Phỏng dịch bài: " Forgotten massacre at Hue". Is the mediás treatments of My Lai and Hue massacre a case history in journalistic double standard? James O. Clifford Sr
LTS. Tác giả: James O. Clifford Sr phục vụ trong Hải quân Hoa kỳ từ 1956- 1958 với tư cách là phóng viên chiến trường tại Phi luật Tân, sau đó ông trở thành chuyên viên thông tin trong binh chủng Không quân trừ bị Ông là thông tín viên hăng A.P. San Francisco đặc trách các tin liên hệ tới lịch sử. Từ Uyên
Phải chăng cuộc tàn sát tại Huế là cuộc tàn sát được giấu kín nhất? Đúng như vậy nếu ta tin vào ngành truyền thông đại chúng Hoa kỳ cũng như trong môn học về lịch sừ Đó là lời kết luận của tôi sau 40 năm làm báo, phục vụ trong hai hăng thông tấn quan trọng nhất thế giới là United Press quốc tế ( UPI) và Assocated press (AP).
Tôi về hưu năm 2000 và như vậy ra khỏi ngành truyền thông, một ngành được coi như liên hệ tời nhiều cơ quan khác và nhằm thổi c̣i ra lệnh. Có thể việc giới hạn mọi báo cáo về cuộc tàn sát tại Huế là một màn giấu giếm cố ư và có tổ chức, đă khiến tôi băn khoăn ngay từ khi tôi c̣n là phóng viên non trẻ phục vụ cho UPI, lúc tôi được đọc thông cáo ngắn ngủi về vụ thảm sát nàỵ Cuộc thảm sát có tổ chức giết ít nhất 2810 thường dân tại Huề (nhưng theo Douglas Pike, một nhà khảo cứu về Việt Nam, nạn n hân lên tới 5700 ) gồm ngoại kiều, trí thức, lănh tụ tôn giáo, chính trị gia và nhiều người khác h́nh như do các cán bộ cộng sản tại địa phương thực hiện, không phải do quân chính qui miền Bắc xâm nhập sát hạ.
Mồ chôn tập thể được t́m thấy tại Huế ngày 26 tháng 02 1968 sau khi chiếm lại Huế, đáng lẽ xứng đáng là đề tài mà giới truyền thông phải nói lên nỗi khủng khiếp của cuộc thảm sát nàỵ Nhưng tôi chờ đợi năm này qua năm khác không ai nhắc tới chuyện nàỵ
Bỏ quên vụ thảm sát này khiến tôi cảm thấy nhiệm vụ của báo chí được coi như cơ quan tiền phong của lịch sử đă bị biến thea Trước đây theo truyền thống căn bản, người phóng viên có bổn phận viết phần đầu của mọi sử liệụ Một giáo sư của tôi đă dạy: "Rồi sau này, những năm tới sẽ có một hay nhiều giáo sư danh tiếng dùng tài liệu của anh mà viết thành sách". Ngày nay, phóng viên hay chủ bút đă thay thế sử gia để quyết định cho nhân dân nên nhớ hay quên cả việc quốc gia.
Thí dụ rơ rệt: Hăng Associated Press Television and Radio Association họp Đại hội năm 1998 và trưng bày những bức h́nh coi như vĩ đại nhất trong 150 năm quạ Và ta thấy ǵ: Thế chiến thứ hai được tượng trưng qua bức h́nh Dựng cờ tại IWO JIMA và h́nh binh sĩ khải hoàn chiến thắng trở về, chiến tranh Cao ly được tượng trưng qua cánh tay lính Mỹ chết dơ qua lớp tuyết dàỵ
Trận chiến tại Việt Nam trái lại trưng ra h́nh ảnh do Eddie Adams chụp năm 1968 cho thấy một sĩ quan Việt Nam bắn chết một tên khủng bố, cùng với h́nh em gái trần truồng chạy ra sau trận thả bom napalm năm 1972. Không một lời b́nh luận, không một hàng ghi chú . Khi nh́n hai bức ảnh đó người coi có cả ngàn câu phỏng đoán về nơi xuất xứ của các tấm h́nh. Bức h́nh chụp trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân đă nhằm chứng minh cho nhiều người rằng Hoa kỳ đang trợ giúp một chính thể coi bắn giết như một tṛ đùạ Người lảy c̣ chính là Tướng Nguyễn ngọc Loan chỉ huy trưởng Cảnh sát. Ông qua đời năm 1998. Và cho tới ngày chót ông vẫn là bạn của Adam. Nhiếp ảnh gia này trong bài điếu tang đă thú nhận, người bắn cũng như tấm h́nh bắn giặc đă bị hiểu lầm. "Tôi rất bực tức v́ tới khi ông chết, không ai hiểu ǵ về ông", Adams nói tiếp. Anh cho rằng Tướng Loan là một người anh hùng và Mỹ quốc phải khóc thương ông. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng chẳng biết Adams khóc than Nguyễn ngọc Loan hay than khóc cho sự bất công của bức h́nh phóng sự liên hệ tới việc xử bắn ngoài phố 30 năm về trước.
