Ḍng văn-học Pháp-ngữ
 

Văn-học và văn-hóa

Các học-giả định-nghĩa văn-hóa nhiều cách khác nhau, phần lớn là những lời giải-thích dài-ḍng (Đào duy Anh: một trang rưỡi; Nghiêm Toản: hai trang; Vũ Bằng: 4 trang v..v..) nhưng nói chung-chung đại-khái là nếp-sống, lề-lối sinh-hoạt và suy-nghĩ. Có những sinh-hoạt hằng ngày ít khi để ư như khi đói th́ ăn, khi khát th́ uống; lại có những sinh-hoạt cầu-kỳ nhiều lệ-ước tựa như bổ cau têm trầu của ta, lễ uống trà của Nhật: trong các sinh-hoạt quy-ước đó, tính-chất văn-hóa biểu-lộ đậm-nét hơn. Biểu-lộ văn-hóa nhiều hay ít là do chính ḿnh và nhóm ḿnh biểu-diễn nhưng cũng có phần do óc nhận-xét của người quan-sát. Đến như cố ư dùng ngôn-ngữ văn-tự để ghi-chép, tŕnh-bày, phân-tách và truyền-bá các khía-cạnh văn-hóa (nếp-sống, suy-tư, tư-tưởng, nghệ-thuật, phong-tục và tập-quán v..v..) th́ gọi đó là văn-học. Cách tŕnh-bày h́nh-thức mặt ngoài cho sáng, cho đẹp, cho hay gọi là văn-chương; cái cốt-cách bên trong gọi là học-thuật. Văn-học bao-trùm văn-chương và học-thuật và là h́nh-ảnh nổi phô-diễn văn-hóa của nhóm người hay của dân-tộc.

Văn-học-sử

Văn-học-sử nước ta, nếu chấp-nhận định-nghĩa chung-chung ghi trên, thường được chia làm bốn ḍng văn-học. Cách gọi tên đôi khi có khác nhau, chẳng qua chỉ là theo góc nh́n riêng-biệt của từng tác-giả. Góp các tên lại th́ nh́n thấy sự phân-chia thời-kỳ và tính-t́nh của bốn ḍng văn-học chính-yếu đóa

a-Văn-học chuyển-khẩu, b́nh-dân
b-Văn-học bằng chữ Hán hay bác-học, Hán-học, Hán-văn, thơ-văn chữ cổ-điển 
c-Văn-học bằng chữ Nôm (vừa b́nh-dân vừa bác-học), Việt-văn, Văn Nôm, văn-
học cổ-điển.
d-Văn-học bằng chữ quốc-ngữ (dùng mẫu-tự La-tinh), nền quốc-văn mới.

Văn-học quốc-ngữ có hai nghĩa: ở trên, theo phương-pháp phân-đoạn, đó là một trong 4 ḍng văn-học và là ḍng văn-học đến sau cùng. Theo phương-pháp tổng-hợp, ḍng văn-học có thể coi như tiêu-biểu toàn Văn-học của ta v́ bao-gồm cả bốn ḍng sau khi đă ghi-chép lại văn truyền-khẩu, phiên-dịch phần văn Nho, diễn ra quốc-ngữ các bản văn-thơ Nôm và sáng-tác thẳng bằng chữ quốc-ngữ.

Văn-học và ngoại-ngữ

Trong giai-đoạn lịch-sử gay-go, với nền đốc-lập mới dành lại, do tinh-thần quốc-gia hăng-cao có phần quá-khích, có người đă viết: Ghép các tác-phẩm bằng chữ Hán, dầu do người Việt viết ra vào văn-chương Việt-Nam là một việc vô-lư... Đọc lời phát-biểu nặng-nề đó, học-giả Lê văn Siêu đă khuyên-giải: "Ta không thể v́ cớ chính-trị nhất thời mà phủ-nhận cả nền văn-học cổ bằng chữ Hán của ta như có ông bạn viết (như trên)

Cái đồ vật của tôi, chuyên-chở bẵng xe của tôi hay bằng xe mượn của nhà hàng xóm, cho con cháu tôi hưởng, th́ cũng vẫn là đồ vật của nhà tôi, đâu phải chỉ là v́ để trên xe mượn của nhà hàng xóm mà nó thành ra đồ vật của nhà hàng xóm ấy? cái quan-trọng là cái chứa đựng ở nội-dung về quan-niệm học-thuật, văn-nghệ. C̣n cái đánh lừa mắt ở bên ngoài là cái khí-cụ chuyên-chở?."

