Dưới chủ đề Đệ Tứ Quyền, ban điểm sách Truyền Thông xin giới thiệu với bạn đọc cuốn Les Journalistes, les Médias et les Sources của Jean Charron, Jacques Lemieux và Florian Sauvageau, ba nhà nghiên cứu và giáo chức tại phân khoa Information et Communication, trường Đại Học Laval, Québec, Québec và ba cộng tác viên Michel Cormier, Francoise Le Hire và Caroline Riverin Beaulieu. Sách do nhà Gaetan Morin, Boucheville, Québec xuất bản năm 1991.
Tới nay cuốn sách đă xuất bản được 12 năm, nhưng vấn đề đặt trên mối tương quan giữa nhà báo và nguồn tin vẫn là một vấn đề sôi nổi trong môi trường thông tin đại chúng, medias. Giới hạn vấn đề cùng kết luận thâu lượm trong việc nghiên cứu này, tới nay hăy c̣n giá trị trên mặt lư thuyết và thực tế.
Trong phần dẫn nhập cuốn sách, Florian Sauvageau nhắc lại giới hạn vấn đề, đặt ra từ năm 1982, tóm lược như sau:
Mối liên quan giữa các nhà báo và truyền thông đại chúng với giới hữu quyền đă thay đổi tới gốc rễ, trong mấy năm gần đây. Đóng vai chủ động, trên mặt xă hội, trước tiên là chính phủ, rồi tới các cơ sở công kỹ nghệ và các nghiệp đoàn, đều theo nhau tự tạo cho ḿnh những phương tiện mỗi ngày một mạnh để lôi kéo quần chúng theo nhăn quan của riêng ḿnh. Bị tràn ngập bằng những bản tin, viết rất hoàn hảo, nhưng nhiều khi trái ngược nhau, loan truyền từ những nguồn tin có thẩm quyền, giới làm báo gặp khó khăn trong việc lựa chọn tin tức để đưa lên mặt báo. Giới làm báo, ngoại trừ một vài thành phần, trong hoàn cảnh này, không c̣n đất sử dụng quền tự do phê b́nh, một quyền căn bản trong đời sống dân chủ, và trở thành những xướng ngôn viên, trong hệ thống tuyên truyền của giới hữu quyền. Nhiều người không không tán thành lập luận trên. Với họ, giới hữu quyền lập ra những cơ sở chuyên về giao tế với đại chúng, relations publiques, là để góp lời vào việc thông tin đại chúng.
Chừng một năm sau, nhà báo Radolphe Morissette, viết trên tạp chí Les 30, bộ 7, số 10, tháng 12 năm 1983:
Những chuyên gia về giao tế với đại chúng, những người phụ trách về truyền thông, những tùy viên báo chí dưới mọi mầu sắc, đă hoàn toàn thắng lợi: họ đă thành công trong việc lũng đoạn, bao vây báo chí hàng ngày, từ báo in tới báo phát hành trên các làn sóng vô tuyến.
Do số dông, do tiếng nói mỗi ngày một mạnh, thời gian phát thanh phát h́nh kéo dài, giới chuyên môn về giao tế đại chúng đă nhai sống báo chí hàng ngày. Không c̣n thời sự, actualité, mà chỉ c̣n tin tức, nouvelles.
Ngăn chăn, đặt vào khuôn thước, hàng ngày [nhà báo] phải viết nhưng điều ho [giới nguồn tin]ĩ cho phép viết, và nhất là phải ngậm miệng không được nói những ǵ họ không muốn nói tới.
Hệ thống thông tin trở thành một bộ máy. Tất cả những ǵ, nếu có người coi là chính thức, đều được đưa lên mặt báo. Khái niệm về trách nhiệm tinh thần vê thông tin đă bị bỏ rơi.
Lời Morissette biểu thị truyền thống làm báo, nghi ngờ mọi nguồn tin, nhất là tin tức loan báo bởi những chuyên gia giao tế đại chúng, relationnistes, mà nhà báo quen gọi là bọn lính đánh thuê. Nhà báo là những người đi t́m những tin xác thực, qua những bài diễn văn mị dân, qua những chiến dịch lôi kéo quần chúng nhằm mục đích riêng tư.
Nhà báo Louis-Gilles Francoeur, nay thành chuyên gia giao tế đại chúng phản pháo, trên cùng tập san Les 30, bộ 8, số 3 tháng ba năm 1984:
Sự bất lực của người làm báo, sự yếu kém của ṭa soạn là những điều giải thích tầm quan trọng mỗi ngày một lớn mạnh của những nguồn tin chính thức hay đă được thảo chương, programmé, trong việc thông tin cho đại chúng, mà có người coi là sự lũng đoạn [báo chí].
