Cuộc chiến tranh tại Việt Nam thực sự khởi đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi quân đội Việt Minh nổ súng đánh úp quân Pháp mà chính V.M đón vào qua Hiệp định 06-03- 1946.
Trong suốt một thời kỳ 1946 tới 1949 trước khi Trung Cộng toàn thắng tại Trung Hoa, Việt Minh chẳng trông mong ǵ ngoài mức hy sinh của nhân dân Việt Nam sau khi Việt Minh đă tiêu diệt hết các đảng phái đối lập và thành lập chính phủ Liên hiệp để cùng nhau kháng chiến.
Trong thời gian đó chẳng phóng viên báo chí nào chú ư tới chiến trận. Các phóng viên này hầu hết là người Pháp và thu thập các tin chiến sự qua các buổi họp báo hàng ngày của Bộ Tư lệnh Pháp ngoại trừ Lucien Bodard và Bernard Fall. Phóng viên các nước khác chỉ chú ư tới Việt Nam sau khi Việt Minh đă gửi quân qua Nam Ninh nhờ Trung Cộng huấn luyện và viện trợ quân sự và thành công sau chiến dịch đường số 4 vào tháng 09 năm 1950. Bernard Fall đă bắt đầu cho rằng đây là cuộc thất bại quan trọng nhất của Pháp sau lần thua trận và mất Quebec vào tay người Anh. Tại Pháp tờ Paris Presse trong số tháng 10 năm 1954 đă cho biết tinh thần quân viễn chinh Pháp suy sụp không phải v́ lực lượng của Việt Minh nhưng sợ sự can thiệp của quân đội Công Sản Trung hoa mà họ ước lượng có cả triệu bên kia biên giới và sẵn sàng lâm chiến bất cứ lúc nào.
Và sau khi De Lattre qua Đông dương t́nh h́nh tạm yên. Vơ nguyên Giáp thất bại sau các trận Vĩnh yên, Mạo khê , các phóng viên hoàn toàn thán phục De Lattre. Nhưng sau khi De Lattre chết và Navarre chọn Điện biên phủ làm chiến trường các phóng viên nhất là Wilfred Burchett bắt đầu các phóng sự về Việt Nam và bắt đầu nghiêng về Việt Minh và trận Điện biên phủ. Burchett khi đó viết cho tờ London Daily Express đă t́m gặp Hồ chí Minh tại mật khu và bắt đầu từ đó đứng hẳn về phía Việt Minh sau đổi thành Bắc Việt hay Việt Nam dân chủ cộng ḥa, và Burchett sau này c̣n làm nhiều công tác tuyên truyền cho Việt Cộng trong thời gian 1954 tới 1975. Cũng ghi nhận Burchett trên công tác tuyên truyền cho Việt Nam xă hội chủ nghĩa đă nếm đ̣n của Cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Montreal khi diễn thuyết tại trường Đại học Concordia năm 1979. Một nhà báo Pháp Jean Lacouture cũng ca ngợi tài kéo và dấu trọng pháo của Việt Minh trong trận Điện biên dấu trên các cao điểm trên núi nhờ đó đă triệt tiêu pháo binh Pháp và ngăn cản nổi mức can thiệp của không quân cũng như ngăn cản việc tiếp tế bằng dù. Chiến thắng của Việt Minh đă được Lacouture ca ngợi.
Sau hiệp định Genève phong trào di cư vào Nam cũng bị Bernard Fall xuyên tạc, ông cho rằng Mỹ qua nỗ lực của Đại tá CIA Landale, người công giáo đă chọn lựa di cư vào Nam, nhưng Bernard Fall không đả động ǵ tới nhóm người không công giáo cũng chạy trốn cộng sản.
Trong thời gian sau Genève khi chính quyền Ngô đ́nh Diệm đang trong thời gian củng cố qua bàn tay của Pháp tướng Nguyễn văn Hinh đe dọa đảo chánh và phóng viên Văn Thiệt trên đài quân đội đă hàng ngày gằn giọng đả kích Thủ tướng.
Và sau này Pháp vẫn phá ngầm miền Nam qua các bài diễn văn của De Gaulle đ̣i Mỹ rút ra khỏi Việt Nam và đ̣i trung lập hóa riêng miền Nam và báo Le Monde với các đặc phái viên Patrick de Berg và Jean Claude Pomonti là những người đả kích miền Nam kịch liệt nhất.
