao hơn trong thời-gian và trên các thế-hệ để hợp-thức-hóa sự hiện-hữu của những
Solanges và những Jeanines. Gián-tiếp nói: thế-hệ các bà mẹ cũng vô-tội.
Và tiếp-tục tiến xa hơn nữa, ở tầm-cỡ quốc-tế và vĩnh-cửu, vượt thời-gian và cả không-gian, Kim Lefèvre viết
Moi, Marina.. kể lại cuộc đời của một người đàn bà thổ dân ở châu Mỹ La Tinh vào thế kỷ mười sáu, khi Mễ Tây Cơ bị Tây Ban Nha xâm lược
Trong khuôn-khổ đi t́m identité, nhờ có sự thanh-thản trong ḷng, do thành-công ngoài đời, Kim Lefèvre đă phóng tầm mắt ra ngoài, phân-tách sự-kiện xă-hội và lịch-sử, mở rộng chân trời để vinh-thăng identité của ḿnh: Kim Lefèvre vạch rơ cái lẽ thường-t́nh của t́nh-trạng con-lai, vui thích khi nhận rơ vị-trí thuận-tiện làm gạch nối giữa quê nội và quê ngoại; rồi bắt tay làm việc chuyển-ngữ các tác-phẩm Việt sang Pháp-ngữ trong khi chờ đợi một cuộc về-nguồn trọn-vẹn với những tác-phẩm quốc-ngữ của chính ḿnh.
Hành-tŕnh Linda Lê
Đường đời của Linda Lê gập-ghềnh khúc-khuỷu hơn. Lên sáu, cô rời thiên-đường Đa-lạt - nơi có ông cha anh-hùng - và rớt xuống địa-ngục Sài-g̣n cho tới khi về Pháp với mẹ và các chị, bỏ lại ông cha bây-giờ thành một biểu-hiệu của thất-bại khốn-cùng. Một người cha có hai h́nh-ảnh bị gia-đ́nh ruồng bỏ. Ở Pháp với một bầy chị-em, một bà mẹ cosmopolite của bốn phương, chắc không có uy-tín vững-chắc và vị-trí rơ-rệt. Gia-đ́nh bập-bềnh phiêu-lưu không có tính-chất ổn-định của gia-đ́nh có người cha lèo-lái. Linda cũng vươn lên và tạo thành-công riêng. Nhưng luôn mang theo một mặc-cảm đă bỏ rơi ông cha chết cô-đơn. Và hồi-tưởng lại, Linda không biết đâu là chân-tướng thật của cha: anh-hùng hay khốn-cùng.
Bỗng h́nh-dáng một người cha khác xuất-hiện: người cha sinh-vật (biologique) và là người t́nh của bà mẹ cosmopolite: người cha mới này cũng có hai bộ mặt: hào-hoa phong-nhă và giết người như không. Và người t́nh này của mẹ đă lẹ-làng ruồng-bỏ đứa con rơi.
Cái ṿng oan-nghiệt trói buộc: cha trước ḿnh bỏ, cha sau bỏ ḿnh. Mỗi cha phân-tâm thành hai chân-tướng. Đi t́m identité, Linda c̣n phải đi t́m cả cái mặt thật của người cha thật. Mà trong hai người đó, ai là cha thật? Biết t́m ai để mà hỏi? Đi hỏi ông chú khùng khùng mà gia-đ́nh - và bà mẹ cosmopolite - đă tống vào nhà điên. H́nh như không có lối thoát.
Chiến-lược của Linda là một sự vùng-vẫy đối nội. Calomnies không có người kể chuyện (narrateur) mà gồm hai độc-thoại: độc-thoại của người chú khùng với những bật-mí tủn-mủn; và độc-thoại khắc-khoải của người nữ đi t́m gốc-gác của ḿnh. Độc-thoại, như các loại tác-phẩm nhật-kư hay bản thú-tội, có cái chân-thật dễ gây thương-xót cảm-t́nh. Kim Lefèvre mở tông ra ngoài xă-hội và ném cái nh́n bao-quát vào thời-gian và không-gian. Linda trái lại, khép ḿnh cúi xuống truy-xét tâm-hồn, tra-vấn hoàn-cảnh ḿnh; khi bí, đi hỏi ông chú khùng. Kim Lefèvre nhận ra identité và xử-sự đúng với vị-trí ḿnh đang đứng: nhận vai-tṛ gạch-nối. Linda Lê vùng-vẫy, vật-lộn, đay-nghiến, rồi thất-vọng, thất-bại, buông xuôi và bỏ ra đi. Ra đi như một trốn-tránh. Nhưng cũng có thể sẽ là một cuộc truy-tầm mới và vô-vọng khác. Như người chú nói: Thời đệ-nhất ảo-tưởng đả qua, thời đệ-nhị ảo-tưởng đang tới. Nhưng cũng có thể là cuộc giải-phóng toàn-thể qua việc ly-cách với các ràng-buộc quá-khứ.
