Ḥa Ca Tín Ngưỡng
Đạo Ư - Nguyễn Du 
Lương Thái Tử Phân Kinh Thạch Đại - Nguyễn Khuyến
Kinh Vu Lan Bồn - Kinh Cầu Hồn

Chuyển sang Bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du. Tác giả không nói với một chiếc đầu lâu mà nói với:

... Thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc linh đinh quê ngưỡi
Hương lửa đă không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa đêm đêm

để mong

Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

Hai câu thơ trên cho thấy Nguyễn Du tin tưởng nơi đức Phật như một tín hữu Tịnh Độ Tông. Ḷng tin đó cũng là ḷng tin của Nguyễn Khuyến bày tỏ trong bài sau đây:

Thanh Giang Tự Tỵ Thử

Bất đáo Thanh Giang Tự

Chí kim cơ nhị niên

Hạ nhật khổ phiền nhiệt

Phù trượng lai thăm thiền

Phù trượng lai thăm thiền

Tân tùng chi cập kiên

Tiêu tức hữu như thị

Phủ ngưỡng đồ manh nhiên

Tự tăng kiến ngô chí

Thập quả la ngô tiền

Vị biện sắc không giới

Đăn cầu nhân thế liên

Hà xứ tiểu phong dẫn

Ngạch thủ chuyên sàng miên

Nhất chung khấu tàn mộng

Qui lai minh nguyệt thiên.

dịch là:

Tránh Nóng Tại Chùa Thanh Giang

Từ hai năm nấy đến giờ
Chưa về lậy Phật bên chùa Thanh Giang
Ngày hè nóng nực như rang
Nhớ chùa chống gậy lần sang thăm chùa
Giếng nông nước cạn bùn khô
Thông non héo nắng ngọn vừa ngang vai
Mặc cho con Tạo vần xoay
Ngước lên nh́n xuống ai hay lẽ trời
Sư già thấy lăo sang chơi
Gọi mang mâm quả ra mời hân hoan
Sắc không huyền diệu chẳng bàn
Đoái thương nhân thế muôn vàn cậy trông
Gió đâu đến giải cơn nồng
Vắt tay nền gạch điện trong ngủ vùi
Chuông ngân mộng tỉnh thảnh thơi
Ra về vằng vặc một trời sáng trăng.

Trong bốn câu đầu, Nguyễn Khuyến cho hay đă hai năm qua chưa lên chùa, nay phần khổ v́ nóng nực nên ông chống gậy lên chùa. Bên đường giếng nông nước cạn trơ bùn, thông mới trồng chưa cao quá vai, tất cả chỉ là lẽ con tạo xoay đổi, và không nghĩ tới truyện t́m kiếm căn nguyên. Vào chùa, sư trụ tŕ vui vẻ cho mang hoa quả ra mời, 
Nguyễn Khuyến không bận ḷng về truyện sắc không, v́ chỉ mong Phật rủ ḷng thương. Rồi bỗng gió mát tới giải cơn nồng, người thơ vắt tay nằm xuống sàn gạch ngủ vùi. Chuông chiều gióng, Nguyễn Khuyến tỉnh giấc ra về. Không có ngón tay chỉ mặt trăng,Nguyễn Khuyến thấy đầy một trời sáng trăng.
Điều Nguyễn Du muôn nhờ đức Phật giải oan cứu khổ độ về Tây Phương cực lạc, và Nguyễn Khuyến không muốn bàn về chuyện Sắc Không và chỉ xin cầu Phật mở lượng từ bi cứu vớt tiêu biểu ḷng tin quần chúng nương nhờ đức Phật. Đó là một ḷng ngưỡng mộ Phật của người theoTịnh Độ Tông. 
Tại Việt Nam, số Phật tử đông nhất theo Tịnh Độ Tông, sau đến Thiền Tông và nhỏ hơn là Mật Tông.
Người theo Tịnh Độ Tông thường không tự ḿnh t́m hướng giải thoát cho ḿnh, mà nghe theo lời thầy dậy truyền từ đức Thích Ca xuống tới ngày nay. Bạn đạo Tịnh Độ Tông niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật để an tâm. Sáu chữ này dịch theo âm Việt Nam chứ không theo nguyên âm tiếng Phạn hay dịch nghĩa. Đối tượng niệm Phật là mong được ân đức đức Phật A Di Đà bao trùm.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm chép lời bồ tát Đại Thế Chí như sau:

Ví như có người, một đằng chuyên nhớ một đằng chuyên quên, dầu gặp cũng là không gặp, dầu thấy cũng là không thấy. Nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ măi, khắc sâu vào tâm niệm, th́ đồng như h́nh với bóng, cho nên từ đời này sang đời khác, không bao giờ xa nhau. Thập phương Như Lai thường tưởng nhớ chúng sinh như mẹ mhớ con, nếu con trốn tránh, th́ tuy nhớ, nào có ích chi; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con th́ đời đời mẹ con không xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, tưởng Phật, th́ hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa th́ không cần phương tiện, tận lực được khai ngộ, như người ướp hương th́ thân thể có hương thơm, đó gọi là hương quang trang nghiêm. Bản thân tôi là dùng tâm niệm Phật mà vào pháp vô sinh nhẫn, nay ở cơi này tiếp dẫn những người niệm Phật về cơi Tịnh Độ.

Pháp vô sinh nhẫn hay ngắn hơn pháp nhẫn thường hiểu là tu hành đến mức hiểu rơ lẽ không sinh th́ không diệt. Lời Bồ Tát Đại Thế Chí trên đây chỉ rơ là nhờ phép niệm Phật mà ngài thóat ṿng sinh tử luân hồi, chứng quả bồ tát. Theo sách học Phật, niệm phật là tỏ ḷng ngưỡng mộ Phật, và theo bồ tát Đại Thế Chí, th́ dốc ḷng tưởng niệm Phật th́ nhất định tâm tự khai ngộ và nhất định thấy được Phật

Đặt lư thuyết trên phép niệm Phật, Tịnh Độ Tông muốn dẫn dắt môn đồ văng sinh cực lạc và ở đấy mà thành tựu giác ngộ. Tịnh Độ Tông giảng dậy cho môn đệ biết về những tội chướng, lẽ u minh của tri thức khiến chúng sinh không đạt tới nổi lẽ cao cả của đạo Phật và về gánh nặng của nghiệp quả quá khứ đè nặng trên từng người khiến chúng sinh hăng hái cởi bỏ những trói buộc bằng chính nỗ lực hữu hạn của từng cá nhân. Bấy giờ Phật A Di Đà hiện ra trước mặt với bản nguyện của ngài là tế độ chúng sinh bước qua ṿng sinh tử. Muốn được đạo sư tiếp dẫn, chúng sinh phải nhất tâm xưng niệm danh hiệu đạo sư. Tóm lại, phát khởi trạng thái nhất tâm, hay dùng thuật ngữ một niệm tin tưởng là câu chuyện chủ chốt của giáo lư Tịnh Độ Tông: bản nguyện, danh hiệu, tín niệm xưng danh,văng sinh là những khen móc nối thành một đường dây giáo lư Tịnh Độ Tông. Khi mối khoen mỗi thắt chặt, trọn cả đường dây sẽ nắm trọn trong tay hành giả Tịnh Độ Tông. Các vị sư tổ Tịnh Độ Tông đặt việc tŕ danh niệm Phật lên địa vị ưu thế hàng đầu.
Trong một bức thư gửi cho một môn đệ, Không Cốc Long viết:

Pháp môn niệm Phật là con đường thể hiện Đạo Phật ngắn nhất. Đừng tin vào hiện hữu sắc thân hư huyễn này bởi v́ tâm trước vào những phù du của kiếp sống thế gian là cội gốc của luân hồi. Cơi Tịnh Độ là đáng mong cầu nhất, và phép niệm Phật là đáng trông cậy nhất. [...] Hăy nhất tâm bất loạn, tĩnh tịch và trầm mặc niệm tưởng. Khi chứng dược đến chỗ chuyên nhất không bị ngoại cảnh quấy nhiễu, rồi một ngày kia một biến cố sẽ bất ngờ gây ra một cải biến tâm linh, nhờ đó mà nhận ra rằng cơi Tịch Quang Tịnh Độ chính là cơi đất này, và phật A Di Đà cũng chính là cái tâm này.

Môn dồ Tịnh Độ Tông tin tưởng rằng ḷng ngưỡng mộ Phật là ngả duy nhất để văng sinh cơi Phật. Đặt niềm tin vào trí bất khả tư ngh́ của Phật A Di Đà rồi được phật A Di Đà tế độ. Ngay khi c̣n sống, giây phút phát khởi tín tâm với Phật chính là giây phút cuối cùng của tín môn tại cơi trần gian này. Do tín tâm bản nguyện của Phật A Di Đà mà xướng lên Nam Mô A Di Đà Phật chắc chắn là sẽ văng sinh cơi Tịnh Độ v́ tín tâm này tức là văng sinh. Theo văn nghĩa Nam Mô A Di Đà Phật không phải là danh hiệu mà thôi mà c̣n bao hàm hơn thế nữa, bởi v́ Nam Mô có nghĩa là qui kính hay kính lễ, nhưng thông thường sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật được coi là danh hiệu và chúng đồ Tịnh Độ Tông dốc ḷng tán dương năng lực của sáu chữ này.

