Rời Việt-Nam năm 1961, theo học và trở thành giáo-sư văn-chương, Kim Lefèvre "cố tình không liên hệ với bạn bè Việt Nam, dần dần ...quên tiếng mẹ đẻ". Sau hai-muơi-mốt năm, bà bắt đầu viết "tự-truyện" và cuốn Métisse Blanche ra đời năm 1989. Thành-công ngay và đã được dịch ra tiếng Việt với đề Cô gái lai da trắng (mà chính tác-giả không hay). Lại được đón-nhận nồng-nhiệt hơn nưã. Cảm-động về sự đón nhận ở quê ngoại, bà "nẩy sinh ý muốn trở về với tiếng mẹ đẻ", nếu chưa sáng-tác thì ít nhất cũng hãy dịch-thuật. Và bà đã dịch Nguyễn huy Thiệp (Tướng về hưu, Trái tim hổ, Quỷ ở vói người, Sói trả thù), Dương thu Hương (Truyện tình kể trước bình-minh), Phan thị Vàng Anh (Khi người ta trẻ) và Nguyễn quang Lộc (Những mảnh tình đen trắng).
Đồng thời tiếp-tục sáng-tác bằng Pháp-ngữ, Retour à la Saison de Pluie (1992), ký-sự, dự-đoán và tiếp-nhận từ quê nhà sau ba thập-niên xa-cách và Moi, Marina, chuyện một phụ-nữ gốc bổn-xứ châu Mỹ-la-tinh yêu viên tướng Tân-ban-nha sang xâm-chiếm nước mình; và một tiểu-luận: Èves jaunes et colons blancs. (1994)
Nhận xét
"Đa số các nhà văn đều bắt đầu con đường sáng-tác bằng cách viết tự truyện", Kim Lefèvre nói. Tuy-nhiên, bà quyết-định chỉ chọn-lọc những chi-tiết đáng "chú-ý" và trình-bày theo mắt nhìn cuả "chính người Việt Nam", khác với những tác-giả Âu-tây thường nhìn từ bên ngoài vào. Do đó, đề dịch Cô gái lai da trắng đối với độc-giả tiếng Việt (da-vàng) có thể không gây chấn-động bằng đề nguyên-thuỷ Métisse blanche đối với độc-giả Âu-tây (da trắng). Kim Lefèvre đi từ phân-tách tâm-lý cá-nhân cuả một cô gái lai rồi nới rộng lên thế-hệ trên, người mẹ da-vàng mà người đời sống-sượng kêu là me-tây nhưng bà tế-nhị gọi là Èves jaunes. Khởi đầu, cô me-tây nhỏ tuổi có cái dáng-dấp con-nai-vàng-ngơ-ngác được ông Tây chuộng; sau trở thành người tình tạm-bợ chờ ngày bàn-giao cho người khác khi ông tây hết nhiệm-kỳ về nước. Nhưng về lâu về dài, người phụ-nữ da-vàng này trở thành nửa-người-làm-nửa vợ-bé, giống như các bà vú da-đen lâu đời coi hai ba thế-hệ ở Nam Hoa-kỳ, biến thành một điểm tưạ vững-chắc mà mọi người trong gia-đình phải cầu-cứu khi hữu-sự. Tiếp-tục đi xa hơn nưã, vượt lên cá-nhân và xứ-sở Việt-Nam, bà vươn lên tới tính nhân-bản có tính-cách vĩnh-cửu/toàn-thể (uni-versaliste) khi phân-tách tâm-trạng người phụ-nữ yêu kẻ thù xâm-chiếm nước mình.
Đây là một phân-tách tâm-lý xã-hội thông-thường do sự nhạy-cảm cuả một người nữ trước những nghịch-cảnh giới nữ phải gánh chịu? (voix féminine, empathie) hay là một hành-trình-cực-hình nội-tâm để giải-toả nỗi u-uẩn, như người cổ Hy-lạp đi xem bi-hùng-kịch (purge)? Kim Lefèvre có nói không có mặc-cảm khi sống tại Pháp nhưng ở Việt-Nam thì khác hẳn:"Bên ngoại cuả tôi, vì thương nưả dòng máu Việt chảy trong tôi nên ghét cái phần Pháp trong tôi. Tình-cảm bên ngoại sâu đậm cho nên đã vưà nuôi dưỡng đưá con lai là tôi lại vưà không chấp nhận tôi là Việt-Nam".
La con gai
Il me souvient d'une chanson entendue pendant ma petite enfance et dont les paroles disaient à peu prèIl me
C'est à Saigon que j'l'connue
Elle était toute menue
Et toute frêle, comme un roseau,
Dans son p’'tit kimono.
Je lui dis, à ma jolie con gai:
Voulez-vous que nous nous promenions?
Prenant un air un peu canaille
Elle ne me disait pas "non".
Nous passâmes des heures bien douces
En pousse-pousse-pousse-pousse...
"Dao...dao..."
Je ne comprenais rien du tout.
"Dao...dao..."
Mais c'était si doux.
"Dao" qu’on lit ici s’écrit en réalité đau. Son sens en vietnamien est "avoir mal", au sens physique du terme. Petite fille, je me suis souvent demandé de quelle douleur la malheureuse con gai était victime. Je n’ai compris que très tardivement le sens graveleux de cette chanson et la nature de la relation entre le colon et la con gai, une relation ouø celle-ci semblait étrangère au jeu sexuel auquel elle se preâtait et n’en retirait non seulement aucune satisfaction mais de la souffrance. Les filles ainsi destinées au colon étaient généralement âgées de 16 à 22 ans environ, orphelines ou veuves ou encore paysannes chassées de la cam-pagne par la misère...(i)gnorantes, sans profession, désorientées...Nombre de ces filles qui échouaient dans le lit de l’homme blanc étaient parfaitement ignorantes des choses du sexe, si bien qu’elles avaient gardé de leur éducation traditionnelle une timidité, une fraîcheur propres à l’émouvoir. Aussi les préférait-il souvent aux Japonaises des maisons spécialisées, plus savantes et plus chères.
