Người kế tiếp Tản Đà, trong ḍng thơ khởi hứng từ cái sống và cái chết là Hàn Mặc Tử.
Tiêu biểu cho ḍng thơ này của Hàn Mặc Tử là bài sau đây:
Hồn Là Ai
Hồn là aỉ? Là ai? Tôi chẳng biết,
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi.
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười,
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng ...
Tôi chết giả và no nê vô hạn,
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng.
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng,
Hồn đă cấu đă cào, nhai ngấu nghiến!
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng,
Tôi đau v́ rùng rợn đến vô biên.
Tôi d́m hồn xuống một vũng trăng êm,
Cho trăng ngập trăng dồn lên đến ngực.
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức,
Rồi bay lên cho đến tận một hành tinh,
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn h́nh,
Để gào thét một hơi cho rởn óc,
Cả thiên đường, trần gian và địa ngục.
Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay,
Dẫn hồn đi ṛng ră một đêm nay,
Hồn mệt lả và tôi th́ chết giấc.
Hàn Mặc Tử (1913-1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng B́nh, sinh
ở Huế, học trường thầy ḍng Pellerin. Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột ông, th́ vào khoảng năm 1937 ông lộ bệnh phong, gia đ́nh chạy chữa thuốc Nam cho ông. Sau cùng, ông vào ở trong trại phong Qui Nhơn được khoảng ba tháng th́ mất.
Theo Dương Quảng Hàm:
V́ lúc nào cũng bị tử thần ám ảnh, nên ông thường nói đến sự chết, sự vĩnh biệt, cơi hư vô.
Cái ư nghĩ về sự chết chiếm cả tâm hồn ông, nhiều khi khiến ông như điên như dại, nhưng cũng khiến ông nâng thần trí lên chỗ cao xa, sáng láng, [...] và ca tụng cầu nguyện đức Chúa Trời [...]
Nhưng chính v́ cái tâm cảnh u sầu ấy mà trong ít bài (thứ nhất là những bài nói về những điều thần bí, mầu nhiệm, trong tập Thượng Thanh Khí) ư tứ không được rơ ràng, lời thơ có vẻ tối tăm.
Điểm đáng lưu ư là Hàn Mặc Tử là một nhà thơ mới, trong nhiều bài, không những đă vượt qua luật thơ cổ, mà tác giả c̣n đưa vào trong thơ những h́nh ảnh những đề tài đương thời đang thịnh hành trong thơ văn Pháp. Đi sâu vào câu truyện này là việc của những nhà nghiên cứu văn học đối chiếu. Cảo luận này chỉ đề ra vài thí dụ đơn giản.
Đọc thơ Hàn Mặc Tử người đọc đều nhận ra là tác giả thường dùng h́nh ảnh của máu. Đó cũng là một h́nh ảnh mới mà Hàn Mặc Tử đă đưa vào thơ. Trong bài Lưu Luyến, chỉ trong năm câu, Hàn Mặc Tử hai lần dùng đến h́nh ảnh của máu:
Thơ em cũng giống ḷng em vậy
...................................................
Anh đă ngâm và đă thuộc lầu
Bởi v́ mê mẩn v́ khoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu trào
Lời thơ ngậm cứng không rền rĩ
Mà máu tim anh vọt láng lai.
Trong 12 câu bài Rướm Máu dài, ba lần tác giả dùng h́nh ảnh máu:
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trên niềm đau trên mảnh giấy mong manh.
..........................................................
Và muôn năm rướm máu trong không gian.
Trong hai câu kết bài Say Trăng:
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.
Rồi trong đoạn bốn câu thứ hai bài Người Ngọc:
Cho ta hết cả hương và sắc
Của những bông hoa thắm lạ kỳ.
Ta sẽ hộc ra từng búng huyết
Nhuộm đầy phong vị lúc mê ly.
Bài Bức Thư Xanh cũng có ba h́nh ảnh của máu:
Là đàn phách của muôn giây đồng vọng
Vườn chiêm bao mê luyến cả thần kinh.
Nào cuồng lên cho đến máu trong ḿnh
Xao xuyến măi, chẩy tràn ra những ư ....
Đây là ngọc, đầy hương hoa kỳ dị
Ứ bao lời t́nh tứ của đôi ta ...
Không, không đâu, máu với lệ chan ḥa
Thành ra nghiă biệt ly từ kiếp trước.
.........................................................
Ta đă nuốt và h́nh như đă cắn
Cả lời thơ cho văi máu nàng ra.
Những h́nh ảnh máu trích dẫn trên đều là
h́nh ảnh những ḍng máu tươi, c̣n nóng hổi. Ngoài ra Hàn Mặc Tử c̣n dùng h́nh ảnh máu khô đọng để kết hợp với cảnh lúc ngày vào đêm.
Bài Những Giọt Lệ có câu:
Bao giờ mặt nhật tan thành máu,
Bài Trường Tương Tư có câu:
Cả niềm yêu, ư nhớ, cả một vùng,
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn.
Mở đầu bài Trút Linh Hồn, Hàn Mặc tử viết:
Máu đă khô rồi thơ cũng khô
Trong cuốn Poésie et Profondeur, Jean Pierre Richard nghiên cứu về h́nh ảnh máu trong thơ Baudelaire. Theo ông, máu là mặt trời trong mỗi con người. Máu là nguồn thân nhiệt, là niềm sung măn, máu chẩy liên tục trong huyết quản nuôi dưỡng cơ thể bên trong. Máu làm rạng rỡ làm nồng ấm làn da bên ngoài.
Bầu máu nóng là nguồn gốc của sự sống, là biểu hiệu của sự tăng trưởng.
Máu đọng là h́nh ảnh của mặt trời lặn cuối chân trời. Đó là những h́nh ảnh thường thấy trong thơ Baudelaire; và cũng là mầu mặt trời đang lặn miệt đoài như trích dẫn từ những bài Những Giọt Lệ và Trường Tương Tư của Hàn Mặc Tử.
Máu khô cũng không hơn ǵ máu đọng. Cả hai cùng là h́nh ảnh của tê liệt của ngưng đọng trong thơ Baudelaire, và cũng là h́nh ảnh của cái chết trong bài Trút Linh Hồn của Hàn Mặc Tử, như trích dẫn trong đoạn trên.
Ḍng máu tươi chẩy xối xả là h́nh ảnh khốc liệt của cái sống chuyển sang cái chết trong thơ Baudelaire. Đó là h́nh ảnh khốc liệt của nguồn sống đang dần cạn. Đó là h́nh ảnh của ánh sáng mặt trời đang dần tắt trong mầu máu đọng. Máu nhỉ là cái sống đang dần tắt như Baudelaire viết trong bài La
Fontainre de Sang:
Il me semble parfois que mon sang coule enflots,
Ainsi qu’une fontaine aux rythmiques sanglots.
Je l’entends bien qui coule avec un long murmure,
Mais je me tate en vain pour trouver la blessure.
Trong thơ Hàn Mặc Tử, máu tươi thường
vọt thăng từ tim, như viết trong bài Lưu Luyến hay trào ra miệng người thơ, trong những bài khác.
Baudelaire dùng h́nh ảnh hai ḍng máu rỉ làm biểu hiệu cho sư giao cảm giữa hai tâm hồn, ông viết trong bài Les Phares:
... où la vie afflue et s’agite sans cesse
Comme l’air dans le ciel et la mer dans la mer
Trong bài Bức Thư Xanh, Hàn Mặc Tử đă nuốt đă cắn vào lời thơ đến văi máu của người yêu để :
Cho Hồn Nàng dính chặt với Hồn Ta
T́nh đôi ta muôn kiếp gỡ không ra.
Jean Pierre Richard kết luận: giấc mơ xuất huyết của Baudelaire là nỗi ám ảnh của tác giả đứng trước một nguồn sống đang dần cạn hay một kiếp sống đang dần tắt. Phải chăng h́nh ảnh máu trong thơ Hàn Mặc Tử cũng có cùng một ư nghĩa? Phải chăng v́ vậy mà Dương Quảng Hàm đă nh́n thấy cái ư nghĩ về sự chết qua thơ của Hàn Mặc Tử?
Nếu qua h́nh ảnh máu, Hàn Mặc Tử đă đưa những thi liệu tây phương vào thơ Việt Nam, th́ qua Bài Hồn Là Ai, Hàn Mặc Tử đă góp mặt thơ Việt Nam vào văn học quốc tế về h́nh trong ḍng văn thơ nhị trùng, le double.
Otto Rank trong tác phẩm Le Double để tŕnh bày về ḍng văn học nhị trùng, trong dủ các bộ môn thi văn, nhạc kịch, để làm căn bản cho công tŕnh nghiên cứu về đề tài phân thân nhị trùng trong tâm lư và tín ngưỡng. Theo Otto Rank, đề tài phân thân nhị trùng là một đề tài rất phổ thông trong phong trào văn nghệ lăng mạn. Tại Đức có những tác giả tên tuổi như Ernest Hoffmann (1776-1822), với bộ Contes Fantastiques, La Princess Brambilla, Le Coeur de Pierre v.v... Sau dó Jean Paul tên thật là Johann Paul Federich Richter (1763-1825) khai thác vấn đề nhị trùng trong phạm vi tâm lư, đề ra sự tranh chấp bi đát giữa một người và nhị trùng của người đó, sự tranh chấp này thường dẫn tới cái chết của người thác loạn.Tại Anh có Charles Dicken (1812-1870) viết tập The Hunted Man, và Osbert Sitwell với truyện The Man Who Lost Himself. Tại Mỹ có Edgar Allan Poe (1809-1849) viết tập William Wilson. Tại Nga có Fedor Mikhailovitch Dostoievski (1821-1881) viết cuốn Le Double khi mới 25 tuổi.
