Kỷ-niệm tản-mạn
Các nhà nghiên-cứu văn-học nói chung ít khi, hay thường không nhắc đến ḍng văn-học Pháp-ngữ bởi v́ một số không công-nhận văn-phẩm tiếng ngoại-quốc lại nằm trong văn-học nước nhà. Nếu có nói đến như trong Nguồn gốc văn học Việt Nam của Lê văn Siêu th́ chỉ để mà dè-bỉu
Vấn-đề ấy là: Không kể vào văn-học sử nước nhà những tác-phẩm viết bằng chữ ngoại-quốc tức như chữ Hán, chữ Pháp...xét ở nội-dung th́ ta thấy có chữ ngoại-quốc và chữ ngoại-quốc...
Người Pháp bắt dân ta học chữ Pháp (để dễ cai-trị)...Chữ Hán không do người Tầu đem qua đây bắt dân ta học để làm lợi-khí thống-trị (như chữ Pháp). Mà từ trước, từ lâu lắm, chữ Hán đă do người Bách-việt ở Dương-Tử mang về theo...Không thể cho là "cá mè một lứa" những văn-phẩm bằng chữ Hán ấy và những văn-phẩm viết bằng chữ Pháp bây-giờ
Trong Tổng tập Văn học Việt Nam, thấy có cái nh́n rộng-răi hơn, đưa thí-dụ để nhận ḍng văn-học ngoại-ngữ trong nền văn-học nước nhà; nhưng ngay sau đó lại có những nhận-định rất xu-nịnh nên ư sau đă hại cho ư trước
Việc dùng tiếng Pháp hay tiếng Anh để viết văn là một hiện-tượng không hiếm trong thế giới thứ ba ngày nay. Ở các nước Ấn-độ, Árập, châu Phi v.v..có các ḍng văn-học viết bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Anh, và ở các nước ấy, người ta vẫn coi các tác-phẩm văn-học ấy như là thuộc nền văn-học dân-tộc. Ở nước ta, các tác-giả viết văn Pháp không nhiều lắm. Nổi bật lên hàng đầu các tác-giả này là Nguyễn Ái Quốc (tr.204-5)
T́m kỹ th́ thấy có Nguyễn Vỹ, nhà báo, nhà văn và nhà thơ tiền-chiến, lúc về già, viết một thiên hồi-kư, mà ông đă gọi là "chứng-dẫn một thời-đại, của một người đă bước trong lịch-tŕnh hăng-say của Thế-hệ Văn-học Cận-kim". Nhan-đề rộng-răi: Văn-thi-sĩ tiền-chiến. Sau phần đầu dầy hai phần ba sách, giới-thiệu một số văn-thi-sĩ tác-giả đă gặp, 35 vị, phần hai dành 55 trang nói về văn-học Phá ?chứng-dẫn một thời-đại,
Khảo-cứu về ḍng văn-học quốc-ngữ cũng như Pháp-ngữ, thường phải ghi-nhận vai-tṛ tiền-phong của báo-chí. Nguyễn Vỹ nhắc đến các báo định-kỳ hoàn-toàn Pháp-ngữ hay có một phần đáng kể viết bằng Pháp-ngữ: La Patrie Annamite do Phạm lê Bổng làm chủ-nhiệm và Tôn-thất B́nh, chủ bút, L'Annam nouveau của Nguyễn văn Vĩnh, chủ-nhiệm kiêm chủ-bút, Nam-phong của PhạmQuỳnh, Le people, Le Misogyne, Gazette de Huế của Bùi huy Tín, chủ-nhiệm và Nguyễn tiến Lăng, chủ-bút, La Revue Franco-Annamite, Bạch-nga Le Cygne của chính Nguyễn Vỹ và Trương Tửu, Essor "mà chủ bút là một thiếu-nữ mới thi đỗ Tú-tài nhưng rất giỏi Pháp-văn, là cô Tâm Kính", L'Avenir "của người Pháp", L'Effort Indochinois của Vũ đ́nh Dy, Le Travail và En Avant, "hai cơ quan chiến đấu, hoàn toàn do đảng Cộng sản điều khiển". Lại kể thêm các nhật-báo : L'avenir du Tonkin, La Volonté Indochinoise, France-Indochine, L'Indé-pendance Tonkinoise, L'Ami du Peuple Indochinois. Xem bảng liệt-kê th́ thấy có vẻ phong-phú, nhưng trên thực-tế, th́ khác. Có những báo do nhà cầm quyền điều-khiển, quá thân Pháp nên không được giới đọc hưởng-ứng và t, L’Annam nouveau
bị dân chúng coi như những cơ quan
ninh bợ chính quyền, và không gây được một ảnh hưởng nào đáng kể. Những tờ báo ấy cũng nói đến Văn học, Khoa học, tra-cứu Lịch-sử, Văn-hóa, v.v... và in trên giấy tốt, chữ đẹp, giá bán rẻ, nhưng ít người mua.