Tuy nhiên ảnh hưởng của Pháp không đáng kể trong việc gây nên thất trận của miền Nam.
Thủ phạm chính là Hoa Kỳ, đồng minh quan trọng nhất nhưng cũng là người bán đứng miền Nam. Hoa kỳ trong những năm đầu tuy giúp chính quyền miền Nam rất nhiều nhưng can thiệp như chủ nhân ông miền Nam cũng không ít. Cả báo chí và chính quyền Mỹ đều có trách nhiệm trong việc làm sụp đổ miền Nam..
Trong khi Mỹ nghĩ đến việc thành lập và củng cố một quân đội Việt Nam với mục đích trao cho người Việt trách nhiệm bảo vệ phần đất được coi như tiền đồn của thế giới tự do, th́ chính ngay từ 1955 Mỹ đă có ư không tin vào ông Ngô đ́nh Diệm. Các đại sứ Mỹ từ Heath, Collins, Durbrows đều muốn Mỹ hạ ông Diệm có lẽ để thay bằng những người dễ bảo hơn, hoặc họ nghĩ tại Việt Nam ngày đó cần thành lập một hệ thống dân chủ kiểu Mỹ. Các lư do c̣n tùy thuộc vào lịch sử và ra ngoài phạm vi của bài này, chúng tôi chỉ nêu lên lư do Hoa kỳ muốn áp đặt lên ông Diệm một đường lối từ hành chánh tới quân sự do Mỹ điều khiển nên quân đội nhiều khi lúc được dự trù 234 ngàn người có lúc lại rút quân số xuống và cho giải ngũ một số lớn sĩ quan và hạ sĩ quan có nhiều kinh nghiệm. Thay thế vào đó các cố vấn quân sự Hoa kỳ nắm hết quyền chỉ huy quan trọng dù chỉ là cố vấn.
Trước những việc thay đổi không ngừng của chính sách Hoa kỳ đối với Việt Nam cộng ḥa, việc đảo chánh hạ bệ ông Diệm phải xảy ra và ngoài chính quyền Mỹ, báo chí Mỹ cũng tiếp tay không ít. Vai tṛ của Phật giáo trước ngày cấm treo cờ Phật giáo tại Huế không quan trọng và Phật giáo ít ai chú ư đến nhưng Phật giáo chỉ bắt đầu cuộc đấu tranh sau khi đột nhiên có lệnh cấm treo cờ Phật giáo ở Huế nhân lễ Phật đản 1963 rồi từ đó như vết dầu loang phong trào Phật giáo chống chính quyến nổi lên mạnh đến độ chỉ trong ṿng từ tháng năm 1963 tới tháng 11 1963 đảo chánh xảy ra. Chín năm từ 1954 tới 1963 Bắc Việt và đàn em MTGPMN không lật đổ được chế độ Ngô đ́nh Diệm, vậy phép màu nào giúp Phật giáo hạ được chế độ Đệ nhất cộng ḥa? Chắc phải có bàn tay của báo giới Hoa kỳ.
Trước năm 1963 số phóng viên Hoa kỳ ở Việt Nam không bao nhiêu. Trong thập niên 50 tới 60 chỉ có chừng mươi phóng viên báo chí Mỹ, ngay cả tới năm 1963 khi chiến tranh lan rộng hơn và Phật giáo bắt đầu chống đối chính quyền , số đại diện truyền thông Mỹ cũng chưa có ǵ quan trọng. Hàng ngày họ tụ tập tại nhà hàng Brodard trao đổi tin tức, trưa đi ăn cơm tại các tiệm đường Tự do , rồi dùng taxi đi thăm vài nơi vừa xảy ra chiến cuộc, nói vài câu chuyện với các cấp chỉ huy Việt, Mỹ rồi về viết tin, tối đi ăn tại Caravelle, công việc nhàn hạ. Trong số chừng 20 phóng viên này có những phóng viên đứng đắn viết đă lâu như Homer Bigart của tờ New York Times, Robert Saplen của tờ New Yorker, Marguerite Higgins của New York Herald Tribune và Keyes Beech của tờ Chicago Daily News và nhất là Peter Arnett ban đầu là nhiếp ảnh gia sau trở thành phóng viên cho hệ thống Associted Press ( AP ). Anh ở Việt Nam lâu năm nhất từ 1962 tới khi Bắc Việt chiếm miền Nam năm 1975.