Tại Pháp, có Guy de Maupassant (1850-1893) với các tác phẩm Le Horla, và Lui. Hiện nay có Julien Green viết cuốn Le Voyageur Sur La Terre.
Truyện nhị trùng lan tràn tới bộ môn kịch nhạc, tương đối chậm hơn. Ngày nay người ta thường nhắc tới Richard Strauss (1864-1949), người Đức
với vở La Femme sans Ombre; rồi Manuel de Falla (1876-1946)
với vở LAmour Sorcier, và Igor Fedorovitch Stravinski (1882-1971)
người Nga, nổi tiếng từ năức với vở La Femme sans
Tổng hợp những tác phẩm viết về nhị trùng, Otto Rank thấy là sau những khác biệt về chi tiết, những tác phẩm này có cùng một cấu trúc. Nhị trùng có h́nh dáng giống hệt vai chính trong truyện, nhiều khi có cùng tên, cùng giọng nói, cùng y phục, tựa như vai chính nh́n bóng ḿnh trong gương. Nhị trùng cản trở mọi hoạt động của vai chính, thường thường v́ một vai nữ mà cuộc tranh chấp giữa nhị trùng và vai chính bùng nổ. Sau hết câu truyện thường kết thúc bằng một vụ tự tử của vai chính để giết người trong mộng.
Clement Rosset, trong cuốn Le Réel Et Son Double dùng một truyện cổ tích trích trong Contes Indiens của Stéphane Mallarmée (1842-1898) làm tiêu biểu cho những truyện viết về vấn đề nhị trùng. Truyện tóm tắt như
sau:
Có một vị vua đă luống tuổi, luyến tiếc thời trai trẻ mau tàn, thấy là ḿnh không c̣n tươi trẻ như h́nh ảnh một chàng trai trong bức ảnh mà hoàng hậu đă có lần đưa cho nhà vua xem. Cải lăo hoàn đồng theo lời các pháp sư quanh nhà vua là một điều có thể thực hiện nổi. Nhà vua có thể nhờ thần pháp biến thành chàng trai trong bức chân dung linh thiêng đó nếu nhà vua dốc tâm tin tưởng. Đàn chay linh đ́nh, dưới sự điều động của những pháp sư do hoàng hậu lựa chọn. Đến phút quyết liệt chàng trai trong bức chân dung hiện ra bằng xương bằng thịt, và trong bóng đêm chớp loáng một nhát mă tấu chém rụi nhà vua, xác nhà vua tức tốc biến mất. Sự biến h́nh kết thúc mỹ măn: chàng trai biến thành nhà vua dưới h́nh thể nhà vua
mong ước.
Truyện trên đây có cùng cấu trúc với truyện Dọc Đ̣n Gánh Củ B́nh Vôi, của người Việt Nam, dưới đây:
Ngày xưa, ở một làng xa nọ, có một gia đ́nh nhà nông một cha một con rất nghèo. Người cha già chết gặp kỳ nước lụt, không tiền lo liệu ma chay, người con đành lấy cái chiếu độc nhất trong nhà, bó xác cha rồi lội nước vác ra t́m chỗ đất cao chôn cất. Đến một khúc nước xoáy, anh ta trượt ngă, nước lũ cuốn xác cha anh đi mất. Trong ḷng lo buồn anh quay về nhà. Đến khuya, anh mơ thấy một con rồng hiện ra van xin anh hăy đưa xác cha chôn nơi khác, v́ hiện xác vướng trong hàm rồng khiến rồng đau đớn vô cùng. Anh hỏi xác cha ở đâu, th́ con rồng cho hay là hiện kẹt ở khe đá chỗ cửa sông. Nơi đó chính là hàm rồng.
Hôm sau y lời rồng dặn, anh ra cửa sông t́m thấy xác cha, bèn đưa về g̣ cao chôn cất. Đêm đó, rồng lại hiện ra tặng anh một lọ thuốc qúy và không hết lời cảm tạ anh. Anh ta cất kỹ lọ thuốc, không cho một ai hay. Mấy năm sau, anh lấy vợ. Bỗng một hôm anh đi làm vắng, người vợ dọn dẹp t́m thấy lọ thuốc, ṭ ṃ mở ra coi, nào ngờ nước trong lọ sóng ra tay, khiến bàn tay trở thành đẹp đẽ vô cùng. Chị ta liền lấy thuốc soa lên mặt, cùng khắp ḿnh, và chị bỗng trở nên kiều diễm lạ thường.
Người chồng về đến nhà trông thấy vợ lấy làm ngạc nhiên, hỏi ra th́ người vợ kể lại sự t́nh. Người chồng lấy lọ thuốc ra xem th́ thấy thuốc không c̣n một giọt. Anh không tiếc lọ thuốc qúy và đâm ra yêu thương vợ hơn trước.
Câu truyện đồn đại tới tai vua. Nhà vua cho triệu người vợ vào cung, nhưng vừa trông thấy nàng nhà vua mê mệt giữ lại trong cung. Hai vợ chồng anh nhà nông đang đằm thắm t́nh nghĩa, bỗng đành phải chia ĺa. It ngày sau, anh ra sau hè, chỗ người vợ lau mặt mày ḿnh mẩy bằng thuốc qúy, th́ thấy mấy luống hành trông cạnh đó nay bỗng to lớn khác thường. Anh bèn nhổ hành gánh lên kinh đô, vừa đi vừa rao:
Dọc bằng đ̣n gánh
Củ bằng b́nh vôi
Ai mua hành tôi
Th́ thương tôi với.
Người vợ sống u buồn trong cung, nghe tiếng chồng rao chợt bật lên tiếng cười. Nhà vua từ ngày giữ người đẹp ở lại trong cung, đă t́m đủ mọi cách dỗ dành để làm nàng vui, nhưng nàng chỉ một mực khóc lóc. Nay thấy chỉ nghe lời rao ngộ nghĩnh mà nàng bật cười, nhà vua liền sai gọi người bán hành vào cung, bí mật trao đổi quần áo, chỉ mong tự ḿnh làm cho người đẹp cười.
Khi nhà vua gánh hành ra ngoài thành, cất tiếng bắt chước rao, th́ ông vua giả đang mặc áo long bào, mang hốt ngọc, bèn ra lệnh bắt người bán hành đem chém. Ông vua thật nói sao cũng chẳng ai tin, c̣n bị coi là điên rồ. Anh nhà nông nghiễm nhiên trở thành vua, đoàn tụ cùng người vợ đẹp thủy chung.
Trong cả hai truyện, sự việc xẩy ra đúng như ư muốn của vai chính: cái TÔI trở thành KẺ KHÁC. Trong truyện Ấn Độ, ông vua mới có đủ mọi đức tính mà triều đ́nh mọng đợi sự biến h́nh tạo nên: trẻ, đẹp v.v....
Trong truyện Dọc bằng Ḍn Gánh Củ bằng B́nh Vôi, ông vua muốn làm người đẹp cười, th́ nay người đẹp có một ông vua làm nàng cười ở liền bên cạnh.
Cuộc chuyển biến nối vai chính với nhị trùng hoàn tất trọn vẹn; duy chỉ có khách vận hành giữa đường bỏ mạng.
Trong địa hạt thơ Pháp có Alfred de Musset
(1810-1857) mô tả nhị trùng của ông giống hệt ông như hai anh em, h́nh ảnh đó là mệnh xấu của ông, đồng thời là thiên thần che chở ông, hay chính là h́nh ảnh của ông. Ông viết:
Mais tout à coup j’ai vu dans la nuit sombre
Une forme glisser sans bruit.
Sur mon rideau, j’ai vu passer une ombre;
Elle vient s’assoir sur mon lit.
Qui donc es-tu morne et pâle visage?
Que me veux-tu, triste oiseau de passage?
Est-ce un vain rêve, est ce ma propre image
Que j’appercois dans ce miroir?
dịch là
Hốt nhiên trong bóng tối đêm trường
Bỗng chợt thấy H́nh không tiếng động
Lướt trên màn, ngồi xuống bên giường.
H́nh là ai xanh mét u buồn?
Mặc toàn đen, rầu rĩ sầu vương.
H́nh muốn ǵ, cánh chim nhỏ bé.
Hay ta mê hay H́nh chính là ta?
Tỏ nḥa ẩn hiện chập chờn trong gương.
Đồng thời với Alfred Musset có Gérald de Nerval, tên thật là Gérald Labrunie (1808-1855) cũng đeo nặng chứng phân thân nhị trùng đến không c̣n khả năng nhận biết lúc nào thật là Nerval lúc nào là bóng Nerval. Có lần người ta đưa cho Nerval xem một tấm chân dung của ông. Ông nhận ra người trong ảnh giống ḿnh, nhưng dường coi bức ảnh đó như một tấm di ảnh. Ông ghi bên lề bức ảnh ba chữ: Je suis l’autre.