Luc Beauregard, từng là một nhà báo, nay trở thành một giám dốc chủ tịch một cơ sở giao tế đại chúng di xa hơn. Ông coi là những người thuộc giới nguồn tin không có chủ tâm lũng đoạn báo chí, trái lại buộc nhà báo phải đào sâu vấn đề, phải phô bầy mặt bên kia của tấm huy chương, để đưa ra mọi quan điểm, nói vắn tắt là tạo nên nét cân nhắc suy b́ cho báo chí. Sau hết ông c̣n kêu gọi sự cộng tác của nhà báo để tạo ra nền tảng cho sự tự do truyền bá tin tức. André Sormany tŕnh bày tại hội nghị các chuyên gia báo chí Quebec, Fédération professionnelle des journa-listes du Quebec, năm 1988:
Người ta thường đặt đệ tứ quyền trong tay người viết báo. Đó là một lầm lẫn. Thật ra đệ tứ quyền là quyền của thông tin, information. Và trên địa hạt rộng lớn của thông tin, không chỉ riêng có người viết báo. Dầu muốn dầu không, chúng tôi, cũng như quư bạn, đều hiện diện tại đó và chúng tôi sẽ tiếp tục ở tại đó. Đă đến lúc, chúng ta phải t́m hiểu nhau, để phụng sự lẫn nhau. Tôi xin nhắc lại là chúng ta phụng sự lẫn nhau chứ không phải chúng ta lợi dụng lẫn nhau. Điều khác biệt là điều đó.
Ư niệm phân chia đệ tứ quyền của hiệp hội những chuyên gia giao tế đại chúng, làm các nhà báo tôn trọng giáo điều nghi ngờ các nguồn tin giẫy nẩy. Thế là trong giới thông tin, hiện nay có hai giới anh em thù nghịch.
Giới nghiên cứu cho rằng mối thù nghịch này vốn tiềm tàng từ lâu trong lịch sử báo chí tại Québec cũng như tại Hoa Kỳ. Điểm đáng lưu ư là sự chênh lệch hiện thời giữa nhân số đôi bên. Khởi đầu từ năm 1948, hội chuyên gia giao tế đại chúng chỉ có 26 hội viên. Tới năm 1986, con số này tăng lên 3000 người. Về phía nhà báo, theo thống kê của nghiệp đoàn nhà báo, tại Québec ước lượng có chừng 2500 người, gồm nhân viên mọi ngành từ những chuyên viên săn tin cho tới các nhà viết b́nh luận, dịch thuật, nhiếp ảnh, thư kư ṭa soạn, sửa bản thảo lên trang, vẽ hí họa, v.v...
Xét trên việc làm, người trách nhiệm về giao tế đại chúng hoạt động hoạt động khác xa một phóng viên của một đài vô tuyến truyền thanh, người mà trong một ngày phải loan tin về nhiều cuộc họp báo, trong nhiều lănh vực khác nhau, cũng như khác hẳn công việc của một phóng viên chuyên ngành của một tờ báo hàng ngày cỡ lớn vốn có đầy đủ thời giở theo dơi một hồ sơ. Chiến lược của giới chuyên gia giao tế là t́m những ưu và khuyết trong việc thông tin cùng giới phóng viên. Hiển nhiên là những nguồn tin do các chuyên gia về giao tế đại chúng am hiểu sự thông tin và giới báo chí dễ dàng lôi cuốn được đại chúng, so với nhưng nguồn tin thiếu kỹ thuật giao tế.
Nghiên cứu về mối tương giao giữa giới làm báo với các nguồn tin, giới chuyên môn theo dơi những ngả phân tích dưới đây:
. chiến thuật thông tin tinh vi và đa dạng của các cơ sơ nhà nước hay công kỹ nghệ lớn;
. giới truyền thông đại chúng cũng như giới viết báo thường không có một chiến thuật riêng, mà chỉ có phản chiến thuật, contre stratégie, nhưng thường lại có một chiến thuật mạnh mẽ để làm quảng cáo, marketing;
. những cuộc tranh luận hướng về đại chúng do các cơ sở xă hội có mở ra đề thăm ḍ dư luận;
.vai tṛ của người làm báo trên cương vị một mắt xích trong hệ thống dây chuyền để nối các nguồn tin với đại chúng.
. sự hợp tác giữa các nguồn tin và người viết báo xét theo mục tiêu và cấu trúc của các nguồn tin.
Nhóm nghiên cứu của trường Đại Học Laval, theo sát đường hướng nghiên cứu đề ra trên đây vào năm trường hợp kể sau:
. Vụ đảng Bảo Thủ Liên Bang muốn chủ trương đành bóng h́nh ảnh của thủ lănh đảng Brian Mulrony.
