Nguyễn mạnh Tường sinh năm 1909 tại Hà-nội; theo học chương-trình Pháp tại trường Albert Sarraut rồi sang Pháp học tiếp, thu được hai bằng tiến-sĩ văn-chương và luật lúc mới 22 tuổi. Lớn lên giữa truyền-thống gia-đình kiểu phương Đông và nền giáo-dục phương Tây, ông luôn tìm-cách hài-hòa hai nền tư-tưởng và văn-hóa này; nhưng cuối cùng, ông đi theo gót chân Montaigne, nhà tư-tưởng nhân-bản Pháp thời phục-hưng.
Ông nhận-xét rằng tư-tưởng phục-hưng dựa trên sự nhạy-cảm tế-nhị của cổ Hy-lạp, cách tổ-chức quy-củ của La-mã và tinh-thần cao-thượng vị-tha của Cơ-đốc-giáo. Âu-châu, đặt-biệt là Pháp đã thừa-hưởng ba yếu-tố đó mà xây-dựng và hoàn-hảo thuyết nhân-bản hiện-đại. Từ đó, ông hoài-bão xây-dựng lại Đông-phương dùng khuôn-mẫu và chất-liệu Tây-phương.
Nhưng ông đã va-chạm vào thực-tế nơi thuộc-địa. Có những người "tây" trịch-thượng ganh-tỵ, có những người "ta" chỉ-trích ông là "mất gốc". Ông dậy học rồi ra hành-nghề tự-do, làm luật-sư và viết sách. Năm 1946, ông thảo văn-kiện căn-bản cho cuộc đàm-phán giữa nước ta và Pháp ở Đà-lạt. Khi chiến-tranh bùng-nổ (1946-1955), ông ra bưng tiếp-tục dậy-học và làm luật-sư. Như những trí-thức trong thời-kỳ chiến-tranh, ông bị kiểm-soát chặt-chẽ. Năm 1956, sau khi phong-trào cải-cách điền-địa đi qua lố sang phóng tay đấu-tố và dã-man khủng-bố, đảng cộng-sản cố-gắng đỡ đòn nhờ ông phát-biểu về vấn-đề pháp-lý trong xã-hội. Ông đứng trên quan-điểm trí-thức và luật-gia mà thảo-luận về "xây-dựng quan-điểm lãnh-đạo". Tôn-trọng luật-pháp không phải là đường lối lãnh-đạo của đảng. Ông bị coi là thiếu thân-thiện, bị cách chức, rồi bị đàn-áp tinh-thần và phong-toả kinh-tế trong gần bốn mươi năm. Ông kể lại quãng đời này trong một cuốn tự-ký. Ông cũng dùng thời-gian bị cô-lập này để hoàn-tất bốn tác-phẩm giáo-dục về các nền văn-chương văn-hóa Hy-La. Ông mất năm 1997, thọ 88 tuổi.
Các tác-phẩm: Sourires et Larmes d une jeunesses, Pierres de France, Apprentissage de la Méditerranée, Le Voyage et le sen-timent, Một cuộc hành-trình, Lettre à un ami de France, Un Excommunié, Lí-luận giáo-dục Châu Âu (1995), Aiskhylos và bi-kịch cổ đại Hi-lạp (1996), Oresta (1996), Virgile và hùng-ca La-mã (?)
(Viết theo bản tin Chuyên muc: Ngược dòng lịch-sử, đài BBC, Luân-đôn, ngày 13-06-2003)
Nhận xét
Nguyễn mạnh Tường có khiếu về ngoại-ngữ, lại học chương-trình Pháp từ nhỏ đến lớn, lấy bằng tiến-sĩ văn-chương sớm nên văn của ông có tính-cách cổ-điển hàn-lâm, trong-sáng, bóng-bẩy. Lại thuần-túy Pháp-tính, không cần có những dấu-vết cho thấy là tác-giả ngoại-quốc viết tiếng Pháp. Sau khi bị che-lấp bởi các trào-hướng lãng-mạn, triết-lý, tả-chân v..v.., các đề thần-thoại tái-xuất-hiện vào đầu thế-kỷ 20, tuy-nhiên dưới một góc phân-tách đổi mới: không còn là chuyện thần-thoại hoang-đường mà là những ẩn-dụ do khoa phân-tâm-học khai-triển. Văn Nguyễn mạnh Tường cũng chịu ảnh-hưởng thời-đại nên đầy-rẫy những dẫn-dụ thần-thoại cổ Hy-la. Đôi khi đến độ gần như là "cầu-kỳ-cao-phẩm" (préciosités) của thời đầu cổ-điển (tỷ như Princesse de Clèves của Mme de la Fayette). Là một luật-gia quen việc "cãi lý", ông dùng chữ thật sát tuy bóng-bẩy, lý-luận gẫy-gọn mạch-lạc mà rất nhã.
Chúng tôi xin giới-thiệu một bài ông nói về văn-hóa cùng là lối đi của thế-hệ trẻ và mới, lời trang-nhã nhưng quyết-liệt; một bài so-sánh luật-pháp và chính-trị, rõ-rệt và văn-hoa.