Chính-trị và văn-học

Sau 1975, nhà cầm-quyền cộng-sản đă mưu-định xóa-bỏ văn-học miền Nam trong hai thập-niên 54-75, trước với việc cấm bán và lưu-truyền, rồi tịch-thu và phá-hủy các sách đă in. Sau đó, họ viết văn-học-sử "cải-biên", ghi văn-học miền Nam "chính-thống" gồm các sách viết bởi các tác-giả miền Nam tập kết ra bắc hay các tác-giả miền bắc trên đường xâm nhập miền Nam. C̣n các văn-phẩm thực-sự miền Nam được xếp vào một phụ-bản "của miền tạm-chiến" (bởi quân ngoại-xâm). Vơ Phiến lo-ngại phụ-bản đó sẽ bị loại hẳn đi trong một kỳ tái-bản sau này. Đây là một thí-dụ khác về văn-học gặp tai-nạn "v́ cớ chính-trị nhất-thời".

Viết tiếng Pháp

Ḍng văn-học Pháp-ngữ cũng chịu ảnh-hưởng "cớ chính-trị nhất-thời". Pháp-ngữ không phải là tiếng của đại-chúng mà chuyên của giới trí-thức, lại phát-triển dưới thời Pháp-thuộc, sách viết xuất-bản được tức là nội-dung phải không có ư chống-đối nhà cầm-quyền cai-trị nếu không phải là tôn-pḥ "mẫu-quốc". Cho nên khi dành được độc-lập, nền Pháp-văn xuống dốc rất nhanh và rất sâu. Ấy là chưa kể các tác-giả đă quá-cố th́ bị chỉ-trích chê-bai như trường-hợp Petrus Kư, sống th́ bị bắt-bớ hăm-hại như Phạm Quỳnh, Nguyễn tiến Lăng, đường dài bị hành-hạ như Nguyễn mạnh Tường, Trần đức Thảo. Trong các thập-niên 50-70, Tiếng Nga ngoài Bắc và tiếng Anh trong Nam là hai ngoại-ngữ chính, lấn-lướt Pháp-ngữ.

Ḍng văn-học Pháp-ngữ tại Việt-Nam

Trong khoảng một thế-kỷ, ḍng văn-học Pháp-ngữ có mức-độ sản-xuất không phải là yếu-kém, cả trăm tác-phẩm dưới nhiều thể-loại khác nhau, phản-ảnh nhiều khía-cạnh sinh-hoạt của xă-hội đương-thời, tŕnh-bày nét-dáng văn-chương riêng-biệt, nói lên những ưu-tư của giới trí-thức ở một thời-điểm đặc-biệt, phô-trương giới-thiệu cho thế-giới bên ngoài thưởng-thức cái vốn quư học-thuật của ta. Đó cũng là một ḍng văn-học có đóng-góp. Tuy nhỏ bé về lượng so với ḍng văn-học truyền-khẩu hay quốc-ngữ, ngắn-ngủi về thời-gian so với ḍng văn-học cổ-điển bác-học Nho, ḍng văn-học Pháp-ngữ mang theo giá-trị lịch-sử, văn-hóa một thời-đại lại ôm-ấp khuynh-hướng nhân-bản vĩnh-cửu. Giá-trị nhân-bản của ta đă được thế-hệ mới ở hải-ngoại, tại Pháp và Âu-châu, tại Mỹ và Gia-nă-đại, ḥa-hợp với các giá-trị địa-phương cư-ngụ và xă-hội sinh-sống để rồi ghi lại bằng những tác-phẩm được viết ra bằng Pháp-ngữ, hay chuyển-ngữ ra tiếng Pháp những thập-niên gần đây. Ḍng văn-học Pháp-ngữ của chúng ta chưa cạn. Mong rằng nó sẽ nẩy-nở thêm nhờ các bạn gốc Việt ở mọi nơi.