Các báo khác có khi cũng chỉ ra ngắn hạn, như Le Misogyne
in bằng mực tím...gây một không-khí mới lạ, linh động, trẻ trung, hay trêu ghẹo, bao biếm (sic) các cô "Tiểu thư tân thời"... chỉ ra được mấy số, rồi không hiểu v́ lẽ ǵ tự nhiên đó ?Tiểu thư
Hay báo Le Cygne-Bạch-nga
ra được sáu số, rồi v́ một bài xă-thuyết chính trị chống chính sách thuộc địa, N.V. bị 6 tháng tù, 1000 quan tiền phạt, và tờ báo bị Ṭa án bắt đóng cửa luôn.
Sau phần báo-chí tiếng Pháp, Nguyễn Vỹ nhắc đến một số văn-sĩ Việt viết tiếng Pháp. Ba người tiêu-biểu là Phạm duy Khiêm, thạc-sĩ văn-phạm, Nguyễn mạnh Tường, tiến-sĩ văn-chương và luật và Nguyễn tiến Lăng. Hai người trên gọi là "Les retournés de France" (giới ở Pháp về) c̣n người thứ ba, tú-tài nội-địa nhưng đă được tiếng là viết văn Pháp hay. Phạm duy Khiêm có tác-phẩm nổi tiếng Légendes des Terres Sereines Nguyên Vỹ viết tôi khuyên ông nên dịch ra Việt-ngữ, ông cũng từ-chối sau họ Phạm được cử làm đại-sứ Việt-Nam tại Phá “Les retournés de France”
Phạm duy Khiêm, con trai của Phạm duy Tốn (một nhà văn học lăo thành ở Bắc Hà), đă hoàn toàn bị chi-phối bởi Văn-học Pháp, không c̣n mốt chút thông cảm nào với văn hóa dân-tộc Việt Nam...Theo nhận xét thô sơ của tôi (Nguyễn Vỹ) th́ văn của Ông Thạc sĩ Phạm duy Khiêm quả thật là lối văn cổ điển tuyệt tác, "lối văn Hàn-lâm-viện" không chê vào đâu được, nhưng không cảm-động, không hấp dẫn không làm xao xuyến tâm hồn người đọc, bởi v́ nó thiếu cái chất mà chính tác giả nó thiếu: là nhựa sống của ḍng mác, ?lối văn
Nguyễn mạnh Tường viết Sourires et Larmes dune jeunesse, Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée. Ông làm giáo-sư trung-học rồi bất-măn, ra hành-nghề luật-sư. Nguyễn tiến Lăng là bí-thư của toàn-quyền Robin rồi chuyển sang làm bí-thư cho Nam-phương Hoàng-hậu, "tiến mau lẹ trên đường hoạn-lộ". Bị Việt-minh bắt giữ, ông thoát được rồi sang Pháp, tiếp-tục viết hồi-kư, Nous avons choisi l'amour.
Nguyễn tiến Lăng viết quyển L'indochine la Douce, một quyển phóng sự hồi kư..(và) c̣n là tác giả một truyện ngắn Euridyce. (Cuốn) Tôi chọn t́nh yêu... không c̣n hương vị thơ mộng hồn nhiên như trong các tác phẩm của anh hồi Tiền chiến... Thành thực, tôi (Nguyễn Vỹ) rất tiếc. Trước sự kiện một thanh-niên Việt Nam rất thông minh có thiên tài, có học thức sâu rộng biến thành một người gần như "mất cội rễ",- déraciné -, chúng ta không thể nào đổ lỗi cho nước Pháp, hoặc người Pháp, bởi v́ nước Việt Nam đă độc lập rồi, không có ǵ ngăn cản người trí thức Việt Nam...trở lại vị-trí của ḿnh giữa cộng đồng quốc gia, ở giữa dân tộc, dù rằng ḿnh đă tiêm nhiễm khá nhiều văn hóa Âu tâ viết
Một người cũng từ Pháp về được Nguyễn Vỹ cao giọng ngợi khen là Hoàng xuân Hăn, "học giả chân chính, theo đuổi một mục đích tốt đn,"
Hoàng xuân Hăn biết đem sở trường và thiện chí văn hóa của ông mà phụng sự thiết thực cho Văn học nước nhà. Ông tra cứu tài liệu để viết vài ba quyển sách có ích-lợi cho học vấn, cho sự bồi bổ giá trị tinh thần của dân tộc.