Sách An Tâm Quyết Định chép:

Khi hết thẩy chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai khởi lẽ tín tâm, th́ mỗi một niệm đều quy về một niệm Chánh Giác; và tâm của hết thẩy chúng sinh trong mười phương, khi cùng tŕ danh, cũng đều quay về với một niệm Chánh Giác.Không một niệm nào phát sinh từ hành giả mà c̣n lại trong hành giả. Khi bản nguyện là một công hạnh trong đó danh và thể không phân hai, th́ chính trong danh hiệu là toàn thể của Chánh Giác, và v́ thể của Chánh Giác là như thế nên Chánh Giác là bản thể của văng sinh của hết thẩy hữu t́nh trong mười phương.

Trong doạn trích dẫn trên, tín tâm là ḷng tin vào bản nguyện của Phật A Di Đà, bản nguyện của Phật A Di Đà là nghênh tiếp vào cơi cực lạc tất cả chúng sinh xưng niệm danh hiệu và xác tín nơi Phật A Di Đà. Niệm Chánh Giác là niệm v́ đó Phật Thích Ca đă giác ngộ. Sau hết không một niệm nào phát sinh từ hành mà giả c̣n lại trong hành giả v́ tất cả những niệm đó đều trở về nguồn suối lưu xuất của Chánh Giác.
Ippen Shônin, Nhất Biến Thượng Nhân (1239-1289) sáng lập ra Tịnh Độ Tông Nhật Bản viết trong một bức thư gửi cho môn đồ cho biết nên niệm Phật như thế nào:

Ông hỏi tôi là cần phải có thái độ tâm lư nào đối với phép niệm Phật. Hành giả môn niệm Phật chỉ cần đọc Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi chẳng thể chỉ cho điều ǵ khác. Do niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tâm ông b́nh an. [...] [Xưa kia] nhân có người hỏi Không Dă Thượng Nhân, Kuya Shônin (903-972) nên niệm Phật như thế nàỏ Ngài chỉ đáp: buông bỏ. Không nói thêm lời nào. Sự kiện này ghi trong thi tịch của Tây Hành, Saigyo, và tôi thấy đây thật là lời vàng. Buông bỏ là tất cả thiết yếu cho hành giả niệm Phật. Hăy buông bỏ học thức, trí khôn và cả vô minh nữa, hăy buông bỏ tất cả ư nghĩ về thiện ác, giầu nghèo, sang hèn, địa ngục thiên đường và mọi thứ chứng ngộ mà các tông phái đạo Phật giảng dậy và tu tŕ. Hăy dứt ḿnh ra khỏi tất cả những vọng tưởng và tham ái này, hoàn toàn chuyên niệm Nam Mô A Di Đà Phật. 
[...] Bỏ hết mọi thứ, không lo âu không tính toán, phó thác cho bản mệnh và chuyên tâm niệm Phật. Dù niệm với tâm địa nào, thuận ư hay nghịch ư, câu Nam Mô A Di Đà Phật không trái với bản nguyện phát xuất từ trí tuệ siêu việt của Phật A Di Đà.

Nguyễn Khuyến, qua câu

Đăn cầu nhân thế liên

dịch là:

Đoái thương nhân thế muôn vàn cậy trông
bầy tỏ ư buông bỏ, phó thác cho bản mệnh qua chuỗi h́nh ảnh chống gậy lần sang chùa, vào chùa không ăn mày lộc Phật, không bàn truyện sắc không cùng sư, duỗi dài dưới điện Phật, được cơn gió mát, say sưa ngủ một giấc, chuông chiều mới tỉnh dậy, ra về dẫu 
mắt kém cũng thấy một trời trăng sáng. 
Ngoài áng thơ Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du chỉ có hai bài thơ Việt Âm nhuốm mầu thiền. Một là bài Đạo Ư, hai là bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài, Đài Đá Chia Kinh của Thái Tử Chiêu Minh nhà Lương dưới đây:

