Bối-cảnh lịch-sử
Đối với người ngoại-quốc hay các thế-hệ sau, muốn hiểu rơ về các văn-sĩ Việt viết tiếng Pháp, nên có một khái-niệm về khúc quanh lịch-sử dẫn đến t́nh-h́nh xă-hội đương-thời. Người Pháp chiếm hẳn hoàn-toàn nước ta sau 25 năm qua bốn mặt trận:
a- lúc đầu không thành-công trong vụ chiếm đóng Đà-nẵng năm1858;
b- mặt trận miền Nam chiếm ba tỉnh miền Đông vào năm 1862 và ba tỉnh miền Tây vào năm 1867;
c- mặt trận miền Bắc hai giai-đoạn: Francis Garnier phá Hà-nội năm 1873 nhưng t́nh-h́nh chưa thuận-tiện để chiếm-giữ; sau 1883, Henri Rivière lại chiếm Hà-nội một lần nữa;
d- tới đây th́ t́nh-h́nh chính-trị đă chín mùi, quân Pháp bèn đánh mặt trận chính vào triều-đ́nh ta ở Huế, thị-uy tại cửa bể Thuận-an ép ta phải chấp-nhận cuộc bảo-hộ kéo dài cho đến năm 1945, khi Pháp bị Nhật đánh đuổi, Phạm Quỳnh thảo tuyên-ngôn độc-lập cho Bảo-đại kư.
Sự phản-kháng của dân ta qua nhiều giai-đoạn và chiến-lược khác nhau.
a- Thoạt-đầu là cuộc vũ-trang kháng-chiến Cần-vương và Văn-thân, lấy trứng chống đá, bọ ngựa chống xe, tượng-trưng bởi lời dũng-cảm của Phan đ́nh Phùng viết cho Hoàng cao Khải. Hai người vốn có nghĩa xóm-làng cố-cựu, cùng sinh-quán, bạn cũ một thời đồng-trào, lại c̣n t́nh thông-gia. Trả lời thư của họ Hoàng kêu gọi cởi-giáp ngưng-chiến, cụ Phan kể các lư-do, dù biết có thua cũng một ḷng chống giặc tới cùng: nào là trung với sự ủy-thác của vua Hàm-nghi, nào là nghĩa vói quân cần-vương một ḷng tin cậy vào người lănh-đạo, nào là ḷng nhân thương dân xứ Hoan nói riêng, nhân dân nước ta nói chung
Xem sự-thể thiên-hạ ngày nay như thế kia, mà tài-lực của tôi như thế này, y như cổ-nhân đă nói: "thân con bọ-ngựa là bao mà dám dơ tay cản-trở cỗ xe sao nổi..." Song tâm-sự và cảnh-ngộ tôi, có nhiều chỗ muôn-vàn khó nói ra đưi:
...ấy, mạng vua ủy-thác như thế đó, nếu cố-nhân đặt ḿnh vào trong cảnh như tôi, liệu chừng cố-nhân có đành chối-từ trốn-tránh đi được hay không?
...ấy, ḷng người (tin-cẩn theo tôi) như thế đó, nếu như cố-nhân đặt ḿnh vào cảnh của tôi liệu chừng cố-nhân có nỡ ḷng nào bỏ mà đi cho đành hay không?
(...tật khổ của dân,...tan-ĺa trôi-dạt...) ...Cố-nhân đă biết đoái-hoài thươhg-xót dân này, th́ cố-nhân nên lấy tâm-sự tôi và cảnh-ngộ tôi, thử đặt ḿnh vào mà suy-nghĩ xem, tự-nhiên thấy rơ-ràng, có cần ǵ tôi phải nói dông-dài nữa ư?
Phan đ́nh Phùng phúc thư
b- Sau tiếng súng vang-lừng của da-vàng Nhật-bản đánh tan-nát thủy-quân da-trắng Nga, văn-thân ta tỉnh-giấc và hướng tâm-huyết vào công-việc duy-tân. Vũ-trang kháng-chiến phần nào nhường bước cho công-cuộc duy-tân chờ ngày
đủ-lông đủ-cánh ăn-thua với giặc Tây.
