Dòng văn-học Pháp-ngữ
Linda Lê

Linda Lê sinh năm 1963, sống vui-vẻ sáu năm tại Đà-lạt; sau gia-đình chuyển về Sài-gòn, sống tám năm. Trong khoảng sau này, gia-đình gặp nhiều chuyện lục-đục, bà mẹ mang mấy chị-em "hồi-hương" tại miệt Le Havre, tây-bắc Pháp khoảng 1977, hết liên-lạc với ông thân-sinh, gốc kỹ-sư; ông mất khoảng phần tư thế-kỷ sau không hề gặp mặt lại cô con gái lúc nhỏ rất gần-gũi với cha. Kể lại sự di-chuyển về Sài-gòn, Linda Lê so-sánh: "Tôi đã rời thiên-đường tuổi thơ (và rớt) xuống địa-ngục". Về ông thân-sinh, bà nói: "Hồi nhỏ, khi mẹ tôi bịnh, ba tôi hết sức lo cho tôi". Sau này, bà mẹ đã từ-bỏ ông, để ông lại một mình ở Việt-Nam. "Đối với gia-đình", Linda Lê nói tiếp, "ông là một kẻ thất bại, tủi nhục, đối với tôi, ông là một anh hùng". Linda Lê theo học dự-bị đại-học Lycée Henri IV, Paris; dự-định tiếp-tục cao-đẳng sư-phạm nhưng rẽ ngang và bắt đầu viết năm 21 tuổi. Bà làm việc tại nhà xuất-bản Hachette, viết bài giới-thiệu (préfaces).

Linda Lê viết tiếng Pháp, không thấy viết tiếng Việt. Các tác-phẩm được nhắc đến nhiều như Calomnies, Voix, và Lettre morte; ngoài ra còn có Un si tendre Vampire (1987), Fuir (1988), Solo (1988), Les Evangiles Du Crime (1992), Tu écriras sur le bonheur (1999) Les Trois Parques, Marina Tsvétaïéra, Autre jeux avec le feu, và Personne .

Nhận xét

Linda Lê mang nhiều ám-ảnh: bệnh điên trong gia-đình; người cha bị bỏ lại và đã chết cô-đơn; những cơn ác-mộng: "bị bóp cổ, bị chết ngạt"; "cảm-giác về một cái chết kế cận, cái chết trước cái chết, sự hư ruỗng, phân-hóa". Phần thì vì hoàn-cảnh và kỷ-niệm hồi thơ-ấu; phần thì do chính cá-tính tự-nhiên. Bà có kể rằng ngay từ thuở nhỏ, đã có tính đa-cảm u-sầu, thích chuyện Cô bé bán diêm hơn là chuyện Cô bé quàng khăn đỏ ; nhớn lên, vẫn mang theo cái lòng ưa-thích "những thứ chuyện mang đến tang tóc, tai ương." Và mang vào văn-chương những cái ám-ảnh, đam-mê, sầu-thảm đó, trình-bày, vân-vê, bóp-nặn như là một phương-thức thông-lợi hay tẩy-uế (catharsis ou purification). Khác với Kim Lefèvre phóng cái nhìn ra ngoài để phân-tích cái lai-lịch của những người cùng hoàn-cảnh con-lai qua quá-trình biến-hóa ở một không-gian và thời-gian khác, Linda Lê chủ hướng nội, phân-tách lòng mình, phần bộc-lộ, phần u-uẩn giấu kín; lại đem theo những khái-niêm thần-linh, huyền-thoại và phân-thân trong mưu-toan đi tìm hiểu chính mình. Trong Calomnies, Linda Lê đi tìm lai-lịch bằng cách trình-bày song-song người cha mà-gia-đình-chê-nhưng-mình-vẫn-kính-phục và người tình của mẹ, có thể chính là cha thiệt; người này cũng được phân thân thành hai: một kẻ thù bạo-ngược đồng thời là một kẻ tài-hoa, thưởng-thức nhạc và rượu một cách rất phong-nhã, rồi giữa cảnh phim hay và bài nhạc réo-rắt, nhẹ-nhàng bước ra ngoài đưa lệnh giết người phá nhà với giọng sẽ-sàng lịch-sự.

