Nguyễn tiến Lãng sinh năm 1909 tại Hội-xá, Hà-đông; theo học trường Bảo-hộ, trường Albert Sarraut (chương-trình Pháp) và trường Luật Hà-nội. Bí-thư cho Toàn-quyền Robin rồi cho Nam-phương hoàng-hậu. Bị cộng-sản bắt cùng với nhạc-phụ Phạm Quỳnh, ông làm sổ-sách cho ủy-ban cách-mạng, thêm trách-nhiệm viết cho báo La République (của cộng-sản). Trốn thoát khỏi vùng cộng-sản năm 1952, ông sang ở Pháp, dậy học sau làm công-chức bộ Giáo-dục (Pháp). Ông mất năm 1976.
Nguyễn tiến Lãng viết cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp. Ông dịch Les lais de Marie de France sang tiếng Việt, Tây-phương tình-sử. Ông nổi tiếng với chuyện ngắn Eurydice, 1933, Giải-thưởng Đông-Pháp. Các chuyện, đoản-văn, tiểu-thuyết được nhiều người biết như Le mariage de la plume et du pinceau, Dans les forêts et dans les rizières, Hoa-tiên, d'après le poème annamite, Petrus Truong vinh Ky, lettré et apôtre franco-annamite, Nous avons choisi lamour, Les Vietnamiens I: Les chemins de la révolte. La colline des abricotiers (nhan-đề mới cho cuốn Dans les forêts...in lại năm 1979)
Nhận xét
Nguyễn tiến Lãng điển-hình cho giới trẻ sinh-trưởng khi chế-độ bảo-hộ đã vững-vàng. Ông theo học chương-trình giáo-dục mới (franco-annamite: trường Bảo-hộ) rồi chuyển sang chương-trình Pháp (Lycée Albert Sarraut) do đó, ông đã tha-thiết, và thấy bản-thân mình, gần-gũi với văn-hóa và văn-chương Pháp. Ảnh-hưởng gia-đình mạnh (thân-sinh và nhạc-phụ đều là quan-lại Nam-triều, thân-phụ là Nguyễn mạnh Hương, nhạc-phụ là Phạm Quỳnh, anh rể là Phan Khôi và Tản-đà) nên ông cũng rất tha-thiết với xã-hội và dòng máu Việt-Nam. Ông sống trong cuộc co-kéo Đông-tây, Pháp-việt. Lớn tuổi, ông nghĩ về số-phận người mình và dự-định viết một bộ về Les Vietnamiens. Mới chỉ viết song cuốn đầu-tiên mà thôi, lúc đầu có nhan-đề là Nous avons choisi l amour, sau đổi lại thành Les chemins de la révolte.
Đầu đời, ông có suy-nghĩ đến vấn-đề xung-đột thế-hệ già trẻ, lồng trong cảnh co-kéo Đông-tây. Cuốn truyện đầu tay khiến ông nổi tiếng ngay từ lúc còn là học-sinh là Eurydice, được giải-thưởng của Đông-dương (thuộc-Pháp), le prix de lIndochine. Chuyện kể giấc mơ của một chàng trai 21 tuổi đi làm ở trạm bưu-điện miền thượng-du. Lúc 18 tuổi, đã bỏ qua các ước-mộng lớn-lao của tuổi trẻ để tuân theo truyền-thống gia-đình xã-hội, lập gia-đình sớm, lấy vợ qua mối-lái, có con trai để nối-dõi gia-đình; sau này phải xin đổi đi xa nơi hẻo-lánh kéo-cầy-trả-nợ cho đám cưới linh-đình. Một buổi buồn chán, trông thấy nét chữ quen-thuộc trên một bì thơ, anh ta hồi-tưởng thời xưa, người xưa và mơ-tưởng ngày mai sẽ bỏ tất-cả để đi tìm lại mộng cũ. Qu'importe la vie passée? Et comment a-t-il pu accepter jusqu'ici cette existence sans espace et sans air? Comment ne s'est-il pas révolté? Vivre enfin!..Demain je briserai mes attaches avec le passé; je partirai. Demain... Lát sau, nhìn lại địa-chỉ người viết thơ mới thấy không phải là người cũ. Hélas! Ce n'est pas plus elle qu'il n'est, lui, l'adolescent fou et tendre d'autrefois... Le passé est bien mort... Anh ta cáu-kỉnh đập mạnh triện bưu-điện lên con tem. Đề truyện là Eurydice, gợi ý đến ở đời này, không nên ngoảnh đầu nhìn lại, như Orpheus, vì quay đầu nhìp), lại mà mất nàng Eurydice.
Chúng tôi xin giới thiệu hai hai đoạn văn ngắn về các ý-tưởng trên.
Về văn-sĩ Việt, văn-chương Pháp
Le Français qui lit un Annamite ayant choisi de s’exprimer dans la langue de Racine et de Voltaire ne se rend pas souvent compte que celui qui écrit n’est pas toujours quelque diplômé frais émoulu des universitaires métropolitaines, fier d’affinités méditerranéennes, heureux de balancer des périodes. Non, c’est souvent un simple "autodidacte", un esprit possédé par son démon. C’est une aâme qui a absolument besoin de se confier, et si elle choisit une langue qui n’est pas sa langue maternelle, c’est, hélas, qu’elle se sent déjà plus proche par ses plus profondes aspirations de ceux qui parlent cette langue que de son propre sang. Mais ce sang le lie, le tient, le commande. Tiraillé, il se sent humilié de n’être ni assez prés de ce qui l’attire, ni assez détaché de ce qu’il croit pouvoir fuir mais qu’il continue à aimer. Les critiques tombent sur lui, les approbations même qui le dissuadent de tenter l’impossible. Faut-il qu’il abandonne ou qu’il se contente d’une notoriété locale? Mais s’agit-il de notoriété? Non, il s’agit de tout autre chose. Il s’agit d’un élan impossible à refréner, qui ressemble à l’amour.