Đó là lư-tưởng của Đông-kinh nghĩa-thục
và của phong-trào Đông-du, bên lo tự-lập, bên
dựa vào các đồng-minh da vàng Nhật và Tầu,
kể cả khi dựa vào các nước cùng
cảnh-ngộ (liên-minh các nước bị-trị Á-tế-á).
Trong khi đó th́ Cụ Phan chu Trinh khuyên nên
nhẫn-nhục tránh bạo-động. Cụ có nói
với cụ Phan bội Châu và quốc-dâ ?đủ-lông
Tôi có định-kiến rồi, công-việc của chúng ta ngày nay là chỉ nên chú-trọng vào việc khai-hóa cho đồng-bào ḿnh, tiến được bước nào chắc-chắn bước ấy, mới có hy-vọng về sau được.
Đồng-bào chớ bạo-động! Bạo-động th́ chết uổng! Chớ mong người ngoài! Mong người ngoài là rất ngu!
V́ dân, đả vua, ỷ Pháp cầu tiền-bộ.
Trường-hợp Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh (1892-1945), sinh-quán Hà-nội, chính-quán Hải-dương, mồ-côi từ nhỏ, được bà nuôi-nấng. Đậu thủ-khoa trường Bảo-hộ năm 1908 lúc 16 tuổi, ông vào làm việc tại trường Viễn-đông Bác-cổ (EFEO), ra báo Nam-phong (1917), lập Hội Khai-trí tiến-đức (AFIMA, 1920), phụ-trách giảng-dậy môn ngữ- học và nhân-văn VN (1924-1932) tại Đại-học Hà-nội, được bổ-nhiệm Thượng-thư kiêm Ngự-tiền Văn-pḥng (1932), Thượng-thư bộ Giáo-dục (1933) rồi Đông-các Điện-đại học-sĩ, Thương-thư bộ Lại (1942). Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Phạm Quỳnh thảo chiếu tuyên-bố hủy-bỏ hiệp-ước Bảo-hộ kư với Pháp, do Hoàng-đế Bảo-đại kư và toàn Cơ-mật, dẫn đầu bởi Phạm Quỳnh phụ kư. Năm tháng sau, ngày 19-8-45, Việt-minh chiếm Ṭa Khâm-sai tại Hà-nội, ngày 22-8, có điện
của "Ủy-ban yêu nước" từ Hà-nội yêu-cầu
Bảo-đại thoái-vị, ngày 23-8, Bảo-đại
đánh-điện trả lời đồng ư, ngày 25-8,
Trần huy Liệu và Cù huy Cận đến nhận
ấn-kiếm của vua. Trưa ngày 23-8, một nhóm người
vơ-trang đến bắt Phạm Quỳnh và người
con rể Nguyễn tiến Lăng. Khoảng một tuần
sau, Phạm Quỳnh bị sát hại, mất xác. Măi tháng
2-1956, mới t́m được di-hài, sau đó cải-táng tại Huế.
Ngoài các tác-phẩm chính bằng Quốc-ngữ, Phạm Quỳnh cũng viết nhiều bằng tiếng Pháp:
Quelques conférences à Paris (1923), L'Idéal du Sage dans la
Philosophie confucéenne (1928), Le paysan tonkinois à travers le parler
populaire (1929), La poésie annamite (1931), Maurras et
Confucius, Essais franco-annamites (1937), Nouveaux essais
franco-annamites (1938), Un poète humaniste: Phạm-mạnh-Danh
(1943)
Nhận xét
Phạm Quỳnh cũng ấp-ủ một số mong-ước giống những người đi trước như Nguyễn trường Tộ và Phan chu Trinh: giáo-hóa dân ta, nhờ dùng chữ quốc-ngữ; tránh bạo-động, dùng văn-hóa để duy-tân.