Để hiểu ba chữ này, Jean Pierre Richard đối chiếu ba chữ này với bốn chữ JE est un autre của thi sĩ Arthur Rimbaud (1854-1981). Theo Jean Pierre Richard, bốn chữ của Rimbaud biểu lộ khuynh hướng tự do của nhà thơ trong ḍng thơ khách quan hướng về tương lai, poésie objective du devenir. Ngược lại ba chữ của Nerval như trói buộc ông với nhị trùng của ông. Theo Jean Richer, một người chuyên nghiên cứu về Nerval, nêu ra giả thuyết là Nerval sau đó tự vẫn là để tự giải thoát cho ḿnh khỏi bức bách của nhị trùng.
Đối chiếu nét nhị trùng trong thơ Nerval và
Rimbaud với bài Hồn Là Ai của Hàn Mặc Tử giúp người đọc hiểu thêm đôi chút về ư thơ không được rơ ràng và lời thơ có vẻ tối tăm của Hàn Mặc Tử .
Với mục đích đó, trước hết người đọc thơ dường như thấy có nhiều nét tương đồng giữa tiểu sử của một vài nhà văn nhà thơ viết về nhị trùng và tiểu sử của Hàn Mặc Tử.
Hoffmann mồ côi cha sớm, sống với mẹ, bị bệnh thần kinh khá nặng, thường nh́n thấy nhị trùng của ḿnh hay nhiều bóng ma khác, mà ông tả tỉ mỉ trong nhiều tác phẩm quái dị. Ông mất năm 47 tuổi về bệnh thần kinh. Tương tự như Hoffmann, Jean Paul cũng sống trong lo sợ mắc bệnh điên, suốt đời luôn luôn bị nhị trùng ám ảnh. Edgar Poe, mồ côi cha mẹ từ năm 2 tuổi. và phải sống nhờ bà con. Mới chừng mười tuổi đă mắc chứng nghiền rượu, sau đó nghiện nha phiến. Năm 27 tuổi ông lấy một cô em họ mới vừa mười bốn tuổi. Chỉ vài năm sau th́ vợ ông chết v́ bệnh lao. Từ đó ông mắc bệnh tâm trí, và mất năm 47 tuổi. Đời sống của Maupassant cũng bi đát không kém, mồ coi cha rất sớm, sống với mẹ mắc bệnh thần kinh. Vào đời ông không mắc ṿng nghiện ngập như Poe, nhưng ông đam mê sắc dục đến độ mới 28 tuổi đă kiệt quệ, luôn luôn bị những h́nh bóng không tưởng ám ảnh và cũng phải dùng ma túy, ông chết năm 43 tuổi về bệnh tê liệt.
Đến nay chưa ai biết rơ ràng về tiểu sử Hàn
Mặc Tử. Chỉ biết là Hàn Mặc Tử mồ côi cha rất sớm, khi mới 14 tuổi đang học trường tiểu học Sa Kỳ, Quảng Ngăi. Ông được mẹ nuôi cho tiếp tục học trường trung học Pellerin tại Huế. Nhưng ông bỏ Huế về Qui Nhơn chừng bốn năm sau. Sau đó ông vào làm việc cho sở Đạc Điền tại Qui Nhơn. Thớ gian này, theo nhiều người viết về Hàn Mặc Tử là thời gian ông mượn sách về đọc thơ của các thi sĩ thời danh của Pháp, như Baudelaire, Rimbaud, Verlaine v.v... Văn nghiệp của ông bắt đầu bằng những bài thơ luật xướng họa cùng cụ Phan Bội Châu. Có một thời gian ông vào Saigon làm báo Công Luận. Chỉ một năm sau ông lại quay về Qui Nhơn sống với gia đ́nh. Tập Thơ Gái Quê là tập thơ đầu tiên ông cho xuất bản, năm 1936, khi ông mới 24 tuổi. Năm đó cũng là năm bạo bệnh của ông bắt đầu lộ ra ngoài. Gia đ́nh lo chạy chữ thuốc Nam, nhưng vô hiệu. Tháng 9 năm 1940 ông phải vào sống trong trại phong Qui Ḥa. Hai tháng sau ông mất trong trại khi mới 28 tuổi. Suốt đời Hàn Mặc Tử không mắc vào ṿng nghiện ngập rượu hoặc ma túy. Ông cũng không mắc vào ṿng sắc dục. Ông có một vài cuộc t́nh duyên không thành, nhưng cũng không có cuộc t́nh nào kết thúc bi đát.
Gia cảnh của Hàn Mặc Tử , trong cảnh mồ côi cha, với một thời niên thiếu sớm nổi danh, rồi sa vào cảnh bệnh hoạn vô phương cứu chữa, so với tiểu sử các tác giả viết về nhị trùng tóm tắt trên đây quả có nhiều điểm tương đồng: thẩy đều như lời Dương Quảng
Hàm:
bị cái ư nghĩ về sự chết chiếm cả tâm hồn, nhiều khi khiến ông như điên như dại, nhưng cũng khiến ông nâng thần trí lên chỗ cao xa sáng láng.
Tuy nhiên, Hàn Mặc Tử c̣n có nhiều điểm
khác biệt các tác giả kể trên. Điểm khác biệt rơ nhất là Hàn Mặc Tử qua đời không v́ bệnh điên hay v́ tự tử, mà v́ một thứ bệnh không thuốc chữa sau hai ba năm trị liệu.
Người đọc thơ, qua bài Hồn Là Ai, chẳng ai
không cảm thấy là Hàn Mặc Tử phân thân tự ngă gây ra ảo tưởng nhị trùng, chẳng khác ǵ những nhà văn nhà thơ tên tuổi trong ḍng văn thơ viết về vọng tưởng nhị trùng. Nhưng Hàn Mặc Tử có nhiều nét khác với những nhà văn nhà thơ nói trên.
Trong ḍng văn thơ viết về vọng tưởng nhị trùng, h́nh ảnh nhị trùng thường thường tượng trưng bằng một cái bóng của vai chính, hoặc một h́nh ảnh có diện mạo giống hệt vai chính. Otto Rank, nghiên cứu qua ngôn ngữ nhiều sắc tộc để nhận diện ra cái bóng tượng trưng cho linh hồn kẻ mang chứng phân tâm. Trong bài Hồn Là Ai, Hàn Mặc Tử dường như tṛ truyện với Hồn. Hơn nữa h́nh như Hàn Mặc Tử c̣n rỡn đùa cùng Hồn.
Trong cuộc rỡn đùa đó có lúc Hồn như muốn chiếm đoạt thể xác người thơ:
Hồn đă cấu đă cào nhai ngấu nghiến
đáp lại người thơ thấy:
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau v́ rùng rợn đến vô biên
Qua ba câu thơ trên, người đọc thơ không khỏi nhớ tới lời b́nh của Georges Blin về chứng bạo dâm của Baudelaire, trong cuốn La Sadisme de Baudelaire, và nhận ra ba câu trên như biểu lộ cố gắng để đạt tới niềm thông cảm sâu đậm giữa Hồn người thơ và người thơ. Đó cũng là những h́nh ảnh Hàn Mặc Tử đă dùng trong bài Bức Thư Xanh, trích dẫn trong đoạn trên.
Ngược lại người thơ dỡn đùa cùng với Hồn:
Tôi d́m hồn xuống một vũng trăng êm,
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên và thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cảnh dỡn đùa giữa Hàn Mặc Tử và Hồn này dường gợi lại cảnh Hàn Mặc Tử dỡn đùa cùng chị trong bài Chơi Giữa Mùa Trăng:
Hai chị em dồng dang tay níu áo gượng vào nhau dấn bước lên cao. Thỉnh thoảng mỏi hai đầu gối quá, cả chị liền em đồng ngă lăn ra. Lại một dịp cho tiếng cười của chị tôi nở ra gịn tan trong không khí. Lên tới đỉnh là hao ṃn đi một tí. Nhưng mà ngợp quá, sáng quá ....
Bấy giờ chúng tôi đang ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy rơ đâu là chín phương trời, mười phương Phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những mầu sắc phiêu diêu đến nỗi cả đôi đồng tử của chị tôi lờ đi v́ chói lọi ... Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như cả bầu thế giới chở chúng tôi đây cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nổi b́nh bồng đến một địa cầu nào khác.
Trong cuộc Chơi Giữa Mùa Trăng Đó, ảo
tưởng của Hàn Mặc Tử biến người chị của nhà thơ thành tượng Đức Bà Maria mà nhà thơ muốn qùy lậy mong ơn bào chữa. Ảo tưởng đó c̣n biến hai chị em nhà cùng thành trăng để:
Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái ta của tôi [...] bay thẳng lên trời t́m ánh sáng muôn năi
Đó là điểm khác biệt giữa nét phân thân nhị trùng của Hàn Mặc Tử với số đông các nghệ sĩ sáng tác theo ḍng nghệ thuật này. Nét phân thân nhị trùng của Hàn Mặc Tử không đưa người thơ tới chỗ giằng xé giữa con người với nhị trùng mà trái lại giải thoát cái
ta của nhà thơ và đưa nhà thơ về dưới
chân Đi ‘ta’ của
Nét phân thân nhị trùng của Hàn Mặc Tử dường như nằm trong ḍng thơ tự thuật tự trào có từ ngàn xưa tại Đông Á.. Bài thơ tiêu biểu cho ḍng thơ này là bài sau đây của Lư Bạch:
Nguyệt Hạ Độc Chước
![]()
Hoa gian nhất hồ tửu
![]()
Độc chước vô tương thân
![]()
Cử bôi yêu minh nguyệt
![]()
Đối ảnh thành tam nhân
![]()
Nguyệt kư bất giai ẩm
![]()
Ảnh đồ tùy ngă thân
![]()
Tạm bạn nguyệt tương ảnh
![]()
Hành lạc tu cập xuân
![]()
Ngă ca nguyệt bồi hồi
![]()
Ngă vũ ảnh linh loạn
![]()
Tỉnh th́ đồng giao hoan
![]()
Túy hậu các phân tán
![]()
Vĩnh kết vô t́nh du
![]()
Trường kỳ diểu Vân Hán.