Lương Thái Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài

Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh

Thạch đài do kư Phân Kinh tự

Đài cơ vu một vũ hoa trung

Bách thảo kinh hàn tận khô tử

5Bất kiến di kinh tại hà sở

Văng sự không truyền Lương thái tử

Thái tử niên thiếu nịch ư văn

Cưỡng tác giải sự đồ phân phân

Phật bản thị không bất trước vật

10Hà hữu hồ kinh an dụng phân

Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa

Thục vi Kim cương vi Pháp Hoa

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ

Si tâm qui phật Phật sinh ma

15Nhất môn phụ tử đa giao tế

Nhất niệm chi trung ma tự chí

Sơn lăng bất dũng liên hoa đại

Bạch mă triêu độ Trường Giang thủy

Sở lâm hoạ mộ tŕ ương ngư

20Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ

Không lưu vô ích vạn thiên ngôn

Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn

Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số

25Nhân liễu thử tâm nhân tự độ

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu

Minh kính diệc phi đài

Bồ đễ vốn vô thụ

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

30Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo phân kinh thạch đài hạ

Tài tri vô tự thị chân kinh.

dịch là:

Đài Giảng Kinh Của Thái Tử 
Lương Chiêu Minh 

Đài Lương thái tử giảng kinh
C̣n đây hai chữ phân kinh rêu mờ
Nền đài hoang dưới màn mưa
Cỏ cây băng giá héo khô một trời
5Kinh xưa nay mất hết rồi
Lời đồn truyền lại từ đời nhà Lương
Rằng thái tử chuộng văn chương
Việc giảng kinh thực khó lường đúng sai
Phật không trụ vật h́nh hài
10Huống là kinh khéo đặt bày giảng phân
Kệ kinh chẳng vụ lời văn
Hỏi Pháp Hoa hỏi Kim Cang dạy ǵ
Pháp không cảnh giới hiểu chi
Si mê theo Phật khác ǵ theo ma
15Cha con mù quáng một nhà
Dấy lên một niệm sinh ma trong ḷng
Sơn Lăng chẳng nở sen hồng
Sớm mai ngựa trắng vượt ḍng Trường Giang
Đài xụp đổ kinh thành than
20Vạ lây cá vực chim ngàn truân chuyên
Vạn lời vô ích lưu truyền
Rác tai hậu thế muôn thiên luận bàn
Đức Thế Tôn tại Linh Sơn
Độ người kể số cát sông Hằng Hà
25Ngộ tại tâm tự độ ta
Linh Sơn do tại tâm là chẳng sai
Gương trong đâu bởi tại đài
Bồ Đề đâu phải là cây cơi trần
Kim Cang ta đọc ngàn lần
30Nhiều câu khó hiểu nhiều phần sâu xa
Đến đài đây chợt hiểu ra 
Rằng kinh không chữ mới là chân kinh.

Chiêu Minh thái tử, húy Thống, con vua Vũ Đế nhà Lương, thời Nam Bắc Triều (502-556). Thái tử tài cao học rộng, là người đầu tiên sưu tầm bộ văn tuyển ở Trung Quốc.Thái tử cùng vua cha rất sùng đạo Phật. Đài đá phân kinh, nơi Nguyễn Du qua thăm đề thơ, nhân dịp đi sứ Trung Quốc, có thuyết nói là chỗ thái tử Chiêu Minh phân đoạn kinh Kim Cang, có thuyết nói là nơi thái tử in kinh mang phân phát cho bạn đạo. Theo Suzuki, vua Vơ Đế nhà Lương là bậc quyền qúy đầu tiên gặp gỡ Sơ Tổ Đạt Ma khi người từ Thiên Trúc tới Trung Quốc.
Trong tám câu đầu bài thơ, Nguyễn Du nhắc lại và tỏ ư nghi ngờ các thoại dựng quanh thái tử Lương Chiêu Minh. Tới câu thứ 9, Nguyễn Du lấy hứng từ lời kinh Kim Cang:

Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm

mà Tuệ Sĩ, dịch giả bộ Thiền Luận của Suzuki dich là:

Hăy để tâm dấy lên mà không cố định tâm tại bất kỳ đâu.

Tác giả bộ Thiền luận viết tiếp:

Tâm của Như lai không trụ bất kỳ đâu, không trụ trên các pháp hữu vi, không trụ trên các pháp vô vi, do đó không hề dời sở trụ.