Une voie nouvelle pour une génération nouvelle
..Qu’est-ce que la culture sinon le besoin d’imposer à la nature une discipline intellectuelle et morale, à la foi en la dignité et en la grandeur de l’homme, en conséquence, le souci de tabler sur ce qu’il a de plus noble, -son esprit, son cœur-, et d’aller le plus loin possible dans le sens de l’humanité et de la charité? Les méthodes de culture certes, peuvent différer. Mais la culture reste identique à elle-même. La meilleure preuve en est l’entente entre tous les gens cultivés, de quelque race, de quelque civilisation qu’ils viennent. La culture est une vaste franc-maçonnerie: son caractère est d’être universelle, "catho-lique". Au-dessus des frontières des nations, des couleurs des races, des divergences de civilisations, elle réunit tous les êtres qui communient dans la même pensée de confiance en l’homme et en les destinées de l’humanité. On ne change pas de culture, mais simplement de méthodes de culture. Or, toutes les routes conduisent au même but. Certes, les premiers temps, on peut être désemparé par la nouveauté du chemin, mais on finit par s’y habituer, par s’y adapter. La jeunesse annamite, écartée de la voie confucéenne, chemine actuellement sur une route française. Cependant le même rond point lui est assigné comme termes de ses efforts...
...La génération dont nous nous occu-pons se singularise par une rupture com-plète avec celles qui l’ont précédée. Elle marque de la sorte un tournant, elle inau-gure une ère. En effet, ses aînés, encore empêtrés de culture confucéenne, ont assisté au triomphe de la force occidentale et ont essayé de se mettre à l’Ecole de l’Europe pour pouvoir pactiser avec le régime nouveau. Elle, au contraire, est née à une époque où les temps héroïques n’étaient plus qu’un souvenir, a prospéré dans un ordre français et à l’ombre d’une paix française. N’ayant jamais connu le chemin déserté des traditions confu-céennes, avec un cerveau neuf et une mémoire sans passé, elle n’a pas de difficulté à s’initier aux méthodes françaises de culture...Au Lycée, avec des camarades français, elle a fait ses huma-nités, compris la géométrie eucli-dienne, aimé la philosophie de Descartes. Elle parlait, pensait, sentait en français...
Sourires et Larmes (1937)
Le droit et la politique
Entre le politicien et le juriste, il existe une divergence d’optiques, d’habitudes mentales, de pratiques intellectuelles.
La politique est un monde aux frontières floues qu’on peut franchir sans passeport et qu’on franchit souvent sanss’en douter! Le sol y est mouvant, couvert de dunes de sable que les vents déplacent à leur grè, traversè de marais qu’on doit longer pour èviter des enlisements mortels! Ici triomphe l’ambiguïtè. Et l’imprècision des gestes comme du langage permet les interprètations les plus diverses, souvent contradictoires. Le voyageur qui s’y aventure doit renoncer au besoin de logique, de clartè et de prècision, penser dans l’immèdiat sans rèfèrence au passè ni appel au futur, s’inter-dire toute moralitè ou sentimentalitè, et surtout tèmoigner un sens aigu, dynamique de l’opportunitè.
Le monde juridique, au contraire, est entourè de montagnes et de fleuves qui servent de frontières naturelles. Ici règnent la rigueur gèomètrique, la logique ration-nelle, la prècision et la clartè cartèsiennes. Entre la lègalitè et l’illègalitè, la ligne de dèmarcation est nette, comme entre le blanc et le noir. La terminologie cerne les idèes, en fixe le contenu, ne laisse flotter autour d’elles aucune marge d’ombre ouø puisse se nicher l’èquivoque ou qui permette une prestidigitation verbale, une jonglerie avec des mots! Le raisonnement juridique provoque le choc des idèes, et le palme revient à celui dont la logique s’appuie solidement sur des principes de droit, des textes de loi sans vaine logomachie, dans la froide sèrènitè de la dialectique, sous le soleil glacial de la raison!
(Un Excommuniè -1991)
Résumé
Nguyễn mạnh Tường (1909-1997) obtint un double doctorat en lettres et en droit à l'âge
de 22, exploit sans précédent. Complètement conquis par la civilisation gréco-latine
dont la culture française apparut comme héritière, Tường rentra au
Viêt-Nam et proposa de produire les matériaux de l'Ouest pour la construction
de l'Est. Il produisit Sourire et Larmes d une Jeunesse, Construction de
lOrient I : Pierres de France puis II : Apprentissage de la Méditerranée.
Autres uvres : Le voyage et le sentiment, Confidences dun jeune Annamite,
Lettre à un ami de France, et vers la fin de sa vie, après quarante années
d'isolement forcé par les autorités communistes, une autobiographie : Un
excommunié. Il a aussi écrit des livres d'érudition en vietnamien.
Les soucis de Tường se concentrent en culture, en engagement et en une société de lois. Il affirme que la culture est universelle et que les générations anciennes poursuivaient la voie confucéenne. Sa génération
s'engage dans la route française qui était la continuation de la méthode gréco-romaine.
Le but commun est la culture universelle. Il discuta aussi lesprit de loi, d'une
société de loi et un gouvernement par le peuple et pour le peuple.
Summary
Nguyễn mạnh Tường (1909-1997) obtained a double doctorate in literature and in laws at the âge of 22, accomplishment without precedent. Completely sold on Greco-romance culture of which, French culture was the legitimate heir, Tường
came home offering to produce Western materials for the building of Orient. His
works include: Sourires et Larmes dune Jeunsess, Construction de l'Orient:I-
Pierres de France, II- Apprentissage de la Méditerranée, Le Voyage et le
sentiment, Confidences d'un jeune Annamite, Lettre à un ami de France, and
toward the end, after forty years of forced isolation, an autobiography, Un
excommunié. He has produced several works of erudition in Vietnamese.