Eurydice
.. .LE-TAM était devenu secrétaire des Postes de façon tout à fait inattendue pour tout le monde et pour lui-même. On croyait qu’il’s’élèverait à des destinées plus hautes, et lui-même, quoiqu il ne se laissaât tromper par aucun mirage, n’était pas sans avoir vécu dans l’attente s’il ne savait quoi de peu ordinaire, qui n’était pas encore venu.
Mais déjà, LE-TAM n’attend et n’espére plus rien. L’engourdissement vient vite, et rien ne subsiste du jeune homme trés tendre et un peu fou d’autrefois. LE-TAM n’a que vingt et un ans... La tradition veut qu on se marie tôt en Annam, afin qu’au déclin de leur âge, les parents ignorent l’angoisse d’imaginer qu’aprés leur mort, sur leur autel abandonné la main pieuse d’un petit-fils ne perpétuera point la flamme et l’encens. "La tradition veut beaucoup de choses" soupira LE-TAM.
Il avait cédé au leurre de la piété filiale...Un jour, sur les bancs de son école primaire, il avait entendu le maître lire l’histoire du jeune Indien Maitrayanka qui partit sur un vaisseau malgré les pleurs de sa mére. Maitrayanka fit naufrage. Son âme descendit dans l’enfer bouddhique, et elle y rencontra un homme portant une roue de feu qui lui brûlait la tête et pleurant les larmes de sang.
- "Pauvre âme, sur la terre, qu’avez-vous donc fait?
- "J’ai fait pleurer ma mére", répondit le damné.
- "Hélas! Moi aussi", reprit Maitrayanka.
Alors la roue de feu quitta la tête du damné et se posa sur celle de Maitrayanka.
Cette vision ébranla la jeune imagination de LE-TAM. Elle ne fut pas indifférente, plus tard, aux heures des décisions graves, dans le conflit inévitable livré en son âme entre l’esprit de soumission passive à la tradition et l’appel mystérieux d’un monde inconnu; le triomphe de la soumission passive fut son oeuvre-triomphe tout d’abord apparent, puis de plus en plus réel.
"Tant que vos parents sont vivants, dit Con-fucius, ne vous éloignez pas d’eux". Il refusa ses chances d’évasion et de départ, en pen-sant d’abord temporiser. En définitive, les devoirs traditionnels l’enserrent dans un réseau qui lui ferma tous les horizons chers à ses inquiétudes d’adolescent. Le voilà marié. Aucun amour au c œ ur pour l’épousée. Les accordailles furent solennelles et d’un faste qui fut, lui aussi traditionnel, mais n’eut pas de lendemain. Le lendemain, ce fut la meute des créanciers aux abois. Il n’est pas de solennité qui ne revienne cher. Les dettes de la famille se grossissent des dettes contractées pour le mariage du fils unique. Tout cela fut traditionnel.
LE-TAM avait dix-huit ans...
Tài-liệu tham-khảo: Trang bìa La Colline des Abricotiers, 1979 do B. Nguyễn tiến Lãng xuất-bản; Nguyễn Vỹ trong Văn-thi-sĩ tiền-chiến, 1969; Jack A. Yeager trong The Vietnamese Novel in French, 1987)
Résumé
Nguyễn tiến Lãng (1909-1976) étudiait au Lycée Albert Sarraut, Hanoi, et poursuivait ses études à la faculté de Droit. Il servit comme Secrétaire particulier au Gouverneur Général Robin puis à
l'Impératrice Nam-Phương. Prisonnier du Việt-Minh en 1946, il s'échappa
et arriva en France quelques années plus tard, travailla au ministère de l'éducation.
Il a traduit Les lais de Marie de France, et produisit plusieurs uvres en français
: Eurydice, Le mariage de la plume et du pinceau, Dans les forêts et les
rizières, Hoa-tiên, Nous avons choisi lamour, Les Vietnamiens: I : Les chemins
de la ré l’Impératrice Nam-Phương. Prisonnier du Viết-Minh
Il exprima l'ambigụté de sa génération tiraillée entre l'attraction
envoûtée du français et l'attachement solide du
vietnamien, entre les traditions familiales de stabilité et de sécurité Il exprima l?ambigụté de sa génération tiraillée
d'actions.
Summary
Nguyễn tiến Lãng (1909-1976) attended Lycée Albert Sarraut and la Facuté de Droit de Hanoi. He served as Executive Secretary to Governor General Robin then to Empress Nam-Phuong. Taken prisoner by the Viết-Minh, he evaded and emerged in Paris several years later. There he took a job with the ministry of Education and continued to write in French. He translated
Les lais de Marie de France, He wrote Eurydice, Le marriage de la plume et du pinceau, Dans les forêts et les rizières, Hoa-tiên , Nous avons choisi l amour, Les
Vietnamiens:I: Les chemins de la révolte, La colline des abricotiers.
He expressed the malaise of his generation, pulled between the attraction of French and the attachment to Vietnam, between familial traditions of stability and newer individual dreams of adventures.