Nhưng từ sau 1963 số phóng viên đủ quốc tịch đổ vào Việt Nam càng ngày càng đông và lên tới 2000. Từ ngày đó tin tức và h́nh ảnh chiến tranh Việt nam hàng ngày xuất hiện tại báo chí và truyền h́nh Mỹ cũng như tại các nước khác. Trong số các phóng viên trẻ muốn mau nổi tiếng phải kể Malcolm Browne, David Halberstam của New York Times , Neil Sheehan của UPI, Peter Braestrup phóng viên tờ Washington Post tác giả cuốn Big Story nói về trận Khe Sanh và ngay cả Walter Cronkite phụ trách chương tŕnh CBS Evenig New.
Việc xin làm phóng viên tại Việt Nam hồi đó quá dễ. Tại các cuộc chiến khác, phóng viên báo chí phải tuân theo quân kỷ, phải theo quân đội và phải mặc binh phục và các tin tức thường bị kiểm duyệt để khỏi lộ bí mật quân sự cần thiết cho chiến cuộc. Tại Việt Nam th́ không.
Phái viên của báo giới chỉ cần giấy giới thiệu của cơ quan ḿnh phục vụ là đủ để có chiếu khán vào Việt Nam hành nghề, nếu là phóng viên tự do (free lance) cần hai báo giới thiệu. Riêng hai hăng UPI và AP cấp giấy chứng nhận cho bất cứ ai muốn làm phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên.
Phần lớn phóng viên ban đầu chỉ đi thâu tin qua buổi họp báo 5 giờ chiều hàng ngày rồi nhặt các tin khác đôi khi không xác thực để viết cho báo của ḿnh, nhưng các h́nh ảnh đưa ra vô cùng quan trọng.
Peter Arnett cho biết phóng viên bắt đầu có ác cảm với nhà cầm quyền từ sau lần họp báo về trận Ấp Bắc khi báo chí nêu lên những thiệt hại và cho đây là một thất bại. Nhưng Đô đốc Felt chỉ huy quân sự Mỹ tại Thái b́nh Dương yên cầu báo chí nên có thái độ bớt tiêu cực. Từ đó nhận thấy việc không có kiểm duyệt tin tức nhưng yêu cầu báo chí nên thiên về phía chính quyền trở thành phản ứng ngược và báo chí bắt đầu t́m kiếm các tin tức thất lợi để khai thác. Từ khi nhận thấy có lực lượng ngấm ngầm chống ông Diệm, các phóng viên Malcolm Browne, Neil Sheehan, và David Halbertam như bắt trúng mối, bắt đầu đi săn những tin tức đôi khi xác thực nhưng cũng đôi khi thất thiệt để phá cả hai chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam cộng ḥa.
Được biết ư của Mỹ đang muốn ép buộc Tổng thống Diệm nhường Cam Ranh cho Mỹ và cho phép Mỹ đem thêm quân vào Nam Việt Nam, nhân dịp Phật giáo khởi sự tranh đấu, phóng viên Malcolm Browne đă t́m gặp các nhà tranh đấu Phật giáo và đă có mặt trước cơ quan an ninh để chụp h́nh vụ tự thiêu của Ḥa thượng Quảng Đức. Bức h́nh này kèm theo lời phê b́nh vô ư thức của bà Ngô đ́nh Nhu đă khiến Hoa kỳ và Phật giáo liên minh loại bỏ ông Ngô đ́nh Diệm. Sau vụ vây chùa Xá lợi ngày 21-08- 1963 bắt nhốt tăng sĩ ngoại trừ Thượng tọa Trí Quang nhờ được báo trước trốn vào ṭa Đại sứ Hoa kỳ, đài VOA chính thức tố cáo chính quyền Ngô đ́nh Diệm phản dân chủ và ngày 28-08- 1963 Hoa kỳ đă bật đèn xanh để hạ ông Diệm qua cuộc đảo chánh quân sự. Ngay ngày 02 -09- 1963 Tổng thống Kennedy đă trả lời gián tiếp trong cuộc phỏng vấn của CBS và cho Walter Cronkite biết Hoa kỳ chỉ giúp Việt Nam khi nhân dân ủng hộ chính quyền nhưng từ hai tháng nay chính quyền đă mất ḷng tin của nhân dân. Như vậy Kennedy đă gián tiếp cho biết muốn hạ Ngô đ́nh Diệm và khi Walter Cronkite nói ra trở thành một lời xác nhận..