Người mà Ông Loan bắn là một tên khủng bố, hắn đă sát hại cả một gia đ́nh một sĩ quan cảnh sát. Hắn lại mặc thường phục và như vậy tại nhiều cuộc chiến Mỹ đă tham gia, hắn có thể bị xử bắn ngả Như vậy không có nghĩa là việc bắn này là đúng. Hắn có thể bị đưa ra ṭa xét xừ Nhưng bức h́nh đưa ra đă khiến người coi kết luận tướng Loan khát máụ Ông tức giận v́ tù nhân này quá tàn nhẫn gây ra bao thảm sát.
Tôi rất ngạc nhiên khi cảm thấy lương tâm dành cho chiến tranh tại Việt Nam chỉ nghiêng về một phía.Tường thuật về chiến tranh không phải là chuyện dễ, nhưng tại Việt Nam lại quá dễ.
Những giới hạn ấn định dành cho phóng viên quá sơ sài so với các cuộc chiến tranh khác trước đâỵ Các phóng viên tại các cuộc chiến tranh trước phải tuân theo quân luật và phải chịu nhiều giới hạn cũng như đều bị kiểm duyệt các phóng sư. Muốn tới đâu phải được chấp thuận và hướng dẫn.
Tại chiến trường Cao Ly phóng viên được coi như quân nhân, mặc quân phục trái hẳn với cách ăn mặc của các phóng viên hoạt động tại Việt Nam qua bộ đồ Safari hay các cách ăn mặc lạ kiểu khác.Trong các trận chiến trước, phóng viên được coi như cái đuôi của quân đội, nhưng tại Việt Nam những cái "đuôi" này chỉ vẫy về một phíạ Thí dụ điển h́nh nhất là vụ Mỹ lai và vụ Huể Tuy nhiên nếu Mỹ lai được dấu khá lâu, v́ báo chí không biết, nhưng Vụ thảm sát tại Huế ngay trước mắt cũng không được ai t́m hiểu và điều tra.
Trái lại vụ Mỹ Lai không chịu đi vào dĩ văng. Năm 1998, 30 năm sau vụ Mỹ Lai, cả nước hướng về câu chuyện của chuẩn úy Hugh Thompson được coi như vị anh hùng đă cứu được một số nạn nhân tại Mỹ Lai, và khi nhắc tới hành động anh hùng này khi chạm trán với bộ binh Mỹ khi cứu nạn nhân, có người đă kết luận rằng" Đây là lúc đen tối nhất trong các cuộc chiến Hoa kỳ tham gia" .
Vụ thảm sát tại Huế xảy ra trước vụ Mỹ lai hai tháng. Vậy việc thiếu sót thông tin, không tường thuật phải chăng v́ lư tưởng thiên lệch. Chúng tôi không tin như vậy v́ nếu phóng viên được biết nhiều về Mỹ lai, họ cũng như quần chúng biết rất ít về vụ thảm sát tại Huể Tuy nhiên cũng có lư khi tin rằng có phóng viên muốn chôn luôn vụ thảm sát Huế và lăng quên luôn số nạn nhân trong cuộc thảm sát nàỵ Thực vậy khi nói tới Mỹ Lai, người ta tăng dần số nạn nhân, khi nói tới Huế người ta lại giảm số thường dân bị thủ tiêu.
Hăng AP truyền đi ngày 13-03- 1998 từ Hà Nội kể lại chuyện tại Mỹ Lai em nhỏ được Thompson cứu và kết luận 504 người bị thảm sát. Đài CNN tường thuật nhân dịp kỷ niệm Mỹ lai cho biết qua các loa phóng thanh tại địa điểm làm lễ kỷ niệm kể lại quân xâm lược Mỹ giết hại 407 nạn nhân.
