Trường-hợp Kỳ-đồng trong ḍng văn-học Pháp-ngữ Việt-Nam là một ngoại-lệ. Xếp ông vào đây v́ ông là người Việt-Nam. Tác-phẩm có tính-cách sáng-tạo của ông vào năm 1898, Les amours d'un vieux peintre aux iles Marquises đă ra đời trước những tác-phẩm mà Nguyễn văn Bảo coi là đầu-tiên của ta, dùng để đánh dấu giai-đoạn trưởng-thành (plein développement) của nền văn-học Pháp-ngữ tại Việt-Nam: hai cuốn Contes et légendes của Lê văn Phát và Mes heures perdues của Nguyễn văn Xiêm vào năm 1913.
Tuy-nhiên Kỳ-đồng viết tại nơi lưu-đầy, quần-đảo Les Marquises thuộc Tahiti. Do đó, tác-phẩm của ông cũng được văn-học-sử miền này nhận là của ḿnh. Theo Nguyễn khắc Ngữ th́ tác-phẩm đă được giới-thiệu một phần trong Journal de la Société des Océanistes vào năm 1962.
Kỳ-đồng tên thật là Nguyễn văn Cầm, người gốc Thái-b́nh, sinh năm 1875, theo phong-trào Văn-thân Cần-vương khởi-nghĩa nên bị bắt năm 1887, lúc mới 12 tuổi và gửi đi Algérie. Theo học tại đó và đỗ tú-tài chương-tŕnh Pháp vào năm 1896, được trở về Việt-Nam. Nhận hợp-tác với một bác-sĩ Pháp để lập đồn-điền ở miệt Yên-thế. Nơi đây, ông liên-lạc với Đề Thám mưu chuyện lâu dài. Việc không qua được mắt mật-thám Pháp nên lại bị bắt và đầy đi Tahiti rồi chuyển đến một quần-đảo phụ tên là Marquises. Ông làm điều-dưỡng-viên tại bệnh-viện địa-phương rồi mười ba năm sau, đổi về thủ-phủ Papeete làm việc trong nhà thuốc của quân-y-viện. Ông mất năm 1929, thọ 54 tuổi.
Nhận xét
Tại nơi lưu-đầy, năm 1901, Kỳ-đồng gặp họa-sĩ Gauguin đến Marquises để t́m hứng. Kỳ-đồng giúp ông ta trong những ngày đầu-tiên vùng đất xa-lạ, Hai người thành bạn thân. Lúc đó Gauguin có phương-tiện lại hào-phóng nên được phụ-nữ địa-phương yêu-mến, muốn sống chung với ông. Sau ông chọn một cô gái thọt nên có người chế-nhạo. Là bạn thân, Kỳ-đồng bèn dựa theo đó mà viết ra kịch trào-phúng kể chuyện nhà họa-sĩ già mất kính không trông rơ nên đă lấy cô vợ gù. Gauguin đọc bản thảo th́ ông vui lắm , theo lời Kỳ-đồng kể lại.
Được đào-tạo tại ngoại-quốc và sáng-tạo trong hoàn-cảnh đó, Kỳ-đồng không giống các tác-giả Việt-Nam khác, không qua các thời-kỳ phát-triển sau Pétrus Kư và Paulus Của. Cũng không có vết-tích về Việt-Nam hay đặc-tính của người ngoại-quốc viết tiếng Pháp trong đầu thế-kỷ 20.
Trào-phúng của ông nằm trong hoàn-cảnh ngộ-nghĩnh,-chuyện anh mù sờ người nữ- cũng như là ngôn-ngữ lố-bịch, nhái Corneille để riễu Molière, đặc-biệt nghe nhà họa-sĩ lẩy Le Cid mà nghe thấy giọng Harpagon . Chúng tôi xin giới-thiệu hai cảnh ngắn.
Tu peux me caresser
Acte Premier, Scène III.- Paul, La Bossue sortant de sa cachette
Oui, pour me faire aimer, s’il voit comme une taupe,
Je peux cacher mon dos à ses yeux de myope,
En laissant sur les reins mes longs cheveux flotter.
L’occasion est belle, il faut en profiter.
Bonjour Monsieur Permets qu’ avec sollicitude,
Je vienne soulager ta lourde solitude,
Et par un brin d’ amour sous ces bleus firmaments
Te faire de la vie oublier les tourments
Car rien qu’en te voyant, ta belle barbe grise,
Ton aspect doux et bon m ont tout à Ton aspect
O quel charmant pays, où tout le long du jour,
On vous parle de chants de danse et d’ amour!
Mais viens, qui que tu sois, ou mortelle ou déesse,
Puisque tu veux m’ aimer, viens que je te caresse
Viens par tes doux baisers, tes chauds enlacements,
Me faire de la vie oublier les tourments.
d’ une voix pleurnicharde
Car dans ma vieille France, où l’ existence est rude,
L’ homme a trop de soucis et la femme trop prude.
Je suis, noble étranger, toute à toi si tu veux.
Qu’ils sont fermes, tes seins, qu’ ils sont doux tes cheveux!
En touchant ta peau fine, o ma belle mignonne,
Mon sang bout de désir et mon corps s’en frissonne.
(Il va prendre la Bossue dans ses bras)
Celle-ci craignant quil ne touche sa bosse, l'arrête et dit ce mensonge
Chut! Partout le devant tu peux me caresser,
Quant à mon derrière, il faudra le laisser;
Car toucher la partie opposée au visage
Dune femme est ici déD’une femme est
O rage! O désespoir!
Acte Premier, Scène VI- Paul
O rage! o désespoir! O vieillesse ennemie!
Nai-je donc tant véN’ai-je donc tant vécu que
Ne suis-je donc blanchi sous de nobles labeurs
Que pour commettre un jour de stupides erreurs!
Mes yeux qui m’ont rendu maỵtre dans la peinture
Trompent donc mes amours! Après cette aventure
De la Bossue, hélas! Le pays en émoi
Restera pour longtemps à se moquer de moi!
Alors, comment trouver de femmes assez folles
Qui, bravant du public les méchantes paroles,
Oseront bien venir égayer de leurs jeux
Du reste de mes vieux jours les instants ennuyeux!..
Quoi? Me faudra-t-il donc vivre comme un ermite
Moi qui suis, dEpicure, un disciple éméMoi
Pas de femmes, o ciel, ce sera trop souffrir!
Mon dieu! Pour mon repos, fais-moi bientôt mourir!
(Ce disant il pleure et se retire)
Viết theo Kỳ-Đồng, Nhà Cách-mạng và Nhà Thơ của Nguyễn khắc Ngữ, Tủ sách Nghiên-cứu Sử-Địa, 1990
Résumé
Kỳ-đồng (1875-1929), un nationaliste exilé par les Français aux ỵles Marquises, y a rencontré le peintre Gauguin ; quand celui-ci maria une femme indigène boiteuse et fut la risée de plusieurs, Kỳ-đồng qui entretenait des relations très amicales avec le peintre, écrivit cette comédie. Il a montré à
Gauguin qui l'a trouvée amusante
Le premier extrait présente une comédie de situation et de geste, tandis que
dans le second extrait, l auteur fit la parodie du Cid et donne une comédie de situation
Summary
Kỳ-đồng (1875-1929), a Vietnamese nationalist exiled by the French to Island Marquises, met French well-known painter Gauguin who married a lame woman and became the laughing stock. Kỳ-đồng who had befriended with the painter, wrote that comedy and shown it to him; and he found it amusing.
The first extract presents a comedy of situation and of movement; in the second extract, the author make a parody of Le Cid.