Khi Tổng thống Diệm bị sát hại phóng viên Hoa kỳ lặng yên không đưa ra một h́nh ảnh, không một bài b́nh luận . Tính cách thiên lệch bắt đầu thấy rơ. Cả Cabot Lodge và Kennedy khi gặp báo chí đều nói việc đảo chánh là việc riêng của Việt Nam. Nhưng nay sự thực đă được phanh phui. Các tài liệu nay đă được giải mật.. Báo chí và chính quyền Hoa kỳ đă hạ ông Diệm, Phật giáo chỉ là một con bài phụ.
Sau cuộc đảo chánh Mỹ hoàn toàn nắm trọn số phận miền Nam Việt Nam. Các chính phủ thay nhau đổ và không c̣n tranh chấp giữa Phật giáo hay Công giáo, trái lại chỉ thấy tranh quyền.
Trước khi thay đổi cấp chỉ huy quân sự tại Nam Việt Nam vào tháng 06- 1964, ngày 24-04-1964 Mỹ cũng nhờ Thủ tướng Pearson của Gia nă Đại cử Ông James Blair Seabord một cựu nhân viên Ủy hội đ́nh chiến Gia nă đại thăm ḍ ư Hà Nội về một cuộc điều đ́nh hứa hẹn nếu Hà Nội rút quân về Bắc để đi t́m một nền ḥa b́nh cho miền Nam, Hoa kỳ sẽ giúp đỡ về kinh tế, nhưng Phạm văn Đồng cho biết " chưa có ánh sáng cuối đường hầm " và nhất quyết giải phóng miền Nam bằng mọi cách , khởi đầu bằng cho GPMN gia nhập chính phủ.Thấy đề nghị ḥa giải không xong, nhân biến cố tại Vịnh Bắc Việt tháng 07- năm 1964 , Mỹ thả bom Bắc Việt và cuộc chiến bắt đầu ngày 04 - tháng 08, nhưng không tuyên chiến. Tại miền Nam trong khi đó t́nh h́nh quân sự cũng bất ổn, quân Mỹ tư ợ 08-03- 1965 đổ vào Việt Nam can thiệp ngày càng đông, và áp dụng chiến thuật "Lùng và diệt".
Cũng không thành công v́ lùng và diệt hữu hiệu sao được khi chưa lùng, địch đă trốn qua Cao Miên và Ai lao, và Mỹ không bao giờ chủ trương diệt tận gốc kẻ gây chiến. Không được phép đánh ra Bắc cũng không được đuổi địch qua Miên qua Lào. Cả năm trăm ngàn quân trú pḥng với nhiệm kỳ 1 năm cho mỗi quân nhân và một trận chiến không muốn thắng khiến chỉ có quân và dân Việt thiệt hại. Báo chí và Bắc Việt biết vậy nên càng khai thác những sai lầm tại miền Nam rồi làm ung thối t́nh h́nh quân sự và chính trị qua khủng bố và đột kích.
Trong khi đó quân Bắc Việt vẫn ngày đêm qua đường ṃn Hồ chí Minh( mệnh danh chiến dịch 559 thành lập từ năm 1959 trước khi có tổ chức chính trị MTGPMN,) đổ quân vào phía cao nguyên miền Nam, và chiến dịch 759 dùng đường thủy nhờ Hải cảng Shihanouk ville tiếp tế cho Trung ương cục miền Nam để chờ trận đánh Mậu thân 1968. Không một nhà báo Mỹ nào loan các tin này, mà chỉ làm những bài tường thuật giật gân về các trận Starlite, Pleime, Iadrang Cedar Fall, Junction City, Bến Súc, Củ chi. Trong khi Wilfred Burchett ca ngợi đường ṃn Hồ chí Minh và địa đạo Củ Chi, các chuyên viên Mỹ coi thường đường xâm nhập này và nghĩ rằng chỉ mưa bom là đủ.