Dịch là:
Chuốc Ḿnh Dưới Trăng
Bên hoa một hồ rượu
Chuốc ḿnh chẳng ai thân
Nâng chén mời trăng tỏ
Trăng bóng ta quây quần
Rượu trăng nào biết nhấp
Tuỳ bước ta bóng quẩn
Cùng trăng bóng đánh bạn
Hành lạc dịp ngày xuân
Ta ca trăng bồi hồi
Ta múa bóng bước loạn
Lúc tỉnh cùng giao hoan
Khi say đành phân tán
Mối chân t́nh vô hạn
Hẹn nhau bên sông Hán.
Nhấp rượu dưới trăng một ḿnh, Lư Bạch cũng phân thân thành Bóng. Nhưng Bóng không lôi cuốn bức bách Lư Bạch, trái lại Bóng bước theo Lư Bạch từng bước. Bóng hiện ra làm bạn cùng Lư Bạch vui cùng Lư Bạch dưới trăng, như Hồn hiện ra vui cùng Hàn Mặc Tử dưới trăng .
Clément Rosset nới rộng phạm vi nghiên cứu những trường hợp chứng phân thân nhị trùng trong sang địa hạt hội họa. Ông nhận thấy là nhiều họa sĩ, trong mọi trường phái, đều thường họa chân dung của chính ḿnh lên tranh, đó là những bức chân dung tự họa. Johannes Vermeer, biệt danh là Vermeer de Delft (1632-1675) người Ḥa Lan là một họa sư chuyên vẽ cảnh vật. Cảnh vật của hoạ sư thường trầm lặng, với những tiêu đề rất b́nh dị, nhưng giầu ư nghiă và rất sống động. Trong số tác phẩm của họa sư c̣n truyền lại, có
bức mang danh hiệu LAtelier (xem phụ bản I). Trong
đó họa sư tự họa chân dung của chính ḿnh
đang làm việc trong pḥng vẽ, nhưng nh́n từ phía
sau lưng. Nhân vật chính trong tranh như vậy có
thể coi là bất kỳ một ai. Duy có y phục,
tầm vóc cũng như dáng điệu của người
trong tranh giúp cho người xem tranh đương thời
nhận ra đó chính là tác giả bức họa. Toàn
thể bức tranh như tŕnh bày niềm vui của người
trong tranh. Các nhà phê b́nh hội họa cho rằng niềm
vui đó là niềm vui buông bỏ tự ngă. Tự ngă không
lôi cuốn được ai, kể cả chính bản thân
của cá nhân. Mối tương quan giữa niềm vui
sống và sự buông bỏ tự ngă hiển hiện
trong bức họa. Bức họa tŕnh bày cái không thể
nh́n thấy nổi: họa sĩ vẽ sự vắng
mặt của ḿnh rơ rệt hơn cả việc từ
chối việc vẽ châức mang danh hiệu
Bên trời Đông Á, có danh họa Vương Duy, (699-759) đồng thời cũng là một nhà thơ Đường nổi danh. Tô Đông Pha đời Tống xem tranh và đọc thơ Vương Duy đă để lại lời phê b́nh:
Trong thơ có họa, trong họa có thơ.
Ngày nay không ai t́m thấy một bức họa nào chắc chắn là tranh Vương Duy. Nhưng có rất nhiều bức họa ghi là vẽ theo Vương Duy. Trong số đó cũng có một bức chân dung tự họa, (xem phụ bản II) cũng nh́n từ phía lưng. Người trong tranh rơ ràng là đang an lạc trong cảnh tĩnh mịch nhàn tản. H́nh ảnh của sự buông bỏ ngă chấp hiển hiện trong bức tranh. Câu truyện buông bỏ đó đọc thấy trong bài ngũ ngôn dưới đây:
Thù Trương Thiếu Phủ
![]()
Văn niên duy hảo tĩnh
![]()
Vạn sự bất quan tâm
![]()
Tự cố vô trưởng sách
![]()
Không tri phản cựu lâm
![]()
Tùng phong suy giải đái
![]()
Sơn nguyệt chiếu đàn cầm
![]()
Quân vấn cùng thông lư
![]()
Ngư ca nhập phố thâm
dịch là:
Đáp Lời Trương Thiếu Phủ
Về già chữ tĩnh những mong
Việc đời muôn sự ngoài ṿng dửng dưng
Biết ḿnh sách lược tầm thường
Lui về rừng cũ t́m đường kịp may
Gió tùng giải áo nhẹ bay
Dạo đàn trăng sáng quang mây non ngàn
Cùng thông người hỏi miễn bàn
Bến sâu tiếng hát ḥ khoan lăo chài.
Vương Duy từng làm quan đứng bên cạnh vua Đường, lúc về giả buông bỏ mọi truyện,
việc thời thế cùng thông ông gác ngoài tai,
lọt tai ông chỉ có tiếng hát lăo chài bến sâu.
Trong bài Chơi Giữa Mùa Trăng, Hàn Mặc Tử không nói tới việc buông bỏ tự ngă, nhưng Hàn Mặc Tử nói tới việc giải thoát cái
ta ra khỏi nơi giam cầm của xái ‘ta’ ra
Giải thoát cái ta ra khỏi giam câm của xác thịt, chính
là đường về với Đạo của Trần
Tung trong câu kết bài Phóng Cuồng Ngâm
Phóng tứ đại hề mạc bả trọc
Dịch là:
Buông h́nh hài hề không nắm giữ .
Giải thoát cái ta khỏi giam cầm xác thịt, Hàn Mặc Tử trọn vẹn là thánh thể kết tinh, trong trắng như một khối băng tâm t́m về với Đức Mẹ Maria, như ông viết trong bài ‘ta’
Ave Maria
1Như song lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cơi Thiên Đàng,
Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể.
5Và Tổng Lănh Thiên Thần quỳ lạy Mẹ
Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa.
Hương xông lên lời ca ngợi sum ḥa,
Trí miêu duệ của muôn v́ rất thánh.
Maria! linh hồn tôi ớn lạnh!
10Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng ...
Nhưng ḷng vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến.
Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi,
15Cho tôi dâng lời cảm tạ pḥ nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ,
Ḍng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ.
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua;
20Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị ...
Và trong miệng câu ca huyền bí,
Và trong tay nắm một nạm hào quang ...
Tôi no rồi ơn vơ lộ ḥa chan.
Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ
25Ngọc như ư vô tri c̣n biết cả,
Huống chi tôi là Thánh Thể kết tinh.
Tôi ưa nh́n Bắc Đẩu rạng b́nh minh,
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới ...
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi,
30Thơm nhường bao cho miệng lưỡi không khen.
Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel,
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ,
Người có nghe xôn xao bao tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
35Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng - Bằng hoa hương sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm Xuân là rất đỗi anh linh?
Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh.
40Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ư
Trượng phu lời và tông đồ triết lư.
Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh
Là Nguồn Đau chầu lụy Nữ Đồng Trinh ...
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp,
45Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập
Cả Hàn Giang, cả màu sắc thiên không.
Lút trí khôn và ám ảnh hương ḷng
Cho sốt sắng, cho đê mê nguyền ước ...
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước.
50Cho t́nh tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm.
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu!
Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh đẩu,
Cho đê mê âm nhạc và thanh hương.
55Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng.
Ḷng vua chúa cũng như ḷng lê thứ
Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đầy ứ
Nguồn thiêng liêng yêu chuộng Mẹ SẦU BI.
Phượng Tŕ! Phượng Tŕ! Phượng Tŕ! Phượng Tŕ!
60Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang?
Hàn Mặc Tử dùng trăng làm h́nh ảnh chính trong bài thơ để bày tỏ ḷng
tin, cậy và mến với Đức Bà Maria.
Phải chăng Hàn Mặc Tử muốn trở về với ḍng thơ thăng hóa vốn có từ ngàn xưa tại Việt Nam cũng như trên toàn cơi Đông Á ? Bởi trăng là một h́nh ảnh thường gặp trong ḍng thơ thăng hóa Việt Âm cũng như Trung Quốc và Nhật Bản.
Nguyễn Khuyến tránh nóng trong chùa Thanh Giang ra về sau một giấc ngủ cũng nh́n thấy trăng sáng, dầu mắt đă kém đến phải chống gậy. Ư thơ Nguyễn Khuyến như văng vẳng lời Kinh Hoa Nghiêm:
Bồ đề tâm thử do như nguyệt đăng
Thượng Tọa Thích Trí Tịnh dịch là
Tâm Bồ đề như trăng sáng.