. Vụ hăng chế tạo nhôm Alcann muốn loan tin xây cất xưởng máy tại Laterrière để tạo nên một biến cố thông tin để nâng cao h́nh ảnh của hăng
. Vụ nhóm Regroupement Autonome des Jeunes (RAJ) một nhóm nhỏ, không có cơ sở giao tế, hoàn toàn không được ai biết đến, đă thành công và đứng đối mặt với sở trợ cấp xă hội qua một cuộc tranh luật trước công chúng.
. Vụ thất bại Québec 84, nhân dịp đại hội kỷ niệm 350 năm thành lập thị xă Québec, v́ giới thông tin đại chúng không đóng vai tṛ tuyên truyền cho đại hội. Câu hỏi đặt ra là phải chăng những nguồn tin tạo ra thông tin, giật dây phóng viên báo chí và truyền h́nh, và phải chăng phóng viên chỉ c̣n là những dây chuyền trong hệ thống thông tin?
Câu trả lời mà nhóm nghiên cứu đạt được có phần phức tạp như sau:
. Ảnh hưởng song phương giữa người viết báo và các nguồn tin. Thật vậy, trong cả bốn trường hợp nghiên cứu kể trên nếu quả giới viết báo làm hài ḷng giới tạo ra nguồn tin, v́ nguồn tin đă cung cấp cho giới viết báo những tương đối phủ hợp với việc thông tin đại chúng và những mong đợi của số đông phóng viên. Ngược lại người chủ trương nguồn tin có thể nghĩ rằng, đưa bản tin hợp ư phóng viên cho phóng viên chép th́ phóng viên sẽ vui vẻ chép, đưa h́nh ảnh đẹp cho phóng viên th́ phóng viên sẽ in những h́nh ảnh đó trên mặt báo hay chiếu những h́nh ảnh đẹp đó trên mặt kính truyền h́nh.
. Trong những điều kiện kể trên, hỏi là đệ tứ quyền ở trong tay ai? Câu trả lời sự tạo ra và kiểm soát tin tức là một cuộc thương lượng, négociation. Có thể nói rằng giới chủ các nguồn tin có ảnh hướng xâu đậm trên việc tạo ra tin tức với điều kiện là phải đáp ứng với đ̣i hỏi của việc thông tin đại chúng, cũng như phù hợi với chiều hướng săn tin và ngôn ngữ và quy luật của phóng viên.
. Kết luận này có thể làm giới chủ nguồn tin không hoàn toàn vừa ư. Họ có thể cho rằng như vậy là các nguồn tin phải ép ḿnh dưới quy luật của việc thông tin đại chúng. Muốn được góp lời với giới làm báo trước công luận espace public, nguồn tin phải tạo ra những h́nh ảnh giật gân, như tin tức sôi bỏng theo quy tắc của giới làm báo.. Điều đó không phải hoàn toàn là không đúng với thực tế. Nhưng có nhận điều này th́ tin tức do nguồn tin tạo ra mới được người loan tin hưởng ứng, và đó phải chăng đó là điều giới chủ nguồn tin mong muốn?
. Tóm lại có sự phân quyền giữa giới làm báo và giới chủ nguồn tin. Giới chủ nguồn tin nắm trong tay quyền cung cấp tin tức va định đoạt thời điểm và địa điểm loan tin cùng nội dung bản tin. Người làm báo giữ ch́a khóa cửa vào công luận.
Mối tương giao giữa giới làm báo với giới chủ nguồn tin trong thực tế c̣n phức tạp gấp bội nếu chấp nhận rằng không phải chỉ có một người làm báo mà có nhiều người làm báo, người này khác hẳn người kia, nhưng đồng thời người nọ gây ảnh hưởng trên người kia. Nhu cầu về tin tức của tuần báo khác với nhu cầu của báo hàng ngày. Nhu cầu của những báo chuyên luận định kỳ mỗi ngày một đông khiến công tác báo chí của tờ báo này khác hẳn tờ báo nọ. Ngay trong cùng một tờ báo, số phát hánh ngày thứ bẩy khác hẳn số phát hành ngày trong tuần. Giới nguồn tin phải thỏa măn nhu cầu rất khác biệt của mọi tờ báo và mọi số báo. Trong phạm vi thông tin trên các làn sóng điện những chương tŕnh theo khuôn thước tạp chí, những talk show, đ̣i hỏi những tin tức khác hẳn tin tức phát hành trong các giờ loan tin hàng ngày. Trong những buổi phát thanh phát h́nh chuyên ngành nói trên người ta mời những tài tử cũng như những nhân vật nổi tiếng tới phỏng vấn để gây ảnh hưởng trong giới khán thính giả.Trong chiều hướng đó người giữ ch́a khóa cửa công luận quả có ảnh hưởng lớn mạnh trên giới chủ nguồn tin.