C̣n về vụ Huế rơ ràng các phóng viên cố né tránh. Ngay cả phóng viên hăng AP Peter Eng khi đi một ṿng theo các vị Mỹ dùng xe đạp du lịch Việt Nam ngày 10-01- 1994 cũng kể lại lộ tŕnh các vị này đi qua các vùng đă xảy ra kịch chiến như Huế, Đà Nẵng, Quảng ngăi và nhất là Mỹ Lai nơi quân Mỹ giết vài trăm dân lành. Thấy chưa: họ coi Huế là chiến trường c̣n Mỹ Lai là nơi bị thảm sát. Họ không nhắc tới tội ác tàn sát dân lành tại Huế.
Eng cũng như những vị chủ bút của anh dùng lại như hệt những cụm từ cũng do AP đặt ra năm 1991 khi 38 người Mỹ bay đi Hà Nội để bắt đầu hai tuần đi bộ nhằm tạo t́nh hữu nghị giữa Hoa kỳ và Việt Nam, họ thăm Hà Nội, Huế, Đa Nẵng, Vinh, Vũng Tàu, Sai gon và có thể sẽ tới thăm Mỹ Lai nơi MỸ gây thảm sát, tuyệt đối tránh vùng Huể Không đả động một câu về thảm sát tại đây.
Một thí dụ nữa khi ta thấy George Esper người được coi là đặc phái viên của AP viết bài dài 1000 chữ về cuộc thăm viếng Mỹ của một cựu chiến binh VN CS. George Esper làm việc tại Việt Nam từ 1965 tới ngày miền Nam sụp đổ năm 1975.
Người cựu chiến binh VNCS gặp vài cựu chiến binh Hoa kỳ có lẽ trong số này có cả đối thủ cũ của anh.
Câu chuyện nhan đề "Bạn và Thu" mở đầu bằng cảnh người cựu chiến binh Việt đứng trước đài kỷ niệm quân nhân Myọ Đài kỷ niệm có ghi rơ các địa danh chiến trận trong đó có HUẾ.
Sau đó người cựu chiến sĩ Việt cho biết anh đă đổi khác cảm tưởng của anh về quân nhân Mỹ, trước đây anh nghĩ lính MỸ là những kẻ chuyên nghiệp được huấn luyện để giết người như tại Mỹ LaỴ Tôi không thấy đoạn đối thoại nào nhắc tới Huế về cuộc chiến trong thành phố này cũng như về vụ thảm sát.
Esper nay cũng về hưu, tôi hỏi anh nhiều lần tại sao anh ít đề cập tới Huế nhất là về chết chóc tại đây ? Anh tránh không bao giờ trả lời tôỴ Tôi cũng hỏi cả Joe Galloway người đă là phái viên của UPI trong chiến tranh VN và sau này anh c̣n là đồng tác giả cuốn We Were Soldiers Oncevà cả Young người biết nhiều về trận Drang 1965. Anh có nhiều điều để nói.
"Việc không cho viết lên hàng đầu các tin quan trọng là nguyên nhân của sự giấu giếm thảm sát ở Huể "Và đó là bài học cho những ai tin vào Truyền thông đại chúng tại Hoa kyu Đó là kết luận của tôi sau 40 năm theo đuổi nghiệp phóng viên, một sự nghiệp tôi theo đuổi trong đời làm việc với United Press International và The Associated Press, hai hăng thông tấn lớn nhất thế giớỴ Galloway nói với tôi, anh về hưu năm 2000 và anh chẳng c̣n để tâm tới vấn đề giết chóc nữa nhưng ai cũng biết Quân Bắc Việt và Việt Cộng vô cùng tàn bạo trên con đường chiếm đoạt chính quyền. Chúng tôi viết nhiều về những vụ xă trưởng, vợ ông và cả gia đ́nh bị trói vào cọc, bị mổ bụng, bị chặt đầu rồi treo lên như một h́nh phạt để đe dọa nhân dân. Vụ thảm sát Huế cũng chỉ là vụ thanh toán tầm vóc lớn hơn.
Đại úy George Smith phụ trách thông tin tại Huế cũng chung nhận xét: Khi viết cuốn The siege of Huẹ Ông ghi nhận ít ai để ư tới tàn ác tại Huế mà chính ông là nhân chứng khi t́m thấy trong tháng 3 -1968 nhiều xác chết tay c̣n bị trói bằng dây thừng hay dây kẽm. Không như tại Mỹ Lai, sự thực chỉ bại lộ 20 tháng sau, tại Huế vụ thủ tiêu ghê rợn này chỉ được coi như một tin không đáng kể rất tầm thường trong một nước có chiến tranh.
Ngày đó là như thế, và ngày nay cũng vẫn vậy, Tôi hiểu tại sao báo chí chỉ chú ư tới Mỹ Lai, Đó chỉ là một cách chuộc tội . Trước sau, vụ Mỹ Lai cũng do phía ta đưa ra ánh sáng.