Theo Suzuki, Bồ Đề Tâm nghiă là ước vọng giác ngộ.
Nguyễn Du cũng dùng ánh trăng để bày tỏ
cái tĩnh mịch trong tâm hồn qua bài sau đây:
Đạo Ư
![]()
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh
![]()
Tỉnh thủy vô ba đào
![]()
Bất bị nhân khiển xả
![]()
Thử tâm chung bất dao
![]()
Túng bị nhân khiển xả
![]()
Nhất dao hoàn phục chỉ
![]()
Trạm trạm nhất phiến tâm
![]()
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.
dịch là:
Giăi Ư
Giếng cổ lồng trăng sáng
Nước giếng không gợn sóng
Chẳng có người khuấy động
Tâm này hằng tĩnh lặng
Bằng có người khuấy động
Tâm động rồi lại yên
Vằng vặc tâm một phiến
Giếng cổ lồng trăng sáng.
Bài giảng Hiện Thành Công Án (Genjo koan) của thiền sư Vĩnh B́nh Đạo Nguyên, Eihei Dogen (1200-1253) giúp người đọc thơ hiểu thêm về h́nh ảnh bóng trăng trong ḷng giếng của Nguyễn Du. Thiền sư viết:
Ngộ như trăng lồng nước. Trăng không ướt
nước, mặt nước không nhàu. Dầu trăng dăi khắp nơi nơi, bóng trăng vẫn lồng trong từng hạt nước nhỏ. Cả vầng trăng cả ṿm trời cùng in h́nh trong giọt sương trên ngọn cỏ.
Trong bài giảng Đô Ki, Tsuky, thiền sư c̣n dựa trên lời kinh:
Do nhược hư không
![]()
Như thủy trung nguyệt.
viết
Phật pháp như hư không. Tùy vật hiện h́nh.
Đó là trăng lồng nước.
Trong văn học Nhật bản, thiền sư Vĩnh B́nh Đạo Nguyên, nổi tiếng như một nhà triết luận. Tới năm 1968, Kawabata Yasunari (1899-1972), tác giả Nhật Bản đầu tiên trúng giải Nobel về văn học, trích dẫn một bài thơ của Đạo Nguyên, để mở đầu bài diễn từ đọc tại Stockolm, ngày ông nhận giải. Bài diễn từ có tựa đề Nhật Bản, Cái Đẹp và Tôi, tác giả cho biết ông lấy hứng từ Thiền, khởi đầu từ thơ của Vĩnh B́nh Đạo Nguyên. Bài thơ này, dịch theo bản dich chữ Anh của Edward Seidenstricker, trích dẫn trong cuốn The Zen Poetry of Dogen, như sau:
Đầu xuân hoa đào nở
Vào hè tiếng quyên ca
Giữa thu ánh trăng tỏ
Sang đông hoa tuyết sa.
Theo Kawabata, nét đặc sắc của bài thơ là
khả năng gợi ư qua những h́nh ảnh và lời lẽ rất thông thường, thuận với thiên nhiên, tiêu biểu cho văn học Nhật bản.
H́nh ảnh trong thơ Đạo Nguyên quả thật là rất thông thường qua sự tuần hoàn đổi mùa
trong một năm. Nhưng, đọc kỹ hơn, người đọc thấy đó là h́nh ảnh của hai chữ
vô thường, của cánh hoa đào, của tiếng quyên, của bóng trăng, của hoa tuyết, lồng trong cái
thường hằng ẩn trong ṿng tuần hoàn của máy tạo.
Trong chiều hướng đó, bài Đạo Ư của Nguyễn Du, h́nh ảnh vầng trăng lồng nước ḷng giếng khác nào h́nh ảnh chữ
ngộ theo lời giảng của Đạo Nguyên. Ngoài ra, người đọc dường như c̣n cảm thấy cái vô thường là cái khuấy động, cái thường hằng là cái tĩnh lặng trong ngộ tâm. Trên một hướng khác, h́nh ảnh vừng trăng trong ḷng giếng chợt thành vỡ muôn mảnh rồi giây phút lại lành không khỏi khiến người đọc nhớ tới h́nh ảnh trăng vỡ trăng lành trong ḷng biển khi nổi sóng và khi lặng sóng, trong bài Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia Vân Giác (665-713). Bài này có bản dịch tiếng Anh , trong tập The Poetry of Enlightenment, của thiền sư Shen yen. H́nh ảnh trăng lành trăng vỡ trong ḷng nước này, theo các nhà b́nh thơ Thiền là h́nh ảnh cuả điều Phật dậy:
Tất cả là Một và Một là tất cả.
Trở lại bài Ave Maria, điều đáng nói là Hàn Mặc Tử không dùng những thi liệu có sẳn từ ngàn năm trước, và đưa vào ḍng thơ cổ
truyền thống này những thi liệu mới.
Trong 3 câu mở đầu ông viết:
Như song lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng dâng cao thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cơi Thiên Đàng
Ba thi liệu mới của Hàn Mặc Tử là thần nhạc, ánh sáng và hương thơm ghép cạnh h́nh ảnh mặt trăng. Ba h́nh ảnh này dường như là ba thi liệu quen thuộc trong thơ Baudelaire, một nhà thơ người Pháp thời danh thủa sinh tiền Hàn Mặc Tử:
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent
(Correspondances, Fleurs du Mal)
Rồi tới hai câu 21 và 22:
Và trong miệng câu ca huyền bí,
Và trong tay nắm một nạm hào quang...
Ngậm thần nhạc trong miệng, nắm hào quang trong tay, phải chăng là hứng thơ khởi từ ư thơ Baudelaire:
[...] mon âme peut boire
A grands flots le parfum, le son et la couleur
(La Chevelure, Fleurs du Mal)
Đối chiếu thơ Hàn Mặc Tử với thơ Baudelaire, người đọc nhận ra là Hàn Mặc Tử đă đổi chữ mầu sắc, couleur, thành ra là ánh sáng hay hào quang. Việc thay đổi này không phải là một chi tiết, mà chính là Hàn Mặc Tử chủ tâm ra khỏi thi cảnh trần tục của Beaudelaire, như viết trong thư gửi M, về Quan Niệm Thơ, tại Quy Nhơn, tháng sáu năm 1939:
M. có hỏi Trí về quan niệm thơ. Đối với Trí quan niệm rất khác thường, không giống Baudelaire lắm. Theo Baudelaire th́ va lấy passion làm hứng vị cho thơ. Trước kia nếu M. lật tập Thơ Điên của Trí ra xem, sẽ thấy nhiều bài thấp thía những t́nh cảm rất nồng và rất sau sưa...Trí đă phát tiết hết tinh lực của hồn của máu, bằng những câu thơ ngất đi v́ khoái lạc. Chỗ ấy, hơi đồng một quan niệm với Baudelaire. Trí nói hơi đồng thôi v́ trong khi làm thơ, Trí đă tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội. Chứ đối với Baudelaire, va đă nói: ‘la passion est chose naturelle’
nghĩa là va đă hiểu lầm chữ passion rồi vậy.
T́nh cảm - hay cảm hứng (enthousiasme) - với dục t́nh (passion) khác nhau nhiều. T́nh cảm là sự thanh bạc hồn nhiên, không một chút ǵ bợn nhơ, tội lỗi, c̣n dục t́nh là cả một sự ham muốn phi thường ngoài điều răn của Đức Chúa Trời.
Phải chăng rời bỏ cảnh giới của Baudelaitre, Hàn Mặc Tử bước vào thi cảnh giầu tính cách thăng hóa của Thánh Augustin?
Nhiều đoạn trong sách Xưng Tội, Confessions, nhất là trong quyển X, Thánh Augustin tŕnh bày rơ về những cảm quan nội tại giúp con người trực tiếp cảm thông với những thực thể huyền bí. Trong chương VI, Thánh Augustin trực tiếp viết gửi Chúa Trời:
But when I love you, what do I love? It is not physical beauty nor temporal glory nor the brightness of light dear to earthy eyes, nor the sweet melodies of all kinds of song, nor the gentle odour of flowers and ointments and perfumes, nor manna or heney, nor limbs welcoming the embraces of flesh; it is not these I love when I love my God. Yet there is a light I love, and a food, and a kind of embrace when I love my God -alight, voice, odour, food embrace of my inner man, where my soul is flooding by light which space cannot contain, where there is sound that time cannot seize, where there is a perfume which no breeze disperses,[...]
Inner man, dịch là con người tại tâm phải
chăng chính là cái Ta là thánh thể kết tinh như chính Hàn
Mặc Tử tự xưng trong thơi
Trong lời giới thiệu tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê, nhà xuất bản Đông Phương, 1939,
Hàn Mặc Tử cũng viết rơ hơn về âm thanh,
ánh sáng cùng hương thơm:
Âm thanh là một nửa tinh thần, anh hoa của thế giới Huyền Diệu. C̣n một nửa khác là mầu sắc [...] của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mă năo, trân châu. [...] để biểu thị cái ước mơ vô hạn của một linh hồn khát khao vàng ngọc của Nước Trời cao cả.
