NIỀM TIN NỮ THẦN LINH
TRONG VĂN HỌC TRUYỀN THỐNG
Lê Phụng

I
Mở Lời

Văn học truyền thống là văn học của đại chúng cải biến và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thế nên văn học truyền thống không chỉ là của riêng giới b́nh dân mà giới bác học cũng cần phải trau dồi. Đó là điều Pierre Huard và Maurice Durand, mượn lời thi hào Rabrindranath Tagor, viết trong chương nhập đề cuốn Connaissance du Viet Nam do Trường Viễn Đông Bác Cổ xuất bản tại Pháp, năm 1954: 

Les vietnamiens actuels doivent donc affirmer tous les éléments de leur culture propre, non pour résister à la culture occidentale, mais pour laccepter et lassimiler véritablement, en user comme leur nourriture et non pas en faire leur fardeau, se rendre maitre de cette culture et ne pas vivre à son orée, comme des compulseurs de textes et des déments de leur culture propre,

Với trào lưu hoàn vũ hóa hiện nay, lời Pierre Huard và Maurice Durand càng thêm khẩn thiết với những người có ư muốn ǵn giữ truyền thống Việt Nam. Trong chiều hướng nói trên, những trang sau đây giới thiệu với bạn đọc ba tác phẩm văn học truyền thống:

1. Quán Âm Thị Kính,
2. Vân Cát Thần Nữ
3. Đức Chúa Bà Tự Tích Văn.

Đoạn Quán Âm Thị Kính đối chiếu truyện thơ Quán Âm Thị Kính với những kinh truyện viết về Phật Quán Âm tại Đông Á, và đối chiếu theo cấu trúc truyện thơ đại chúng này với một vài truyện trong kinh sách cổ Việt Nam.

Vân Cát Thần Nữ khởi từ những truyện truyền miệng, những thần tích, những bản chầu văn về thánh Mẫu Liễu Hạnh lên tới truyện Vân Cát Thần Nữ của Đoàn Thị Điểm để t́m hiểu về vị Thánh Mẫu mà đại chúng Việt Nam tôn sùng.

Đoạn Đức Chúa Bà Tự Tích Văn đối chiếu tập văn với kinh sách Phật Lăo, và sách Nhật Tụng của người dân Chúa Việt Nam cùng Kinh Thánh. Việc đối chiếu này cho thấy dường như tác giả tập văn cùng tác giả sách Nhật tụng muốn tạo nên một h́nh tượng Đức Chúa Bà mang đường nét Việt Nam. 

Truyện thơ Quán Âm Thị Kính, Truyện Vân Cát Thần Nữ, cũng như Đức Chúa Bà Tự Tích Văn, là những áng thơ mang mầu sắc tôn giáo. Mối tương quan giữa thơ và tôn giáo là một vấn đề triết học. 

Từ đầu thế kỷ XX, George Santanya đă viết:

Poetry rised to its highest power is then identical with religious grasped in its inmost truth.

Ngoài tám chục năm sau, theo lời Paul Ricoeur, trích dẫn trong cuốn Myth, Truth and Literature của Colin Falck:

I see religious language as some kind of poetic language ... I should say that what makes the difference between poetic and religious kerygma is that poetry opens ways for my imagination to try, way of thinking, way of seeing the world, [...] that is to say, I am not commited, I have only to open my imagination.

Colin Falck tiếp lời Paul Ricoeur như sau:

[Poetry and religious] might both stand in a close relationship to such demands as may be laid on us in our pursuit of authentic behavior within our ordinary lives.


Điểm căn bản để t́m ra Đạo qua các áng thơ truyền thống kểà trên, là nhắm thẳng vào thế giới tâm linh, vốn từ đó vô số bí tích mầu nhiệm, hay bất khả tư nghị xuất hiện kỳ ảo và vượt qua giới hạn của tục thức. Đó là cái nh́n viên dung, mà Suzuki coi là tương tự với quan điểm về những tổng thể cụ thể của Hegel. H́nh ảnh tiêu biểu chữ viên dung ghi trong truyện dưới đây:

Nữ hoàng Vơ Tắc Thiên Nhà Đường cảm thấy như khó nắm được ư nghĩa viên dung. Đại luận sư Pháp Tăng của Hoa Nghiêm Tông giải thích bằng h́nh ảnh như sau. Trước hết, sư sai đốt một ngọn nến, rồi cho đặt những mặt kính thành ṿng tṛn chung quanh cây nến. Ánh sáng từ cây nến phản chiếu trong tất cả mặt kính, và mỗi ánh sáng phản chiếu này lại phản chiếu trong mọi mặt kính, hoá ra vô vàn ngọn nến. 
Tương truyền, h́nh ảnh trên làm sáng tỏ tâm trí nữ hoàng.


Đạo là ngọn nến, tâm thức của mỗi người viết cũng như người đọc và truyền lại áng thơ văn là một tấm kính phản chiếu. Tổng hợp vô vàn h́nh ảnh ngọn nến trong dàn kính phản chiếu là ḍng thơ văn truyền thống dựng quanh chữ Đạo. Mỗi h́nh ảnh ngọn nến là một tác phẩm hay kinh sách nói về Đạo. Người đọc văn học truyền thống, muốn hiểu một tác phẩm truyềân thống, không có cách nào khác là đối chiếu những áng thơ văn trong ḍng văn học truyền thống. Vắn tắt là không có cách nào để hiểu một áng văn thơ truyền thống khác cách đối chiếu với các tác phẩm liên bản, intertextualité. Khái niệm về liên bản là một khám phá của Bakhtine mà Julia Kristeva tóm tắt như sau, trong cuốn Sémiotique

"tout texte se construit comme mosaique de citations, tout texte est absorption et transformation dun autre texte. [...] le langagre poé“tout texte se construit comme mosaique de"

Ứng dụng quan niệm liên bản trên đây vào ḍng văn học truyền thống dựng quanh chữ Đạo, người đoc thấy rơ là chữ viên dung bao hàm khái niệm liên bản.

Thế nên, bằng cách đối chiếu tác phẩm liên bản, phần gợi ư cho thấy một vài nét tương đồng giữa h́nh tượng biểu thị ḷng tôn sùng Phật Bà Quán Âm Thị Kính, Thần Nữ Vân Cát và Đức Chúa Bà, nh́n qua ba tác phẩm truyền thống. 

Sự tương đồng này cùng chiều hướng với ư kiến của Nguyễn Công Trứ gạt bỏ Hàn Dũ, để thấy chữ xuất tính của Nho Giáo và chữ kiến tính của Phật Giáo cũng là một. 

Phải chăng như vậy, rơ là chiều hướng của Nguyễn Công Trứù là truyền thống đồng tôn sẵn có của người Việt Nam, mà các nhà văn nhà thơ bác học cũng như đại chúng ngày nay cần có để duy tŕ văn hóa Việt Nam truớc trào lưu toàn cầu hóa?