Cũng như Nguyễn văn Vĩnh, họ Phạm chú ư riêng về sự tập-luyện văn quốc-ngữ cho thành một nền quốc-văn An-Nam.
Ông không những muốn thu-nhập học-thuật tư-tưởng Pháp mà lại c̣n phải bảo-tồn cái quốc-túy của nước ta.
Chúng tôi xin dẫn-trích sau đây vài đoạn để minh-chứng những ư-tưởng đó của Phạm Quỳnh và đồng-thời, để giới-thiệu văn họ Phạm.
Chủ-đề "Quốc-gia dân-tộc" : Nationalisme
C’est un fait que depuis la Grande Guerre européenne le mouvement desnationalités a pris une force et une ampleur inconnues jusqu’ici...Mais c’ est surtout chez les peuples conquis, colonisés par des puissances européennes que cette vague de nationalisme s’est fait le plus sentir. L’idéologie de la guerre - lutte pour le Droit, la Justice, la délivrance des peuples opprimés et des terres "irrédentes", droit des peuples de disposer d’eux-mêmes, etc. - a plus fortement agi sur eux que sur d’autres, parce qu’elle répondait à des aspirations longtemps comprimées, refoulées et d’ autant plus impatientes et vigoureuses...
L’Annam n’a pas échappé à ce mouvement général.
Il existe un nationalisme annamite qui remonte même plus loin que la guerre de 1914-1918, qui date des origines de la conquête, mais qui a été singulièrement renforcé par les incidences du grand conflit mondial.
A vrai dire, le sentiment national a toujours été très vif chez nous. Il n’y a qu’à lire notre histoire pour se rendre compte que, malgré la vassalité nominale de l’Annam à l’égard de la Chine, chaque nouvelle invasion chinoise, chaque emprise nouvelle de la Chine sur ce pays fut suivie d’une explosion de ce sentiment dans la masse dont surent habi-lement profiter nos rois et nos empereurs pour reconquérir le pays...
C’est un fait que l’élite annamite a toujours été, jusqu’en ces derniers temps, hostile à l’ordre nouveau...Ce fut alors l’exode des lettrés vers la Chine et le Japon et tous les événements qui se produisirent pendant cette période, notamment ceux de 1897, de 1908, de 1913, eurent pour instigateurs plus ou moins directs des intellectuels émigrés à l’étranger.
A la veille de la guerre, à sa place s’est créée une élite nouvelle formée non plus à l’école chinoise, mais à l’école occidentale. On pourrait croire que la flamme du patriotisme actif s’éteignait avec les derniers tenants de la culture chinoise. Il n’en est rien. Les intellectuels de l’école nouvelle continuent exactement leurs aînés. (Après la guerre), ils ont vu plus clair dans la situation de leurs pays et se révèlent aussi, sinon plus natio-nalistes, que les anciens.
On voit par cet exposé aussi objectif que possible que le nationalisme annamite a des racines profondes dans ce pays et que les circonstances lui ont donné une vigueur nouvelle. Il est en train de subir une évolution qui pourrait le conduire dans deux voies différentes: la première est une cristallisation, si nous pouvons ainsi dire, du patriotisme annamite en vue de concourir, en des étapes sagement ordonnées et mesurées, à la réalisation d’un idéal de progrès, de prospérité et d’indépendance; la seconde est une alliance avec des doctrines extrémistes, dont les prodromes se laissent déjà deviner et dont les conséquences sont incalculables.
Il faudrait que les choses fussent telles que les Annamites n’eussent plus l’impression, q’ils ont à l’heure actuelle, d’être des étrangers dans leur propre patrie; il faudrait qu’ ils eussent le sentiment que cette patrie, ils ne l’ont pas perdue, et qu’en travaillant à consolider l’ordre de choses actuel, ils travaillent à sa prospérité présente et à sa grandeur future.