Mầu sắc như ta dă thấy trong các thi phẩm đông tây, đều gồm hai tính cách:
1. Mầu sắc cụ tượng,
2. Mầu sắc trừu tượng.
Mầu sắc cụ tượng th́ th́ lộ nguyên h́nh bằng bản chất của nó, như gấm như hoa, mà ta rờ được, nắm được với đôi bàn tay (palpable), c̣n mầu sắc trừu tượng là thứ ǵ nửa thực nửa hư, nghe thấy biết mà không làm chủ được nó, ví dụ: ánh sáng, hương thơm, nhạc vui, không gian thanh khí ...
Mầu sắc cụ tượng rất dễ t́m, dễ kiếm, trái lại mầu sắc từu tượng rất khó sáng tạo, v́ đây là cái đẹp của thơ, và phải có con mắt của thi nhân, của một kẻ siêu phàm thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng, phép tắc ấy, và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với mầu sắc từu tượng, thi nhân mới có cái công phu làm cho nó trở nên cụ tượng. Nghĩa là có thể nắm được một nam hào quang, lùa không gian vào vạt áo, dồn kinh cầu nguyện về phương Nam, ...
Bắt cái vô h́nh trở nên hữu h́nh, khiến cái chết trở nên cái sống, [...]
Đấy là tất cả nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân [...].
Những h́nh ảnh ánh sáng, âm thanh và hương thơm trên đây, hiểu theo đoạn văn
của thánh Augustine, cũng như hiểu theo đoạn văn của Hàn Mặc Tử dường như hiển
hiện trong bài Ave Maria như trong hai câu:
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi,
Thơm dường bao cho miệng lưỡi không khen.
Ngoài ra, dường như hứng thơ của Hàn Mặc Tử vượt qua giới hạn lời giảng của Thánh Augustin, ngoài ánh sáng, hương thơm, thanh âm, c̣n cả ṿng tay xiết chặt, cấu cào, nhai ngấu nghiến, mà viết ra những ḍng thơ đến nay trong ngoài nửa thế kỷ vẫn là những vần thơ mới lạ, tỷ như bài Trường Thọ, tập Thượng Thanh Khí
Ta sống măi với trăng sao gấm vóc
Trong nắng thơm trong tiếng nhạc thần bay
Bút đè lên nền sáng báu năm mây
Thơ chen lấn trong muôn ngàn cảm giác
Ta uống hết dư hương và mộc dược
Ớn làm sao đầy một miệng hào quang
Đưa tay vơ cung câm nguyệt mênh mang....
và trong một đoạn khác âm thanh, ánh sáng đă tạo nên những cảm giác đầm ấm cho tác giả:
Cầu khúc tinh hằng chiếu mạng người thơ
Nên đường trăng sáng láng tự bao giờ
Lạy chín phẩm thiên thần xin chứng giám
Ta sống măi với muôn xuân đầm ấm
Trong mây kinh và trong gió nguyên cầu
Nào trân châu nào thanh sắc cho mau
Dâng hết cả thanh âm cho tụ khí
Cũng như trong bài Hồn Là Ai:
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng ...
Tôi chết giả và no nê vô hạn
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đă cấu đă cào nhai ngấu nghiến.
Không chỉ đưa vào ḍng thơ cổ những thi liệu mới, Hàn Mặc Tử c̣n có những h́nh ảnh rất mới lạ, như trong hai câu 40 và 41, chủ chốt trong bài thơ:
Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh
Là Nguồn Đau chầu lụy Nữ Đồng Trinh
và hai chót:
Hồn tôi bay tới bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời sáng vạn hào quang.
Những h́nh ảnh trong hai câu 40 và 41 là những h́nh ảnh Đức Mẹ trích từ đoạn 12 sách Khải Huyền:
1Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Nữ, ḿnh khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. 2Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại v́ sắp sinh con.
Đoạn Kinh Thánh trên cho thấy Đức Tin của Hàn Mặc Tử đặt dưới chân Đức Mẹ cũng như làm sáng nghĩa hai chữ Nguồn Trăng và Nguồn Đau trong thơ Hàn Mặc Tử. Theo đoạn Kinh Thánh trích dẫn, Nguồn Trăng phải chăng là vầng trăng ở dưới gót Đức Mẹ? Nguồn Đau phải chăng là cơn đau của Đức Mẹ lúc sinh Chúa Hài Đồng? Chiếc triều thiên ngời sáng vạn hào quang phải chăng là triều thiên của Đức Mẹ?
Đọc ba câu:
Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ
Ngọc như ư vô tri c̣n biết cả,
Huống chi tôi là thánh thể kết tinh
và đọc tiếp hai câu:
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phúc
Cho t́nh tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm.
trong dó đức đầy ơn phúc và đức nhiều phép
lạ, cả hai cùng trích từ Kinh Kính Mừng, người đọc thấy rơ
Đức Cậy của Hàn Mặc Tử đặt trong tay Đức Mẹ cùng Đức Mến Hàn Mặc Tử thân kính dành riêng Đức Mẹ.
Phải chăng v́ đức mến thân kính này, Hàn Mặc Tử mong ước cho hồn ḿnh bay về đậu trên triều thiên ngời sáng hào quang của Đức Mẹ? Mong ước đó không khỏi khiến người đọc thơ thấy Đức Mến đức Mẹ của Hàn Mặc Tử, tựa như ḷng đứa con nhỏ trong ṿng tay mẹ nh́n thấy mẹ ḿnh như của riêng ḿnh.
Trở lại văn bản bài Ave Maria, người đọc thơ thấy Hàn Mặc Tử dùng sáu lần chữ thơ làm thi liệu:
Lần thứ nhất trong câu 18:
Ḍng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Lần thứ nh́ trong câu 35:
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Lần thứ ba trong câu 40:
Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ư
Lần thứ tư trong câu 51:
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Lần thứ năm trong câu 57:
Sẽ ngất ngây bởi chưng thơ đầy ứ
Lần thứ sáu trong câu 60:
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Lặp đi lặp lại một thi liệu tới sáu lần trong một bài thơ, dầu là một bài thơ dài 62 câu, phải chăng tác giả muốn nhấn mạnh trên một ư thơ? Câu hỏi là ư thơ Hàn Mặc Tử gửi gắm qua sáu lần dùng chữ
thơ là ǵ?
Trả lời câu hỏi này, trước hết cần t́m hiểu ư nghiă chữ thơ.
Quan điểm về thơ theo Nho học tóm tắt trong bốn chữ:
Thi dĩ ngôn chí
nghĩa là thơ để giăi tỏ chí hướng. Điều này
người xưa thường nhắc lại mỗi khi bàn về thơ.
Lê Qúy Đôn (1726-1784) nói rơ hơn trong điều 46 thiên Văn Nghệ Loại, quyển thứ năm sách Vân Đài Loại Ngữ:
[...]ta thường cho làm thơ có ba điểm chính: một là t́nh, hai là cảnh, ba là sự.
Sáo trời vẳng nghe trong ḷng, t́nh động tâm cơ; mắt tiếp h́nh ngoài, cảnh động tới ư, dựa cổ chứng kim, chép việc thuật truyện, thu hút phần tinh túy; tuy người thơ không phải chỉ có một mối, nhưng đại để không ngoài ba điều ấy.
T́nh là người, cảnh là trời, sự là hợp lẽ thông
suốt cả trời đất. Lấy t́nh tham cảnh, lấy cảnh hội việc, đối việc nên lời; nhân nói thành lời cảnh không hẹn đến mà tự đến, lời không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể lên đến mức tao nhă được vậy.
Lê Qúy Đôn viết thêm:
Lời bàn của tiên hiền cũng không ngoài ba điều ấy.
Người nay bàn về thơ cũng không ngoài ba điều ấy. phải chăng theo ngôn ngữ thi thuyết hiện thời t́nh là tâm cảnh, cảnh là thi cảnh và sự là hoàn cảnh ?
Điểm đáng nói về quan điểm thơ của Lê Qúy Đôn ứng dụng vào việc t́m hiểu h́nh ảnh thơ trong bài Ave Maria dường như bao gồm trong hai chữ sáo trời. Chữ này dịch chữ thiên lại, gặp trong chương Tề Vật Luận của Trang Tử và trong một vài chương kế tiếp. Muốn hiểu rơ ư Lê Qúy Đôn không cách nào hơn là trở lại Nam Hoa Kinh, bởi cũng trong thiên Văn Nghệ Loại, điều 5, Lê Qúy Đôn viết:
Các sách Trang Tử, Hoài Nam Tử là tổ của
văn chương.
Nhắc lại chữ sáo trời ở đây, phải chăng Lê
Qúy Đôn muốn người đọc nhớ lại ư Trang Tư gửi trong hai chữ này?
Mở đầu chương Tề Vật Luận Trang Tử kể truyện trao đổi giữ Nam Quách Tử Kỳ và học tṛ là Nhan Thành Tử Du.
Tử Du hỏi:
-Tiếng sáo Đất là tiếng ḥa muôn khiếu. Tiếng sáo Người là tiếng ḥa của ống trúc. Dám hỏi thế nào là tiếng sáo Trời.
Tử Kỳ hỏi lại:
- Ḱa gió thổi khiến muôn tiếng không giống nhau cùng vang lên, nhưng mà cái khiến cho nó vang lên hay ngừng lại là cái ǵ?