Tôi vẫn không hiểu tại sao các phóng viên và các vị chủ bút tới giờ này cũng vẫn tảng lờ vụ thảm sát ở Huể Nếu có những tin trái ngược cũng phải nhảy vào v́ câu chuyện c̣n chờ đó.
Có nhiều nguồn tin trái ngược nhau lắm chứ kể từ khi tờ New York Times, AP, UPI, và Washington Post loan ra vào tháng 5 năm 1968.
Cho tới tháng 11 năm 1969 tin trái ngược nhất do nhà Sử học D. Gareth Porter tốt nghiệp tại Cornell, trên tờ The Christian Kentury ông cho biết bản báo cáo về nạn nhân vụ Huế bị thổi phồng v́ chính quyền muốn dọa dân nhằm cho họ thấy số phận họ một khi Cộng quân chiến thắng. Porter năm 1975 viết bài trên Ramparts magazine nhắc lại: Huyền thoại về vụ thảm sát tại Huế ( The Myth of the Hue Massacre), lần này các bài phản đối ông xuất hiện nhiều và trung thực hơn điều ông viết.
Porter được chính quyền Huế năm 1969 cho ông biết có gần 5000 người bị thảm sát, và ông kết luận ngay như vậy chứng tỏ việc này do chính quyền Việt Nam thời đó bịa đặt để tuyên truyền nhằm đánh lừa dư luận Mỹ, Việt và được báo chí Hoa kỳ chấp nhận không phê b́nh.
Không phải chỉ ḿnh nhà trí thức Porter có thái độ đó, Grover Furr, nhân viên ban Anh ngữ Đại học Montclair tại New Jercey cũng lầm lẫn khi dạy Sử Việt Nam. Qua một bài phỏng vấn với báo Sinh viên trường này năm 1984 ông cho rằng kẻ thủ tiêu người tại Huế chính là mật vụ VNCH và T́nh báo CIA giả rạng để đổ lỗi cho Việt Cộng, ông c̣n đi xa hơn khi cho rằng vụ Mỹ giết người tại Mỹ Lai là chuyện thường xuyên và không là chuyện đặc biệt.
Tôi đọc được bài báo đó và tôi điện thoại cho Furr yêu cầu cho biết xuất xứ của các in nàỵ Furr xác nhận tất cả do Porter đưa rạ Câu hỏi của ngày hôm nay: Liệu những lời tố cáo của Porter có thể được báo giới Hoa kỳ chấp nhận không?
Cuộc tranh luận dài dài trên Internet và cả hai phe đả kích nhau liên tiếp. Thỉnh thoảng thấy bài trên báo, bài nhắc lại Mỹ Lai, bài đ̣i điều tra về vụ thảm sát Huể Có nhiều lá thư gửi cho Chủ bút, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thấy trên mục tin tức hàng đầu.
Stanley Karnov công nhận từ lâu thảm sát tại Huế có thật nhưng toàn báo giới Hoa kỳ lặng câm. Tôi một lần đă nhờ trưởng pḥng tôi yêu cầu cấp cao tại New York cho tôi làm một cuộc điều tra về vụ này và được trả lời: Quân Mỹ có bao giờ làm vậy, và hiểu ngầm rằng đó là do bên kia làm cần ǵ phải điều tra thêm...
Hơn nữa việc thảm sát tại Huế không c̣n là tin sốt rẻo, ngoài việc làm cho AP tôi c̣n đọc thêm 7 tờ báo nữa mỗi ngày và từ 10 năm nay nhũng tin tức về Huế chỉ c̣n đếm trên đầu ngón tay và phần nhiều viết về chiến tranh, đôi khi nhắc tới cuộc thảm sát qua vài hàng. Có vài câu chuyện cho biết nhà cầm quyền hiện nay đă không nhắc tới giết tróc , một cách lảng tránh đáng keaTuy nhiên một việc đáng chú ư, Việt Nam đang có Viện Bảo tàng trưng bày tội ác của Mỹ.
Trong số người qua thăm có Raymond Schtrot , một phóng viên và cũng là giáo sư tại Đại học Loyola tại New Orleans. Trong một bài viết cho tờ báo danh tiếng Review của trường báo chí Columbia năm 1996 ông không ngạc nhiên khi được coi bức h́nh lính Mỹ trưng ra một cái đầu lâụ " Tôi đă thấy những h́nh như vậy qua báo "chui" hay báo chính thức tại Hoa kỳ hai mươi năm trước những cảnh xác chết tại Mỹ Lai, cảnh trấn nước, cảnh xác chết của Việt cộng bị cán dưới gầm xẹ Và dù người Việt ( C.S.) có giấu giếm các chuyện thực cũng t́m thấy và người coi có thể nhận thức được căn bản của đạo đức, và của chính trị.