Trong khi đó t́nh h́nh chính trị vẫn bất ổn, Mỹ lại luôn luôn mong muốn một cuộc bàu cử và sau cùng cũng có bầu cử , ngay sau ngày bàu cử thành lập đệ nhị cộng ḥa, miền Bắc chuẩn bị cuộc chiến mới: Tết Mậu thân. Các tài liệu bắt được cho biết đầu năm 1968 Bắc Việt quyết ăn thua. Một mặt địch gây áp lực cầm chân Mỹ tại Khe Sanh để báo chí và chính quyền Mỹ chú ư, mặt khác Mặt trận giải phóng và quân đội xâm nhập từ Bắc tung ra trận Tết Mậu thân bất chấp hưu chiến.
Sự thiên lệch của báo chí Mỹ lại xuất hiện.
Trong trận chiến Tết Mậu Thân, thảm bại của Việt cộng không ai nhắc đến, chẳng có cuộc Tổng Nổi Dậy, trong khi đó nhiếp ảnh gia Eddie Adam của AP và phóng viên Vơ Sửu của đài NBC ghi được h́nh ảnh tướng Loan xử bắn đặc công Việt cộng ngay khi tên này bị bắt, đă khiến dư luận Mỹ sôi nổi và cho rằng quân quốc gia hiếu sát. Những cảnh V.C pháo kích bừa băi vào trường học vào nhà thờ, cảnh bắn B 40 thông nhà này qua nhà khác để lẩn trốn trong nhà dân không hề được tŕnh chiếu.
Trong khi đó mặc dầu ghi nhận một cuộc thảm sát kinh tởm nhằm thường dân đă xảy ra tại Huế, mặc dầu phóng viên Don Oberdorfer của tờ Washington Post sau ba lần ra điều tra tại Huế đă công nhận cả ngàn dân lành và những công chức hay nhân viên của chính quyền quốc gia đă bị V.C. có sẵn tên trong sổ đen, đến từng nhà bắt đi, tay trói chặt sau lưng và bị thủ tiêu. Ngay từ tháng 09 năm trước các phần tử nằm vùng đă lập danh sách những người bị thủ tiêu và Don Oberdorfer cho biết chính sách chung của V.C. hay Giải phóng miền Nam ở đâu cũng vậy và số người bị thảm sát này chắc chắn do V.C thủ tiêu. Douglas Pike một nhà nghiên cứu về các vấn đề Việt Nam cho biết con số này lên tới 5700. Năm 1968 khi tranh cử ứng cử viên Nixon cũng nhắc tới vụ thảm sát này, nhưng sau đó báo chí, và chính quyền Mỹ đều không nhắc tới vụ này. Họ tin vào lời của Gary Porter một sử học gia thiên tả của Hoa kỳ mà cho rằng thảm sát do chính quyền quốc gia ngụy tạo và coi những hầm xác đầy người bị bắn vào đầu với hai tay trói chặt là do phe quốc gia đạo diễn. ( Vụ thảm sát này ngày nay đă được bạch hóa nhờ việc giải mật các tin tức sau 20 năm và được kể lại trong bài Forgotten massacre at Hue của James O. Clifford sr, xin đọc bài này trong các trang khác ).
Cùng một lúc cuộc bao vây Khe Sanh được tường Westmoreland và cả Tổng thống Johnson coi như tương tự như Điện biên phủ, mở màn. Cuộc chiến tuy khốc liệt và quân trú pḥng cũng như các phi cơ gập thiệt hại nhiều, nhưng với Hỏa lực vô cùng mạnh mẽ, và địa thế khác hẳn Điện biên phủ, Khe Sanh không thất thủ. Địch thiệt hại nặng và rút lui về Bắc.