Tiếp tới chương XIV, Thiên Vận, Trang Tử viết thêm ư trên bằng một số câu hỏi:
Trời vận động chăng? Đất ở yên chăng? Mặt trời mặt trăng tranh chỗ chăng? Ai chủ trương những cái ấy? Ai giữ giềng những cái ấy? Ư giả trong đó có máy móc ràng buộc mà chẳng thể ngừng được chăng? Ư giả nó vần chuyển mà chẳng thể tự dừng lại chăng? Mây làm nên mưa chăng? Mưa làm nên mây chăng? Ai nung nấu tưới dội những cái ấy? Ai ở rỗi không việc mua vui mà thúc giục những cái ấy? Gió nổi từ phương Bắc, một Tây, một Đông họp thành luồng cuốn lên cao, ai thở hút những cái ấy? Ai ở rỗi không việc mà phe phẩy những cái ấy? Dám hỏi: Cớ ǵ?
Vu Hàm Siêu nói:
- Laị đây! Ta bảo mi: [...] Thượng Hoàng đấy.
Chữ Thượng Hoàng trên đây, theo ngôn ngữ
thông dụng của Lăo Giáo chính là Đạo, là Tự Nhiên.
Những câu hỏi và câu trả lời trên đây dường như nhắc người đọc đoạn Job ca tụngThiên Chúa, (J,28: 23-26)
Đường nẻo khôn ngoan một ḿnh Thiên Chúa tỏ, Chính người biết đâu là cửa khôn
ngoan. Quả thật Người nh́n thấy tận cùng trái đất, Người nh́n thấu mọi sự dưới ṿm trời. Khi Người ban sức mạnh cho gió, và định mức cho thủy triều, khi người ra luật cho mưa, vạch đường cho sấm chớp.
và lời Thiên Chúa hạch hỏi Job (J 38: 311)
[...] Ta hỏi ngươi và ngươi phải trả lời.
Ngươi ở đâu khi ta đặt nền móng cho đất? Ai định kích thước cho đất? Ai chăng giây đo [...] khi các v́ sao đang ḥa tấu nhịp nhàng ? Cửa đại dương ai khép lại khi nước tuôn trào từ đáy vực sâu, khi ta giăng mây làm áo, phủ sương làm tă che thân? Đường ranh giới chính Ta vạch sẳn [...] Ngươi chỉ tới đây thôi, không được tiến xa nữa, đó là nơi các đợt sóng cao phải vỡ tan tành!
Trở lại quan điểm về thơ của Lê Qúy Đôn, tiếng sáo trời đánh động tâm cơ, phải chăng chính là công tŕnh của Đạo không làm mà mọi sự thành, theo sách Lăo Trang, hay chính là những tác tạo trong sáu ngày sáng thế của Thiên Chúa theo lời Kinh Thánh?
Câu hỏi trên cũng là những câu hỏi Thánh Augustin đặt ra trong một số bài giảng. Trong bài giảng số 19 đoạn 5 có những câu:
Considérez... lensemble de la création, le ciel, la terre, la mer, quelle beauté, quelle magnifience, quel ordre, quelle dispositions merveilleuses! Ce spectacle vous érez... l’ensemble de la création, le ciel, la terre, la mer, quelle beauté, quelle magnifience, quel ordre, quelle dispositions merveilleuses! Ce spectacle
Rồi tiếp tới bài 126 đoạn 3:
Vois le ciel, vois la terre: les ornements du ciel, la fertilité de la terre, le vol léger des oiseaux, les évolutions
des poissons dans londes, la fécondilité volutions des poissons dans l’ondes, la fécondilité des germes, l’ordre des temps; regarde les oeuvres et cherche l’ouvrier;
Celui que tu ne vois pas ...
Thánh Augustin (354-430) gốc tại Thagaste, nay thuộc Algérie, sau một thời niên thiếu rất sôi động, trở về với Đạo Chúa tại Milan năm 37 tuổi; năm năm sau lănh chức Giám Mục giáo phận Hippone. Sau đó được phong chức Tiến Sĩ Giáo Hội. Thánh Augustin là một nhà thần học, triết gia, luân lư gia, để lại nhiều tác phẩm nổi danh như La Cité de Dieu, Confessions, v.v... gây ảnh hưởng lớn trong văn học tiếng La tinh.
Câu trả lời chung cho những câu hỏi trên là câu Kinh Thánh, sách Sáng Thế, đoạn 1:3
Thiên Chúa nh́n lại mọi sự Người đă làm và Người rất hài ḷng.
Theo Paul Claudel (1868-1955), một nhà thơ, nhà văn, một kịch tác gia, kiêm một nhà ngoại giao người Pháp, từng sống nhiều năm tại Trung Hoa, Nhật Bản cũng như tại Hoa Kỳ, và khi về già trở thành nhân viên Hàn Lâm Viện Pháp Quốc, th́ vẻ đẹp muôn dạng của thiên nhiên là một bài thơ mà chúng ta cần suy ngẫm để mỗi lúc một t́m rơ ra ư nghĩa tiềm tàng. Paul Claudel viết:
Lobjet de la poésie, ce nest pas, comme on le dit souvent, les rêves, les illusions ou les idées. Cest cette sainte realité, donnée une fois pour toutes, au centre de laquelle nous sommes placés. Cest lunivers des choses invisibles [...] Tout cela est loeuvre de Dieu, qui fait la matière inépuisable des récits et des chants du plus grand poète comme du plus pauvre oiseau [...] il y a une poesis perranis qui ninvente pas ses thèmes, mais qui reprend éternellement ceux que la Création lui fournit [...] Lidée dun infini matériel [...] cest à dire dun Fini sans bornes [...] cest à dire ce pouvoir dordre, de mesure et de disposition que Dieu a mis en elle à limitation de son Verbe créL’objet
Phải chăng, Hàn Mặc Tử cũng có cùng một ư với Claudel, để nghe thấy
tiếng tinh tú xôn xao náo động cả muôn trời, thấy hoa thơm sáng láng, thấy ánh Sao Mai chiếu rạng, thấy đêm xuân anh linh là nguồn thơ thao thao bất tuyệt gây hứng cho ông viết những ḍng thơ mầu
nhiệm? Phải chăng Hàn Mặc Tử, con vượt ra ngoài ư Claudel, để thấy h́nh những h́nh ảnh hăi hùng và huy hoàng của ngày Thiên Chúa hủy diệt đời cũ đất cũ tạo lập trời mới đất mới, trong hội Khải Huyền là
trượng phu lời, là thơ quân tử ư?
Chính Hàn Mặc Tử đà trả lời câu hỏi này trong bài viết Quan Niệm Thơ viết trong một bức thư gửi M. tại Quy Nhơn, tháng Juin 1939 :
[...] Tất cả trong thế gian này, hay cả một suất cơi thế gian nào nữa, những thứ ǵ đă tụ trong hai thế gian ấy (cơi hữu h́nh và cơi vô vi) đều là h́nh ảnh của thơ cả. Đức Chúa Trời đă tạo ra trăng, hoa, nhạc, hưởng là để cho người đời hưởng thụ (élément de la poésie) nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy, chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí Tôn. V́ thế, trừ hai loài trong vọng là Ềthiên thần và loài người taỂ, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loại thứ ba nữa: loài Thi Sĩ - Loài này là nhưng bông hoa rất qúi và rất hiếm, sinh ra đời với nhiệm vụ thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công tŕnh châu báu của Đức Chúa Trời đă gây ra, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta, những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, rất tinh sạch (but de la poésie)
Trong một đoạn khác trong bức thư gửi M. về Quan Niệm Thơ, Hàn Mặc Tử viết:
Người tri kỷ của thi sĩ phải là bậc cao qúy toàn năng, một đấng mà thi sĩ nhận lấy như là hết cả mọi sự - Đấng ấy là Đức Chúa Trời - V́ Đức Chúa Trời đă tạo ra thơ ở thế gian này [...]
Cho nên thi sĩ phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời .
Ư này của Hàn Mặc Tử dường nhu gần gũi với lời Paul Claudel dưới đây:
Nous savons que le monde est en effet un texte et quil nous parle, humblement et joyeusement de sa propre absence, mais aussi de la présence éternelle de quelquun dautre, à savoir son Créateur. Non pas seulement lécriture, mais le scripteur, non pas seulement la lettre morte, mais lesprit vivant, et non pas un grimoire magique, mais le Verbe en qui toutes choses ont eté proféréNous savons
Hàn Mặc Tử c̣n nói rơ hơn nữa:
Thi sĩ không phải là người thường. Với một sứ mệnh của trời, thi sĩ phải biết đem tài năng ra ca ngợi Đấng Chí Tôn, và làm cho người đời thấy vẻ đẹp của thơ [...].
Phải chăng đó là những giây phút thần trí cuả Hàn Mặc Tử đạt tới chỗ cao xa sáng láng như lời Dương Quảng Hàm ?
Đến dây, ngoài những khác biệt về đối tượng tín ngưỡng, người đọc thơ thấy dường như có một mối giao hưởng giữa các ḍng thơ khởi hứng từ truyện sống chết, xét trong những trang trên. Phải chăng đó là một truyền thống văn học của người Việt Nam?