Trong niềm hy-vọng đó, chúng tôi sắp-xếp một số tài-liệu để chúng ta cùng ôn sinh-hoạt cũ và nuôi dưỡng sinh-lực mới. Sự sắp-xếp này rất đơn-sơ, khó-khăn trong hoàn-cảnh biệt-lập, hạn-chế trong số tài-liệu có sẵn - hay đúng hơn bởi sự thiếu-sót các tài-liệu cần có - 

Phần đầu tŕnh-bày tổng-quát ḍng văn-học tiếng Pháp. Phần hai liệt-kê vài tác-giả xuất-hiện từ hồi tiền-chiến; sau khi giới-thiệu, sẽ có vài đoạn trích-diễn ngắn của mỗi tác-giả. Phần ba có vài tác-giả trẻ viết từ quốc-ngoại; cũng có giới-thiệu và dẫn-trích. Phần tư nói về dịch-thuật và các đặc-điểm trong văn của các tác-giả gốc Việt. Phần chót bàn về vài chủ-đề và vài tác-giả, tác-phẩm liên-hệ. 

Chúng tôi quan-niệm ở đây như là những bước đầu chập-choạng. Mong sẽ có quư vị dư tài-năng, nhiều phương-tiện và sinh-hoạt trong hoàn-cảnh thích-hợp hơn sẽ bổ-túc thêm sau này. 

Kim & Bs NguyễnlêHiếu

Tài-liệu tham-khảo: Dương quảng Hàm: Việt-Nam văn-học sử-yếu, k.nxb, VN, 1941, in lại bởi Sống Mới, Hoa-kỳ, 1979
Đào duy Anh: Việt-Nam văn-hóa sử-cương, Quan-Hải tùng-thư, VN, 1938, in lại bởi Đại-Nam, Hoa-kỳ.
Hoàng văn Chí: Duy văn sử quan, Cành Nam Pub., USA, 1990.
Lê văn Siêu: Nguồn gốc văn-học Việt-nam, Thế-giới, Sàig̣n, VN, 1956, in lại bởi Xuân-thu, Hoa-kỳ.
Nghiêm Toản: Việt-Nam văn-học-sử Trích-yếu, k.nxb, VN, 1949, in lại bởi Sống Mới, Hoa-kỳ.
Nguyễn đ́nh Ḥa: Brief survey of Vietnamese Literature, San Diego State Univ., 1990 
Phạm thế Ngũ: Việt-Nam văn học sử giản-ước tân biên, Anh-phương ấn-quán, Sài g̣n, 1965
Trương Chính & Đặng đức Siêu: Sổ tay văn hóa Việt Nam, nxb.Văn hóa, Hà Nội, 1978.
Valérie Daniel: La Francophonie Au Viet Nam, Ed. L Harmatan, Paris 1992.
Vũ Bằng: Nói có sách, nxb. Nguyễn-đ́nh Vượng, Sài-g̣n, 1971


Résumé: L’histoire litteùraire subit parfois une pression forte de la part de la politique. C’est ainsi que dans les anneùes quarante, pendant le mouvement de "retour aux sources", des esprits ultra-nationalistes ont recommandeù d eùliminer de la litteùrature nationale, la litteùrature classique sino-confuceùen Haùn-nho qui employait le chinois comme langue veùhiculaire. Dans les deùcennies cinquante et soixante, c’eùtait la litteùrature d’expression française qui fut mise aø l’index apreøs les traiteùs de Genève les nouveaux nationalistes n’appreùciaient la langue de l’oppresseur tandis que l’anglais prospeùra au Sud, le chinois et le russe au Nord. Dans les anneùes soixante-dix, ce fut le tour de la litteùrature vietnamienne dans le sud qui fut l’objectif d’une eùradication systeùmatique; le reùgime communiste vainqueur voulait effacer tout vestige de reùsistance libre contre la dictature de classe.

Cependant avec le recul du temps et l apaisement des sentiments, il ne serait pas inapproprieù de preùsenter une brève revue de la litteùrature francophone du Vieät-Nam avec une modeste anthologie au deùbut, espeùrant que d’autres prendront la relève avec une eùtude plus complète.

Summary: Literature sometimes suffers from political pressure. Ultra-nationalists have proposed to eradicate Vietnamese classical literature written in Chinese and French literature from national patrimony in the 40’s and the 60’s. After the conquest of the South by North Viet-Nam, communist government proceeded to eliminate Vietnamese literature in the former Republic of (South) Vieät-Nam in order to wipe out all vestiges of free resistance against class dictatorship during the period 1954-1975.

With time and with mind appeasement, it is not inappropriate to present a brief review of the Francophone literature of Vieät-Nam with a modest anthology at this stage, hoping that others will complete the task with more elaborate study.