Cuộc tìm-kiếm thất-bại thê-thảm, không tìm được nguồn-gốc, gia-đình hay lối xóm, theo lời ông chú điên, họ chỉ còn cách đi lang-thang, sự ra-đi cũng là trốn-tránh và có thể sẽ lại bắt đầu một cuộc truy-tìm ám-ảnh mới. Nhưng cũng có thể là cuộc giải-phóng vì không còn bị ràng-buộc với xã-hội chung-quanh, cả Việt-Nam lẫn Pháp.

Les deux pères

Tout la (l’héroïne) persuade de se détourner du père, tout la convainc qu’elle se trouvera son salut qu’en se libérant des liens avec l’ascendance, mais elle veut continuer à se laisser manger par le fantôme du père. Auparavant, elle était hantée par ce père qu’elle croyait avoir trahi, abandonné. Maintenant, elle s’est dotée d’un nouveau père, et c’est elle qui se trouve dans la pose de l’abandonnée... Elle croyait aimer son père, elle ne faisait que se raconter l’amour porté à une illusion qui avait le nom de père. Avec le temps, elle s’en était lassée, elle commençait à ressentir le besoin d’un nouvel excitant. Et voilà que sa mère, comme par un fait exprès, lui procure un autre père à habiller. Celui-ci présente l’avantage d’être un étranger - perdu de vue, volatisé. Son portrait se résume à quelques indices. Un père dont elle ignore tout et dont elle se sert comme d’un nouveau rouage pour relancer sa machine à fabriquer des faux-semblants - depuis quel-que temps, celle-ci tournait à vide. Le règne d’Illusion Ier a pris fin, commence celui d’Illusion II. Qu’est-ce qu’elle s’imagine? Qu’elle va pouvoir s’exhiber avec deux pères, l’un cloué au sol du pays natal, l’autre étranger de passage. Le martyr et le flambeur. Le raté et le séducteur. D’un côté, le mari cramponné à sa terre et à la déveine, de l’autre le visiteur qui n’entre jamais en matière et ne sort que la tête haute. Sa mère lui a livré les deux portraits en vrac. Elle n’a qu’à choisir. Entre la nullité qu’aucun miracle n’a décrassé de sa poisse et le sauveur parachuté en pleine guerre pour l’affubler, elle, l’enfant prodigue, d’un prénom international...

Sa mère dit, Ton véritable père était un homme de parfaite éducation. (Ils se donnaient rendez-vous dans un hôtel de luxe. Une chambre réquisitionnée pour les plaisirs du gradé.)

Sa mère dit, Un vrai gentleman. (Elle s’asseyait au bord du lit, il se tenait devant elle, mettait un genou à terre, se penchait. Elle remontait légèrement les pans de sa robe. D’un geste doux, il saisissait sa cheville, enlevait la chaussure et baisait le pied.)

Sa mère dit, Un amant de première classe. (De la main gauche, il caressait la jambe de son grand amour de guerre, mais sa main droite n’oubliait pas qu’il y avait ailleurs une victoire à remporter - il claquait des doigts et des centaines de bombes se déversaient sur le Pays.)

Sa mère dit, Un homme sensible, délicat. (Les jours de permission, il s’en-fermait avec elle dans la chambre d’hôtel, laissant tourner les ventilateurs, écoutait la musique jusque tard dans la nuit, lisait de la poésie en buvant du champagne. La période de repos terminée, il fermait le livre, rangeait les disques, sortait de la chambre d’hôtel et donnait des ordres qu’on nettoie le Pays, qu’on procède en cadence à des exécutions. Pour ne pas entendre résonner la balle tirée en pleine tête d’un maquisard, l’homme délicat se récitait un poème d’Emily Dickinson, A coffin- is a small Domain.)