Nguyễn Vỹ kể tiếp các văn-sĩ khác, phần lớn bắt đầu viết ở các báo trước. Phạm văn Kư "viết thơ nhiều hơn là văn", cuốn thơ Une voix sur la voie có tính-cách thơ "huyền-bí"?
Chúng ta phải công nhận rằng trên địa-hạt Thi-văn Việt Nam, Phạm văn Kỷ là tiền phong và đại diện độc đáo của Thi-phái Siêu-thực (Surrealisme) ảnh hưởng của Pháp, giữa lúc Thi ca Việt ngữ mới bắt đầu thoát ra khỏi Thơ Đường-luật và áp dụng cú pháp Âu tây, mà người ta gọi là THƠ MỚI.
Trần văn Tùng, sinh-viên cao-đẳng luật-khoa Hà-nội, thường đăng bài
trong L' Annam nouveau, sau sang Pháp "ở luôn bên
đó, chuyên viết về Pháp-văi"
Một vài quyển của anh vừa mới xuất bản ở Paris dạo này chứng tỏ rằng nhà văn Việt Nam có chân tài ấy hiện giờ không c̣n thông cảm được nữa với các biến đổi rơ rệt và toàn diện của dân tộc Việt nam từ 20 năm nay.
Cung-giũ-Nguyên, (Nguyễn Vỹ hay viết là Cung giũ Nguyên), hồi
tiến-chiến, "chủ-trương một
tập-san văn-nghệ bằng Pháp-văn, nhan-đề
là Les Cahiers de la Jeunesse", sau này viết cuốn sách cũng nổi tiếng , Les fils de la
baleine.
Pháp-văn của ông rất thanh-thoát và gọn-gàng. Ông có một nét bút linh-động uyển chuyển, vô cùng hấp dẫn. Ông kể chuyện duyên dáng về đời sống chất phác, dịu hiền rất đáng mến của một gia đ́nh thuyền chài ở một làng duyên hải Trung phần Việt Nam. Tôi (người viết Nguyễn Vỹ) chắc rằng đốc-giả Pháp đă thưởng thức lối văn rất thi vị nhẹ nhàng và thanh thú của chuyện (Người con của Cá Ông)
Nguyễn Vỹ cũng nhắc qua, mà không nói nhiều, về một số người viết trên các báo như Lê tài Triển, Nguyễn đức Bính, Đào đăng Vỹ trong La Patrie Annamite, Vũ đ́nh Dy (tác-giả Souvenirs de Prison), Đinh xuân Tiếu trong L'Effort Indo-chinois, Lê Thăng trong L'Annam Nouveau...
Chúng tôi ghi chép và trích dẫn nhiều các lời phê-b́nh của Nguyễn Vỹ như là để cống-hiến một số tài-liệu. Đấy là những nhận xét chủ-quan, dựa vào trí nhớ của một nhà văn-thi-sĩ, có sống qua thời-đại đó. Những nhận-xét có phần chủ-quan, chỉ muốn thấy các văn-sĩ phải trở lại viết Việt-ngữ, và các tác-phẩm phải có mục-đích ích-lợi và phải có "cái nhựa sống của ḍng má “cái nhựa Nam".
Công việc của Nguyễn Vỹ không có tích-cách khai-phá như việc làm của các nhà phê-b́nh Vũ ngọc Phan và Hoài Thanh. Hai vị này cũng viết về các văn-thi-sĩ cùng thời, rồi phân-loại và sắp-xếp. Công việc dĩ nhiên là khó v́ chưa có ai làm; lại khó hơn v́ thời-gian quá gần, các giá-trị chưa được rơ-rệt. Họ đặt những tiêu-chuẩn ta có thể không đồng ư, nhưng trong hệ-thống tiêu-chuẩn đó, họ cố-gắng công-b́nh và vô-tư. Nguyễn Vỹ, trái lại, kể-lể lại các kỷ-niệm tản-mạn với một số văn-sĩ mà họ Nguyễn đă gặp, không cần t́m-hiểu những người ông chưa biết: thành ra công-việc không có chiều rộng. Cái kinh-nghiệm cá-nhân mang nặng chủ-quan, lan-man ra nhiều chuyện sầm-x́ không liên-hệ đến văn-học: thành ra thiếu chiều sâu. Lại c̣n bị ảnh-hưởng t́nh-h́nh chính-trị nặng về tinh-thần dân-tộc, chống lại Pháp. Họ Nguyễn gặp người viết Pháp-ngữ, hỏi tại sao không viết tiếng ḿnh; rồi tiếc hùi-hụi. Gặp chuyện người ta viết hay, ông níu-kéo: "sao khôo: “sao không dịch ra"
Sẵn đây, tôi xin thân mến nhắn bạn làng văn cũ hối Tiền chiến hiện ở Paris, nhất là những anh Phạm văn Kư, Nguyễn tiến Lăng, Trần văn Tùng...tôi hy vọng các anh hăng hái trở về Văn học Việt Nam...mong mỏi được đọc những tác phẩm bằng Việt ngữ của các anh hơn là những tiểu thuyết viết bằng Pháp văn.