Peau blanche, misère jaune
Peau blanche mais misère jaune, ces enfants bâtards étaient encore plus méprisés que les Annamites. Souvent rejetés par ces derniers, ces eâtres sans appartenance sociale ressassaient leur rancœur contre les uns et les autres des deux camps.
Le rôle de leur mère dans la maison de une vingtaine d’années après son arrivée en France. Le recul du temps couplé avec le succès et la paix de l’âme son maître et amant ne manquaient pas d’ambiguïté. Elle finissait à la longue par faire partie de la famille, à la manière
de ces vieilles nourrices qui consacraient toute une vie à élever des générations successives. Le colon avait tendance à se laisser aller devant elle, si bien qu’elle connaissait toutes ses faiblesses. Cela lui donnait un pouvoir qui, pour eâtre occulte, n’en était pas moins réel. Le temps aidant, elle pouvait meâme devenir le pôle le plus solide de la famille, la personne vers laquelle on se tourne quand on doit faire face à l’adversité, celle à qui on pouvait tout demander et dont le dévouement était sans défaillance. C’était probablement pour la domestique-concubine une revanche et une fierté, celle de se savoir indispensable aux colons...
Le métis, quant à lui, se voyait renié par son père et ravalé au rang de domes-tique tandis que, sous ses yeux, les héritiers légitimes étaient traités en princes. Il se sentait victime de la pire des injustices. La haine peu à peu l’envahissait et finissait par le remplir tout entier...
Ainsi naquit une deuxième génération de "petites alliées", celle des Eurasiennes, nouvelles recrues sur le marché des femmes indigènes, les Jeanines, les Solanges, issues de leurs mères "anna-mites", les Thi Ba, les Thi Ngau.
Ces filles avaient aux yeux de l’homme blanc l’attrait du diable, un peu comme ces fruits provenant des greffes contre-nature, appétissants d’aspect mais dont on craint qu’ils ne contiennent quelque poison...
Entre les colons et leurs maîtresses métisses, se tissèrent des liens d’un type nouveau. Les relations étaient sans doute facilitées par l’usage commun de la langue française...(mais) les colons devaient à présent affronter des femmes chargées de rancoeur à l’égard de la race blanche qui les avait exclues...ces métisses reven-diquaient d’eâtre traitées par leurs amants sur le meâme pied que la femme blanche. Se considérant supérieures à leurs mères qu’elles méprisaient plus ou moins, haissant leurs pères qui les frustraient du festin des vainqueurs, ces filles déracinées et malheureuses, violentes et contra-dictoires, faisaient des maîtresses plus exigeantes, plus tourmentées, et bien plus difficiles à manipuler que les pures Indochinoises de l’ époque.
La bonne société française de la colonie les considérait comme redoutables dangers et les chargeait de défauts qui "leur venaient de l’atavisme de leur race", la race jaune, évidemment...
La violence de ces propos ...est un écho aux théories raciales répandues depuis le XIXe siècle par des auteurs tels que Gobineau, et qui dénonçaient la dégénérescence de l’espèce humaine en l’attribuant au métissage...
***Résumé
Kim Lefèvre n'a pas connu son père français et a vécu au début avec sa mère
au Viêt-Nam. Elle a souffert son état métissé. Elle a surmonté les
difficultés, gradué de l'école normale puis obtenu une bourse détudes à
Paris. Demeurée en France, elle enseignait et vivait tranquillement, sans
contact avec les Vietnamiens. Larrivée des réfugiés après 1975 a-t-il réveillé
ses souvenirs du pays maternel ou questionné son identité d'Eurasienne ? en
tout cas, La métisse blanche apparut. Après le succès, elle revint au
pays ; du voyage, elle produisit Retour à la saison de pluie. suivi deux
ans plus tard d'un article, Èves jaunes et colons blancs. Un nouveau livre a pour titre
Moi, Marina...
La métisse blanche, une autobiographie romancée, fut écrite plus une
vingtaine d'années après son arrivée en France. Le recul du temps couplé avec
le succès et la paix de l'âme ont permis à l'auteur de raconter ses malheurs
d'enfance avec calme, le ton est modéré bien qu'il y ait des détails parfois
assez "graphiques". En racontant son histoire - et celle des femmes de
la générations précédentes - l'auteur a montré q'uelle s'est délivrée des
complexes de métissage. Ses trois æuvres peuvent être considérés comme la
suite de déclarations fières : Moi, la métisse, Moi, l'Ève jaune et Moi, Marina...
Summary
Kin Lefèvre did not know his French father and was raised by her mother. She suffered discrimination by Vietnamese because of her mixed-race status. She surmounted all difficulties to succeed at Pedagogy college then obtained a scholarship for further studies in France. Elle stayed in Paris and taught literature. Elle did not keep close contact with Vietnamese communities until the massive arrival of refugees in 1975. She then wrote
La métisse blanche, went visit her maternal homeland and related the trip in
Retour à la saison de pluie. She also produced a short pièce, Èves jaunes et colons blancs et un roman, Moi, Marina...
La métisse blanche, an autobiography, was written two decades after her arrival in France. With the healing effect of time, coupled with her own success and with her mind at peace, the author related her childhood misfortunes with a calm tone although the book contains at times, very graphic details. By telling her story - and the ones of women from previous generations - the author got rid of the mixed-race complex. Her first oeuvres make a triad of proud statements: I the mixed-race, I the Asian Ève, and I, Marina (the Mexican Ève)...