Người ta thường bảo rằng, nếu trong phạm vi thông tin, sự hiện diện của giới nguồn tin mỗi ngày một lấn át giới làm báo, tất nhiên là giới làm báo phải t́m cách giải quyết vấn đề này, chứ không phải giới nguồn tin phải tự thay đổi đường lối. Thái độ của giới nguồn tin không có ǵ đáng chê trách nếu họ không vượt ra ngoài giới hạn của luân lư nghề nghiệp.
Câu hỏi là, nắm ch́a khóa cửa công luận, giới làm báo đương đầu với giới nguồn tin ra sao? Chấp nhận rằng giới làm báo là những người biết điều, trong chiều hướng là họ tự ḿnh bảo vệ quyền lợi của ḿnh, vậy th́ giới làm báo nhằm bảo vệ những quyền lợi riêng nào?
Chiến thuật của giới làm báo tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế và xă hội, do đó chiến thuật chung của các người viết báo trong cuộc thương lượng với giới nguồn tin cũng thay đổi theo hoàn cảnh kinh tế và thang giá trị xă hội. Trong những năm đầu thập niên 80, hoàn cảnh kinh tế xă hội không mấy thuận lợi cho giới làm báo bảo vệ quyền độc lập trong việc loan tin.
Từ những năm đó tới nay, sự phát triển kinh tế dành ưu tiên cho tư nhân. Thế nên, thang giá trị xă hội mang mầu sắc tân tự do, néo-libéral và đoạn tuyệt với khuynh hướng xă hội thịnh hành trước đó vài chục năm. Trong thang giá trị này, một số đông những nhà làm báo trở nên bảo thủ, số c̣n giữ khuynh hướng xă hội đành phải ngậm miệng chờ t́nh thế thay đổi. Nhà báo Pierre Maisonneuve gọi những nhà báo bảo thủ này là những nhà báo trưởng giả.
Trong hoàn cảnh kinh tế những năm đầu thập niên 80, giới làm báo c̣n phải đương đầu với những khủng hoảng trong toàn thể kỹ nghệ truyền thông. Đối mặt với sự sống c̣n của tờ báo, người viết báo dầu muốn dầu không cũng phải chịu đựng cảnh làm việc dưới lưỡi dao cắt xén của ban tài chánh, do đó nẩy sinh ra sự mâu thuẫn giữa giới chủ báo và người làm báo.
Trong hoàn cảnh tài chánh đó, giới làm báo càng thêm phụ thuộc vào giới nguồn tin. Giới làm báo dường như chỉ c̣n là những người loan tin cho giới nguồn tin. Cũng trong hoàn cảnh tài chánh đo, tờ báo sống nhờ vào tiền quảng cáo. Trước sự sống c̣n của tờ báo người viết báo phải đẩy lùi lương tâm cùng đạo đức nghề nghiệp vào một góc tối, để đăng tài những bài báo có khả năng lôi cuốn độc già mặc dầu có nhiều khuynh hướng độc giả rất đáng nghi ngờ trên mặt thông tin.
Sang thập niên 90, t́nh h́nh kinh tế có phần sáng sủa nên giới viết báo dần dần lấy lại được uy tín trong công cuộc hướng dẫn dư luận. Những tờ báo chiều theo khuynh hướng độc giả trở thành những tờ báo loại sopft news , trong đó hoạt động thông tin của người làm báo bị thu hẹp để thực hiện mục tiêu tài chánh của chủ báo.
Một vấn đề thực tế đặt ra cho giới làm báo. Đó là việc điều ḥa giữa hai mục tiêu sinh lợi cho tờ báo và thiên chức phục vụ độc giả thay v́ chiều theo thị hiếu của độc giả. Trong chiều hướng này mối tương quan giữa người làm báo và giới nguồn tin như lắng xuống tới mức b́nh thường, nhưng không v́ thế mà người làm báo lấy lại nguyên vẹn đệ tứ quyền cho ḿnh.
Để chấm dứt, ban điểm sách Truyền Thông xin nêu ra hai câu hỏi và rất mong được làm diễn đàn để bạn đọc tranh luận. Đó là:
Đệ tứ quyền sẽ vào tay ai trước:
. đà tăng trưởng của các điện báo trên lưới tin?
. và trước đe dọa của trào lưu toàn cầu hóa?