Le moment est décisif. Un rude coup de barre s’impose. Nos gouvernants sont-ils capable de le donner? (1929)
"Pages françaises" ou les Annamites et la langue française
Sau khi khen Nguyễn tiến Lăng viết văn Pháp thật hay, Phạm Quỳnh nhấn mạnh đến vai tṛ gạch-nối của giới trí-thức, thu-nhập cái hay của phương tây, chọn-lọc và chuyển đến cho quần-chúng bằng tiếng quốc-ngữ.
Pour l’élite annamite, la langue française est la langue de la culture. Elle est pour nous, une clef et une arme. Une clef qui nous ouvre les trésors de la pensée occidentale; une arme pour notre défense et notre émancipation intellectuelle, morale, politique, économique. Certes, la langue française est belle à cultiver en elle-même, pour elle-même. Mais je crois que nos francisants se leurreraient d’une illusion s’il ne la cultivaient que dans le but de devenir un des écrivains, des lettrés en français. Ils failliraient en tout cas à une taâche primordiale qui est la leur: celle de contribuer à l’ éducation de la masse en y répandant, au moyen de la langue nationale, les idées et les notions qu’ils auraient acquises en français. Leur roâle est de servir de trait d’union entre l’Occident et l’Orient. Comment pourraient-ils le remplir s’ils n’avaient qu’une culture pour ainsi dire unilatérale, si à force de cultiver une langue étrangeøre, ils en arrivaient à négliger compleøtement leur langue maternelle et leurs traditions nationales, s’ils s’avéraient inca-pables de transcrire, de traduire, d’adapter en annamite, pour le plus grand bien de la masse de leurs compatriotes, ce qu’ils ont pu apprendre en français? (1930)
Tài-liệu tham-khảo: Le Viet-Nam, trang b́a, in lại 1985; Phạm thế Ngữ trong Việt-Nam văn-học-sử giản- ước tân-biên, 1965, S.M.Bảo-Đai trong Le Dragon d'Annam.
Résumé
Phạm Quỳnh (1892-1945) fut lauréat du Collège du Protectorat à 16 ans, servit à l'École
Française dExtrême-Orient, devint éditeur du périodique Nam-Phong, co-fonda
lAssociation pour la Formation Intellectuelle et Morale de l'Annam (AFIMA), fut
chargé de cours de philologie et des humanités annamites à l'Université de
Hanoi. En 1932, il fut nommé Directeur du Cabinet Impérial à Huế, puis
successivement, ministre de lEducation puis de l'Intérieur. Le 12 Mars 1945, il
rédigea lEdit impérial annulant le traité du protectorat et proclamant l'Indépendance
du Việt-Nam. En fin d'Août de la même année, il
fut kidnappé puis assassiné par les agents communistes
Comme Nguyễn trường Tộ et Phan châu Trinh ont professé avant lui, Pham Quỳnh était un intellectuel qui voulait reconstruire lâme
nationale non par la force mais par la culture, retrouver l'indépendance
politique par des moyens pacifiques, en des étapes sagement ordonnés. Il
avertit lopinion publique de loption opposée extrémiste dont les conséquences
sont incalculables. Les intellectuels doivent contribuer à léducation de la
masse avec ce quils ont pu apprendre en français
Summary
Phạm-Quỳnh (1892-1945) graduated from the Collège du Protectorat when he was 16; he joint lÉcole
Française dExtrême-Orient, became editor of Nam-Phong, was co-founder of l
Association pour la Formation Intellectuelle et Morale de l'Annam (AFIMA), was
in charge of the courses of Philology and Annamite humanities at the Hanoi
University. From 1932, he was summoned to Huê to serve as Director of the
Imperial cabinet, then minister of Education and finally, minister of Inté’École Française d’Extrême-Orient, became editor of Nam-Phong, was co-founder of l Association pour la Formation Intellectuelle et Morale de l’Annam (AFIMA), was in charge of the
As Nguyễn trường Tộ and Phan châu Trinh before him, Phạm Quỳnh promoted a program including mainly mass education with preparation for self-rule and hope for gradual independence. The intellectuals, Phạm Quỳnh wrote, must transmit to the masses what they had learned through French.