Chỉ Lục
Augustin, 44,48
Confession, 44
Sermons, 48
Bạch Ẩn Thiền sư , Hakuin Ekaku , 8
Baudelaire, Charles, 33,34,38,44
Correpondance, 44
La Chevelure, 44
La Fontaine de Sang , 34
Les Phares, 34
Bích Khê, 45
Tinh Huyết, 45
Blackham H.J., 31
Reality Man and Existence: Essential Works of
Existentialism,31
Blin, Géorges 38
Le Sadisme de Baudelaire, 38
Camus, Albert ,28,29
Le Mythe de Sisyphe, 29
Cẩm Thành Thiền sư, 18
Claudel, Paul, 48,49
Oeuvres en Prose, 48,49
Cruickshank, John, 28
Dọc bằng đ̣n gánh củ bằng b́nh vôi, 35
Dương Quảng Hàm, 2,32, 49.
Việt Nam Văn Học Sử Yếu, 2,32, 49
Đào Tiềm, 7
Đào Nguyên Kư, 7
Dicken, Charles, 34
The hunted Man 34
Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề, 27
Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, 27
Đô Ki, Tsuky Thiền sư, 43
Dostoievski, Fedor Mikhailovitch,34
Le double, 34
Falla, Manuel de 39
L’Amour Sorcier 39
Green, Julien ,34
Le Voyageur Sur La Terre, 34
Hàn Mặc Tử: 32-49,
Ave Mariạ 41,46
Buc Thư Xanh, 33,34
Chơi Giữa Mùa Trăng, 38
Hồn Là Ai, 32,45
Lưu Luyến, 32
Người Ngọc, 32
Những Giọt Lệ, 33
Rướm Máu, 33
Say Trăng, 33
Thư Gửi M. 44,49
Trút Linh Hồn, 33
Trường Thọ, 45
Trường Tương Tư, 33
Hoffmann, Ernest, 34,
Contes Fantastiques, 34
Le Coeur de Pierre, 34
La Pricesse Brimbilla 34
Huyễn Trụ Hoà Thượng 20
Sách Ngữ Lục 20
Hoàng Nhẫn, Ngũ Tổ 11
Kawabatta Yasubari, 43
Kierkergard, Sorel ,31
Kinh Cầu Hồn, 23-24
Kinh Địa Tạng, 21
Kinh Hoa Nghiêm 42
Kinh Kim Cang, 18
Kinh Pháp Hoa 8
Kinh Thánh, 8, 46
Luca, 8
Sách khải Huyền ,46
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, 14
Kinh Vu Lan Bồn, 20-22,
Lăo Tử 5
Đạo Đức Kinh 5
Lê Qúy Đôn ,5,47,48
Vân Đài Loại Ngữ 5,47,48
Lĩnh Nam Chích Quai ,29
Lục Tổ Huệ Năng 11
Lục Tổ Đàn Kinh 11
Lưu Linh 7
Tửu Đức Tụng 7
Lư Bạch ,31, 39
Nguyệt Hạ Độc Chước 45
Tương Tiến Tửu 36
Mallarmé, Stepheane 35
Conte Indien 35
Manh Tử 11
Maupassant, Guy de ,34
La Horla, 34
Lui ,34
Musset, Alfred de, 36
Nevral, Geral de, 36
Nhất Biến Thượng Nhân 15
Ippen Shônin 15
Nietzche, Friedrich,31
Ngô Quang Minh, Wu Kuang Ming, 8
The Butterfly as Companion, 8
Nguyễn Du, 3,14,1720, 27, 42
Đạo Ư 42
Long Thành Cầm Giả Ca 27
Lương Thái Tủ Phân Kinh Thạch Đài 17
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, 3,20
Nguyễn Khuyến , 13,14,,42
Thanh Giang Tự Tỵ Thử 13
Nguyễn Trăi 7
Côn Sơn Ca 7
Nguyễn văn Ngọc 7
Cổ Học Tinh Hoa 7
Ngưỡng Sơn, Tuệ Tĩnh .11
Paul,Jean, 34
Phạm Quỳnh 31
Poe, Edgar Allen, 34
William Wilson, 34
Quy Sơn thiên sư, 11
Quy Ngương 11
Rank, Otto, 34
Le Double 34
Richard, Jean Pierre, 33,36
Poésie et Profondeur, 33
Rimbaud, Arthur, 36
JE est un Autre,36
Rosset, Clement ,35,
Le Réel et Son Double 35
Seidenstricker, Edward,43
The Zen Poetry of Dogen ,43
Shen Yen,43
The Poety of Enlightenment ,43
Sitwell, Osbert,34
The Man Who Lost Himself, 34
Strauss, Richard, 34
La Femme sans Ombre,34
Stravinski, Igor, 34
Petrouchka,34
Suzuky, Daiset teitaro, 18
Thiền Luận , 18
Tản Đà 1,29
Thăm Mả Cũ Bên Đường 2
Cảm Thu Tiễn Thu, 25
Đời Đáng Chán,27
Nói Truyện Với Ảnh, 28
Muốn Làm Thằng Cuội ,31
Thơ Rượu ,31
Tào Khê,11
Thiền Tông, 18
Tịnh Độ Tông, 14 15,
Tô Đông Pha ,40
Trang Tử 4-9
Nam Hoa Kinh 4-9, 11-12, 55-56
Chí Bắc Du, 6
Chí Lạc 4,6
Đại Tông Sư 4,
Tề Vật Luận 9, 47
Thiên Vận 47
Thu Thủy 9
Trần Tung 9
Phóng Cuồng NGâm, 9,11
Verlaine, Paul, 37
Vermeer, Johanne 46
L’Atelier Phụ bản 1
Vĩnh B́nh Đạo Nguyên, Edo Dogo, 43
Hiện Thành Công Án ,43Vĩnh Gia Vân Giác, 43
Chính Đạo Ca ,43
Vương Duy, 40
Thù Trương Thiếu Phủ, 40
Watson, Burton 7
The Complete Writings of Chang Tzu
Sách Tham Khảo
Sách Quốc Ngữ
Nguyễn Khắc Hiếu, Thơ Tản Đà, NXB Văn Học, Saigon 1989.
Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Xuân Thu tái bản tại Los Alamitos, California, USA
Trang Tử Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Tân Việt, Hanoi 1946.
Daisetz Teitaro Suzuki, Thiền Luận, Bản dịch của Trúc Thiên & Tuệ Sĩ, Đại Nam tái bản tại Glendale, California, USA.
Nguyễn Du Toàn Tập, NXB Văn Học, Hà Nội 1996
Trần Tung, Thượng Sĩ Ngữ Lục, bản dịch của Trúc Thiên, đại học Vạn Hạnh, Saigon, 1969.
Phạm Thi Ngoạn, T́m Hiểu Tạp Chí Nam Phong, 1917-1934, Ư Việt, Yerres, France, 1993
Lữ Huy Nguyên, Hàn Mặc Tử Thơ và Đời, NXB Văn Học Hà Nội 1993.
Thi Long, Hàn Mặc Tử Một Đời Thơ, NXB Đà Nẳng 1999.
Thiện Nam Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử Anh Tôi, Nhà Xuất Bản Tín, Paris 1990
Kinh Thánh Trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước, Ṭa Tổng Giám Mục TP HCM, 1998
Quế Đường, Lê Qúy Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, Phạm Vũ & Lê Hiền dịch và chú giải, Nhà Sách Tự Lực. Saigon 1972.
Sách Chữ Nho
Lư Bạch Thi Tuyển, Lưu Dật Sinh chủ biên, Mă Lư Can tuyển chú, Joint Publishing Co. Ltd, Hongkong, 1988.
Vương Duy Thi Tuyển, Truyến Đông Hoa tuyển chú, Đại Quang Xuất Bản Xă xuất bản, Hương Cảng, 1976.
Nguyễn Khuyến, An Lăo Tam Nguyên Công Hán Tự Tuyển Tập, phóng ảnh Thư Viện Quốc Gia Ba lê Pháp.
Sách Chữ Pháp
Clément Rosset, Le Réel et Son Double, Folio Essai, Gallimard, Paris 1984.
Jean Pierre Richard, Poésie et Profondeur, Editions du Seuil, Paris 1955
Otto Rank, Don Juan et Le Double, Traduit de lallemand par Dr. S. Lautman,
Petite BibliothèOtto Rank, Don Juan
André Nicholas, Camus, Editions Seghers, Paris 1966.
Charle Baudelaire, Les Fleurs du Mal, Gallimard, Paris 1996.
Paul Claudel, Oeuvres en Prose, Collection La Pleiade, Gallimard, Paris, 1965
Sách Chữ Anh
John Cruickshanf, Albert Camus and The Literature of Revolt, A Gallaxy Book, Oxford University Press, 1960.
Kuang-ming Wu, The Butterfly as Companion, State University of New York Press, New York 1990.
H. J. Blackham, Reality Man and Existence: Essential, Works of Existentialism, Battam Book, New York 1971.
Moon in a Dewdrop, Writings of Zen Master Dogen, edited by Kazuaku Tanahashi, North Point Press, Farrar, Strauss and Giroux, New York, 9th printing 2000.
Steven Heine, The Zen Poetry of Dogen, Tuttle Publishing, Boston, Massachusetts, 1997.
Sheng-yen, The Poetry of Enlightenment, Poemes by Ancient Ch’an Master, Dharma Drum Publication, Elmhurst, New York, 1992.
Stephen F. Teiser, Ghosts and Ancetrors in Medivial Chinese Religion: The Yu-Lan P’en Festival Mortuary Ritual. History of Religion: August 1986, vol. 26. #1.
Saint Augustine, Confessions, A new translation by Henry Chadwick, Oxford Word’s Classic, Oxford