Người viết chợt nhớ tới một bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, dưới tựa đề Vịnh Phật mà Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề chép trong Việt Nam Ca Trù Biên Khảo như sau:
Vịnh Phật
Thuyền từ một lá vơi vơi
Bể trần chở biết bao người trầm luân
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài
Chiếc thuyền từ một lá vơi vơi
Vớt ch́m đắm đưa người lên cơi tĩnh
Chữ kiến tính cũng như xuất tính
Trong ống ḍm đổ tiếng hư vô
Kẻ muốn đem nhân kỳ nhân hỏa kỳ thư lư kỳ cư
Xong đạo thống hăy rành rành công cứ
Bạng y thiên lư hành tương khứ
Đô tự nhân tâm tố xuất lai
Bát khang trang chẳng chút chông gai
Cùng nghiêng ngả một ḍng Hà Lạc
Trong nhật dụng sao rằng đạo khác
Cái luân hồi chẳng ở đâu xa
Nghiệp duyên vốn tự ḿnh ra
Nơi vuông tấc đủ thiên đường địa ngục
V́ chưa thoát ḷng trần mắt tục
Nên mơ màng một bước một khơi
Khiến cho phiền muộn Như Lai.
Chủ ư của bài hát nói biểu thị qua câu:
Chữ kiến tính cũng như xuất tính
Kiến tính là chữ chủ chốt trong câu
kiến tính thành Phật.
Theo Daisetz Tetaro Suzuki, chữ kiến tính đồng nghĩa với chữ
ngộ, chỉ cái đích của sự tu học Phật. Chữ xuất tính là noi theo cái tính của ḿnh.
Sách Trung Dung của Khổng học có câu:
Thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo.
Sĩ Tải P.J.B. Trương Vĩnh Kư dịch là:
Cái mạng trời gọi là tánh, noi cái tánh ấy th́ gọi là đạo, mà tu lấy đạo ấy th́ gọi gọi là giáo.
Trần Trọng Kim b́nh câu Trung Dung trên đây như sau:
Trời phú tính cho người ta, tất là đă cho ta cái đức sáng để hiểu [...] Ta cố làm cho sáng cái đức sáng của ta để đối với người với vật, cho đến chí thiện mà thôi. Chí thiện là cái cực cao của đạo nhất thể. Học giả phải theo cái bản tính thuần nhất của Trời phú cho mà sửa đạo mà lập giáo.
Trong bài hát nói trên đây, Nguyễn Công Trứ dẫn sách Phật và sách Khổng để cho người đọc thấy cái nh́n hạn hẹp của nhà Đường nho Hàn Dũ, người từng viết câu:
nhân kỳ nhân, hỏa kỳ thư, lư kỳ cư
Nghĩa là bắt người đi tu về làm dân, đốt sách Phật, lấy chùa làm nhà cho dân.
Nguyễn công Trứ thấy là "Đạo do lẽ trời m?Đạo
ra, nhưng cũng đều do ḷng người mà tới. Thế nên đạo Phật, chẳng phải là hư vô, bởi trong đời sống hàng ngày, đâu có ǵ khác [so với đạo Khổng].?"
Điều Nguyễn Công Trứ nói với người nghe hát như trên, phải chăng là truyền thống
tam giáo đồng tôn có từ ngàn xưa của người Việt Nam?
Phải chăng truyền thống đó dường như cũng hiển nhiên trong những h́nh ảnh biểu thị ḷng đại chúng tôn sùng Phật Bà Quán Âm Thị Kính, Thần Nữ Vân Cát và Đức Chúa Bà Maria? H́nh ảnh rỏ rệt nhất là trong ḍng văn học đại chúng, Phật Bà Quán Âm được Phật Thích Ca đón về trời; Vân Cát Thần Nữ được Phật Bà Quán Âm đón vềâ trời; và Đức Chúa Bà Maria được Chúa Ba Ngôi đón cả phần hồn phần xác về thiên đàng. Dẫu chẳng cùng một đạo, qua ba áng thơ văn truyền thống trên đây, h́nh ảnh biểu thị đức tin của người Việt Nam là một.
Phải chăng đó là nét chung của người Việt Nam, từ xưa tới nay, khiến Pierre Huard và Maurice Durand viết trong lời nhập đề cuốn Connaissance du Việt Nam như sau:
Le souci constant q'ua montré au cours des siècles la culture Vietnamienne de nassimiler aucun élément étranger (hindou, chinois, champ ou occidentale) sans essayer de lui imposer son cachet personnel est une garantie quelle a la cohésion suffisante pour résister aux pressions extérieures et pour continuer à exprimer le rapport si particulier quelle a établi entre les trois puissances de la Nature (tam tàLe souci constant qu’a montré au l'Homme.
Phải chăng lờøi Pierre Huard và Maurice Durand là một điều mà ngày nay người Việt Nam cầân thực thi để đề cao sự hiện diện của văn hóa Việt Nam trong trào lưu hoàn cầu hóa ?