Qua nhận xét của các chuyên viên quân sự đây chỉ là"diện" để dư luận Hoa kỳ chú y và quên đi "Ô điểm" chính là cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân dù bị thất bại quân sự nhưng khiến người Mỹ chán chiến tranh và mở con đường vào các cuộc thương thuyết nhất là vào năm bàu cử Tổng thống Hoa kỳ. Walter Cronkite lại xuất hiện và sau khi đi thăm Huế kết luận: Cuộc chiến lâm vào ngơ bí và chỉ có điều đ́nh mới giải quyết được vấn đề V.N.
Các h́nh ảnh khủng khiếp của chiến trận tại Huế và tại Khe Sanh hàng ngày xuất hiện trên màn ảnh truyền h́nh rồi bài của Peter Braestrup Big Story kề lại chuyện chiến đấu cam go ở đây đă khiến người Mỹ chán chiến tranh và tăng tư tưởng phản chiến. Trong tháng 03 1968 Tổng thống Johnson tuyên bố tạm ngưng giội bom và không ra tái ứng cử. Việc rút khỏi Việt Nam chỉ c̣n là thời gian.
Đột nhiên tới 1969, Seymour Hersh mới đem ra ánh sáng câu chuyện Trung Úy Calley và trung đội do ông chỉ huy đă phạm tội giết hại 500 thường dân tại Sơn Mỹ c̣n được gọi là Mỹ lai 4. từ một năm trước . Dư luận Mỹ lại xôn xao. Một ủy ban điều tra được thành lập. Câu chuyện Mỹ lai tung ra đúng lúc quân Mỹ đang sửa soạn rút lui càng khiến người Mỹ mong mỏi quân nhân của họ tránh những tai tiếng xấu xa. Vụ Mỹ Lai được Bắc Việt và Quốc tế khai thác làm quên hẳn vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế.
Và cái ǵ phải đến đă đến, cuộc hành quân qua Ai lao Lam Sơn 719 dự tính vào ngày 08 tháng 02 năm 1971 để chặn đường ṃn HCM cũng bị báo chí Mỹ tiết lộ sáu ngày trước và Bắc quân đă xua quân chờ sẵn và tuy không thảm bại nhưng quân VNCH cũng tổn thất nhiều. Địch đă đánh giá được khả năng tác chiến cấp quân đoàn của tướng HXL để sau đó mở các cuộc tấn công mùa xuân 1972 tại Quảng Trị. Kontum và Lộc Ninh. Nhưng thảm bại. Tướng Ngô QT, LêVH, Lư TB đă khiến quân Bắc Việt ngậm hờn. Mười hai sư đoàn Bắc Việt lâm trận tan hàng. Báo chí không đưa ra một lời ca tụng mà chỉ nhắc tới tin Ḥa đàm Ba Lê đang tiếp diễn và nói Cao nguyên và An lộc chưa thất thủ nhưng t́nh thế ngặt nghèo.
Jean Claude Pomonti và Francois Nivolon của tờ Le Monde không ngớt công kích và loan tin thất lợi cho Saigon.
Nhưng sau cùng cũng phải công nhận tin chiếm lại Quảng trị của Thủy quân lục chiến VNCH ngày 09 tháng 9 năm 1972.
Sau cùng, với mưu mô của Kissinger và Lê đức Thọ, ḥa đàm Ba lê được kư ngày 27-01- 1973 và với việc từ chức của Nixon, Việt Nam Cộng Ḥa bị bỏ rơi và đi tới tan ră.
Không báo nào khóc cho cả triệu người tị nạn và không ai dám viết bài đả động ǵ tới hàng trăm ngàn người đi cải tạo, truyền thông quốc tế từ sau 1975 đă không c̣n chú trọng tới Việt Nam.
Sử đă sang trang, nhưng nh́n lại quá khứ chúng ta được học bài học: Truyền thông chẳng bao giờ đi với kẻ yếu. Việt Nam Cộng ḥa có mất cũng do chính ḿnh và chính đồng minh. Truyền thông cũng có tội v́ đổ thêm dầu vào lửa biến đổi các tin tức tùy theo nhu cầu của chủ nhân ông của họ. Nhưng nay vơi hệ thống Internet chúng ta có thể luôn luôn chuyển lửa dân chủ và nhân quyền về Việt Nam và người dân trong nước có thể trong những ngày tháng tới vùng lên tranh đấu dành lại Tự do. Và khi đó truyền thông mới lấy lại uy tín của đệ tứ quyền. .