Tuy nhiên trong tờ Review không một bài nào nói về Huế và chắc chắn nếu có bài về Huế thế nào cũng có người chú ư cũng như xúc động. Chuyện về Huế hoàn toàn bị lăng quên.
Sự thiếu sót này nêu lên câu hỏi về ḷng trung thực của báo chỴ Độc giả và thính giả kết luận ra sao về các nguồn tin coi như chính thức nàỷ Vậy những nguồn tin khác, nhất là các nguồn tin xuất xứ từ người Việt đang sống tại Hoa kỳ th́ saỏ Tuy nhiên dù tôi không dựa theo những nguồn tin của họ để viết thành câu chuyện, tôi cũng nghĩ tin của người tị nạn thỏa măn được nỗi ṭ ṃ của tôi ít nhất tôi có thể hiểu được lối làm việc của Porter.
Porter nhấn mạnh rằng các tin cung ứng cho báo chí dựa theo một bản báo cáo của cán bộ cộng sản khi dịch ra có thể khó hiểụ Trong bản báo cáo tiếng Việt viết ta loại được 1892 nhân viên hành chánh địch. Porter khẳng địch chữ "diệt" dịch ra tiếng Mỹ chỉ là vô hiệu hóa và không có nghĩa là giết hạỴ Nhưng theo người Việt tị nạn, loại đối với V.C có nghĩa là thủ tiêu hay rơ rệt là giết chết.
Ngoài nguồn tin của người Việt tị nạn, ngày nay c̣n có những cựu chiến binh trong cuộc ngày trước nay được tự do phát biểụ Bạn láng giềng tôi là Dan Diridoni trước đây là hạ sĩ trong tiểu đoàn 9 công binh thuộc Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến . Hồi ức của anh được ghi trong cuốn sách mới của binh chủng do Jean Shellenbarger viết.
Anh cho biết kỷ niệm đau thương nhất của anh khi tới nhà thờ vùng Huế:" Có chừng 100 tới 150 xác bị giết nằm la liệt trong đó"
Hơn nữa ngày nay sau một thời gian, các tài liệu về Huế được giải mật nhờ quyền tự do t́m hiểu các tài liệu coi đây là việc ngụy tạo của chính quyền VNCH ngày đó hay thảm sát do lệnh của quân Bắc v́ điên khùng tự ư gây ra hay chính họ đă nhận lệnh của cấp trên.
Tôi t́m được một tài liệu của tổ chức Rand liên hệ tới hoạt động của Mỹ tại Huế và t́m được một tài liệu nhặt được : cuốn sổ tay của một cán bộ cao cấp BV hành quân trong vùng Huế.
Tài liệu này cho biết đại thắng v́ đă tiêu diệt được 3000 cán bộ VNCH trong đó có phó tỉnh trưởng bị sát hạỴ Tất cả ngụy quyền từ cấp xă tới tỉnh đều bị tan vơọ Tài liệu này không phải do VNCH kiếm được mà do Đệ nhất sư đoàn không kỵ Hoa kỳ t́m thấy ngày 12-06- 1968.
Những ǵ đă xảy ra tại Huế nay rơ rành hơn sau 30 năm im hơi lặng tiếng. Cựu Phó Tổng thống Al Gore đă khẳng định một điều mà ai cũng biết từ lâu: " Thật là nỗi lầm lẫn lờn cho những ai nghĩ rằng chiến tranh VN là sai khi cho rằng VC chỉ là những người nhà quê chiến đấu giành độc lập. Họ là công cụ của miền Bắc từ đầu đến cuối."
Và mặc dầu báo chí vẫn im hơi lặng tiếng nơi mục tin tức th́ trong mục B́nh luận của tờ Register-Guard of Eugene tại Oregon ngày 06 tháng 02 1998 thấy đăng thơ của độc giả: Donald May, ông cho biết ông là cựu chiến binh của sư đoàn 101 nhảy dù.
Để nối tiếp bài viết của AP nhân kỷ niệm 30 năm ngày Tết Mậu Thân ông viết:
Bài về vụ thảm sát Huế thiếu một đoạn, tôi xin bổ túc " Mỹ lai là một lỗi lầm, nhưng thảm sát tại Huế đă bị báo chí bỏ quên và người Mỹ do đó không có dịp biết đến."