Sa mère dit, Un homme plein de fierté, de courage. (L’homme plein de courage affrontait les guet-apens, défiait les tireurs embusqués, montait en première ligne, mais il battit en retraite dès qu’il sentit menacé d’être père. Il dit, Je ne peux savoir si cet enfant est le mien ou celui de votre mari. L’homme plein de courage se retire du jeu. Avant de quitter le Pays, il laissa à l’enfant à naître un prénom international. Plus tard, il poussa la bravoure jusqu’à lui faire parvenir de la layette rose.)

Calomnies (pp:45-47)

Les gens de Nulle Part

Nous sommes de Nulle Part, elle (la nièce) et moi. Je ne rentrerai pas au Pays. Je serai le fou apatride. Là-bas, c’est le pays de la pendue (la soeur-amante qui s’est pendue). Et la mienne. Ici, il y a mon corps qui s’est abandonné à lui-même, et ma tête, qui cultive les souvenirs comme des fleurs vénéneuses. Si elle a un peu de bon sens, elle comprendra aussi qu’il n’y a pas de retour possible pour elle. Nous sommes de Nulle Part, elle et moi. Il faudrait qu’elle se mette ça dans la tête. Qu’elle cesse de croire qu’un jour elle trouvera une famille, une patrie. Le Pays n’a rien à lui donner, depuis que les hommes en noir ont chassé l’Etranger - ils sont les nouveaux pères du Pays. Ces pères-là n’ont que faire d’elle, qui a un prénom international. Ces pères-là n’ont que faire de moi, qui dans la folie ai bâti mon refuge. Nous sommes, elle et moi, des âmes errantes. Nos racines sont à fleur d’eau.

Calomnies (p:173)

(Tài-liệu tham-khảo: Văn, #30, 6-1999)

Résumé Linda Lê (1963-) était proche à son père vietnamien jusqu' à l'âge de 6 ans quand la famille quitta Dalat pour s'établir à Saigon. Plus tard, elle dit qu'elle était descendue à l'enfer. Ses parents se brouillaient et sa mère prit ses enfants, Linda et sæurs en France. Son père mourut seul et délaissé au Viết-Nam un quart de siècle plus tard. La vie en famille hors de Dalat n'avait jamais été facile ou heureuse pour Linda qui n'a pas fini son projet d'étude pédagogique. Elle écrit puis travailla à la librairie Hachette. Son æuvre Calomnies est une autobiographie romancée. Se suivent Voix, Lettre morte, Un si Tendre Vampire, Fuir, Solo, Les Evangiles Du Crime et Tu écriras sur le bonheur.

L'arrivée des réfugiés a posé la question didentité à la jeune fille qui décida à trouver ses racines. Ses souvenirs sont flous; elle alla demander des renseignements à un oncle que la famille a commis à un asile de fou. La quête fut difficile et exaspérante. Le ton du livre est dur et sarcastique. La recherche aboutit à une impasse : oncle et nièce ne sont que des âmes errantes et leurs racines sont à fleur d'eau.

Summary Linda Lê (1963-) was close to her father until the age of 6 when the family moved from Dalat to Saigon. Linda said that she had slipped down to hell with this family move. In Saigon, internal conflict tore the family apart. The mother took Linda and her sisters back to France. She never saw her father again until his death alone in Viet-Nam, a quarter of century later. He became an obsessive image in her memory. Linda did not complete her goal to become a teacher. Instead, she writes and works for Hachette Editions. Calomnies is a romanced autobiography. Other works are Voix, Lettre morte, Un si Tendre Vampire, Fuir, Solo, Les Evangiles Du Crime, Tu écriras sur le bonheur.

The arrival of refugees arouse the question of identity for the young woman who had to ask questions to her sole relative here, an uncle who had been placed in a asylum for mentally retarded patients. The quest for identity was unfruitful and frustrating. The tone of the book is harsh. Both uncle and niece are people of Nowhere.