Có thể là do yếu-tố di-truyền - trong ḍng họ này, luôn có vài người bệnh tâm-trí ở mỗi thế-hệ; có thể là v́ hoàn-cành gia-đ́nh - gà mái súy gà cồ, người cha thầm-lặng bị bỏ lại, người mẹ gáy không nên bài, gia-đ́nh phiêu-lưu không hướng; nhưng cũng có thể chính v́ cá-nhân không có số phú-quư ổn-định cổ-điển nên ḷng hay vương-vấn, thích những chuyện đau-ḷng cắt ruột từ lúc bé, để cho cái t́nh khống-chế, khư khư ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong vậy nên những chỗ thong dong ở không yên ổn ngồi không vững vàng. Rồi lại lên đường!
Cuộc đi t́m identité của hai người nữ, thực ra, cũng là một đoạn-đường mà chính một số người tỵ-nạn chúng ta, đă hay đang c̣n ṃ-t́m lối đi, cho ḿnh, và cho thế-hệ sau ḿnh.
Résumé
La quête didentitte
Nous acceptons pour cette étude la définition d'identité comme l'image d'un
individu, vu et choisi par lui-même- et non accolé à lui par dautres- Il se
conduit donc en accord avec l'image choisie, quitte à prendre des petites
modifications dattitudes et dhabitudes dans le but de cohéfinition d’identité comme l’image
Au cours de sa quête didentité dans Métisse Blanche, Kim Lefèvre s'est
attribuée le rôle de liaison naturelle entre deux cultures. Avec quiétude et
sérénité, elle démontra la nature normale du métissage dans le grand schème
politique globale ; elle défendit aussi les sentiments et les liens des femmes
locales avec les conquérants. Elle a présenté son cas particulier, celui de
sa mère, puis a abordé le cas général des Vietnamiennes de la génération
précédente. Dans Moi, Marina..., elle a étendu la normalité à Marina,
prouvant ainsi que son point de vue porte une vérité universelle, indéte d’identité dans Métisse Blanche,
l'espace.
L'hérone de Calomnies na pas atteint la sérénité de Kim Lefèvre. Au lieu de
jeter la vue sur le monde extérieur, elle se concentrait sur son monde intérieur
dans un monologue introspectif, pleine de souvenirs douloureux, de révulsions
et de regrets à la pensée du père abandonné. Sa quête fut aussi une
poursuite dillusions qui devait aboutir à une impasse. (Ou une libération des
attaches anciennes aux deux cultures du passé.) Cela est aussi du en partie à
la nature de l'auteur qui "a toujours préféré lhistoire de la Petite
Fille aux Allumettes à celle du Petit Chaperon Rouge" à cause de la fin
malheureuse du récit.
Summary
The quest for identity
In this short article, we accept the definition of identity as self-image, chosen by the individual and not attributed to him by society. Once the image has been accepted, the individual has to adjust his habits and attitudes for the sake of coherence and consistency with the chosen image.
In Métisse Blanche, Kim Lefèvre gave herself the role of natural liaison between two cultures. With calm and serenity, she demonstrated the normalcy of interbreeding (mixed-race) in the politics of overseas domination. She presented her own case, her mother’s and the one of women from previous generations. In
Moi, Marina..., she extended the normalcy to this Mexican woman from another era, proving that her viewpoint contains an universal truthr.The heroin of Calomnies did not possess this serenity of mind and heart. Instead of looking toward the outside world, she has just concentrated on her own, through a monologue filled with sad memories and with regrets at the thoughts of the abandoned father and a lost lifestyle at the homeland. Her quest was in fact a pursuit of illusions and it consequently led to nowhere. (It could also be seen as complete liberation from old attachments to either competing cultures.) This is in fact due to her pessimistic nature: she had always preferred the story of The Little Match Girl to the one of Little Red Riding Hood (because of the sad ending).