Rất tiếc, Phạm văn Kư cứ tiếp tục làm thơ Pháp văn măi...
Tôi cũng không khỏi thắc mắc v́ sao Cung-giũ-Nguyên không sản-xuất những tác phẩm bằng Việt văn?
(Nguyễn Vỹ)
15 năm sau, trong một bài viết văn-học-sử, Giáo-sư Bùi xuân Bảo, đă giải-thích điều mà Nguyễn Vỹ, v́ quá tha-thiết với tinh-thần quốc-gia, nên cứ luẩn-quẩn thắc-mắc: ấy là trong khoảng 1954-1974, ḍng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam có hai khuynh-hướng quốc-gia và vĩnh-cửu(double vocation nationaliste et universaliste)
Cái điểm rất hay của Nguyễn Vỹ là ông kể-lể kỷ-niệm cũ như một người đă rửa-tay-gác-kiếm nay thổ-lộ tâm-t́nh một cách rất chân-thật, nhớ đâu kể đó, không cần thêm-bớt, giữ-ư-giữ-tứ; họ Nguyễn đă vạch cho ta thấy nhiều h́nh-ảnh "vang-bóng-một-thời" khiến cho người sau hiểu và thông-cảm được cái không-khí chuyển-động của Văn-học các thập-niên 30 và 40. Các h́nh-ảnh có trong nhiều trang, lại được tác-giả đúc-kết và cô-đọng lại trong phần cuối tác-phẩm có tiêu-đề là Sinh-khí văn-nghệ tiền-chiến và Đời sống tinh thần và vật-chất của văn-thi-sĩ tiền-chiến. Không riêng ǵ người Hà-nội, mà nhiều người chúng ta, kể cả những người không-Hà-nội, cũng có thể rung-động cùng Nguyễn Vỹ khi nghe ông kênh-ảnh
Ôi, Hà-Nội! Hà-Nội tự do lăng mạn của ngày nào! Hà-Nội duyên dáng hiền ḥa, Hà-Nội yêu quư của tôi ơi!...
Ấy là thời kỳ tự do lăng mạn, kỳ-thú nhất trong văn-học-sử Việt-Nam.
Résumé Souvenirs dun écrivain de lépoque 30-60: Les auteurs vietnamiens écrivant en français souvent débutaient leur carrières dans la presse et lauteur donna une longue liste de journaux et périodiques dans le temps. Trois auteurs connus étaient Nguyễn tiến Lăng, jeune bachelier de formation locale, ayant obtenu quelque notoriété avec l'æuvre Eurydice; Phạm duy Khiêm, Normalien, agrége de grammaire, qui a connu des succès avec Légendes des terres sereines et Nguyễn mạnh Tường qui a obtenu un double doctorat de lettres et de droit a 22 ans, et qui donna, parmi dautres, Pierres de France và Sourires et Larmes dune jeunesse ; les deux derniers, furent appelés "les retournés de France" . Trần văn Tùng partit pour la France, y resta et y écrivit tandis que Cung giũ Nguyên resta au pays et produisit régulièSouvenirs
Summary Memories of an auteur of the period 30-60: Several authors writing in French started their career writing for periodicals and newspapers. A list of several French newspapers and periodicals was given. Three well known authors were Nguyễn tiến Lăng who as a young bachelor, had gained some notoriety with his first oeuvre Eurydice; Phạm duy Khiêm, agrégé in grammar, who got recognition with his Légendes des Terres Sereines; et Nguyễn mạnh Tường who obtained a double doctorate in literature and laws at the age of 22, event rare even for a French native. Tuong produisit among others, Pierre de France et Sourires et Larmes dune Jeunesse. Trân văn Tùng went to France, stayed and wrote at the metropole while Cung giũ Nguyên from Central Viet-nam, produced several titles on a regular basis.