Câu thứ mười là câu Nguyễn Du dựa trên ư của Sơ Tổ Thiền Tông, chỉ tâm truyền mà không lập văn tự, như ghi trong bốn câu sau đây:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật

nghiă là đạo truyền ngoài kinh sách, trực tiếp không qua chữ nghĩa, nhắm thẳng vào nội tâm, kiến chiếu với tự tánh thành Phật. Tám chữ đầu định cơ bản lập Tông, tám chữ sau định phương pháp thể nghiệm. Đó là phép trực chỉ tâm truyền của Thiền Tông. Vin vào lời kinh Kim Cang và Pháp Hoa, Nguyễn Du viết ra là lời linh thiêng ở ngoài văn tự. Bằng không hiểu cứ si mê theo Phật thời cũng như theo ma. Cách tu tập của vua cha và thái tử Chiêu Minh chỉ dấy lên ám chướng. Ư trên của Nguyễn Du tương đồng với lời sách của ḥa thượng Cảm Thành, thiền sư người Việt đầu tiên:

Người khổ hạnh cầu Phật th́ đều mê,
Người ĺa bỏ cái tâm để cầu Phật là người ngoại đạo
Người cố chấp cái tâm để cầu Phật là ma.

Sáu câu tiếp, từ 15 tới 20, gợi lại cảnh xụp đổ của triều đ́nh nhà Lương, chẳng thấy đài sen nổi lên khi Hầu Cảnh, tướng của Đông Ngụy nổi loạn, cỡi ngựa trắng vượt sông Trường Giang vào thành Kiến Khang, bắt Lương Vơ Đế hạ ngục, bỏ chết đói, nạn chinh chiến vạ lây tới cả cây rừng cá nước, kinh sách thành than.
Trong mười bốn câu kế tiếp, người đọc thấy 
là Nguyễn Du không những đă chỉ đọc Kinh Kim Cang nhiều lần mà c̣n trích dẫn Lục Tổ Đàn Kinh của tổ Huệ Năng: hai câu 27 và 28 là hai câu trích dẫn từ một bài kệ trong kinh này. Bài kệ đó, Lục Tổ Huệ Năng, vốn không biết chữ, nhờ người viết hộ và dán cạnh bài kệ của Thần Tú, nhân dịp Ngũ Tổ chọn người kế vị. Hai câu của Lục Tổ ḍng Thiền Tào Khê như sau:

Bồ đề bản vô thụ

Minh kính diệc vô đài

nghiă là

Bồ đề chẳng là cây
Gương sáng chẳng bởi đài

là hai câu kệ khiến Ngũ Tổ trao y bát cho Huệ Năng. Ngày nay có người b́nh giảng hai câu này là: nguyên hai chữ Bồ Đề là chữ Phạn, người Trung Quốc dịch là giác. Tính giác vốn không h́nh tướng, nên chẳng phải là cây. Gương sáng đâu bởi tại đài gương. Tính bồ đề không h́nh tướng th́ bụi bậm bám vào đâu mà cần lau chùi.
Tiếp theo, Nguyễn Du kể lại nỗi khó khăn trong nhiều lần đọc kinh Kim Cang. Nay nhân đến thăm đài phân kinh của thái tử Chiêu Minh bỗng chợt hiểu hiểu ra rằng chân kinh chính là kinh không chữ, đúng như căn bản lập giáo của Sơ Tổ ḍng Thiền Tông Tào Khê.

Tóm lại, bài thơ dài trên đây chứng tỏ Nguyễn Du là một người thâm hiểu Thiền Tông. H́nh ảnh này dường như trái ngược với h́nh ảnh Nguyễn Du như một tín hữu Tịnh Dộ Tông tiêu biểu qua bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Sự trái ngược đó chỉ là bề ngoài. Thật vậy Thiền giả không nương tựa vào ai ngoài chính ḿnh. Tín hữu Tịnh Độ Tông nhất thiết nương nhờ vào Phật. Nhưng theo Suzuki, nếu phân tích về tâm lư th́ phép niệm Phật của Tịnh Độ Tông và việc tu tập một công án của Thiền Tông vẫn có nhiều điểm tương đồng. Trên nền tảng tâm lư này, Thiền Tông gần gũi với Tịnh Độ Tông cũng như Tịnh Độ Tông gần gũi với Thiền Tông. Niệm Phật nhắm đi tới cơi Tịnh Độ vốn dĩ không ǵ khác hơn là chính tự tâm và nhắm thấy rơ tự tính vốn dĩ chính là Phật A Di Đà. Thiền giả tu tập công án nhắm kiến tánh, vốn dĩ không ǵ khác hơn là thấy Chân Tâm tức Chân Như. Sách Ngữ Lục quyển hai chép:
Kinh nói, như đi vào một thành lớn mà khắp bốn phía đều có cửa; từ những nẻo khác nhau, người ta t́m thấy lối vào riêng biệt của ḿnh, v́ cửa vào không chỉ có một. Nhưng, một khi vào rồi, tất cả cùng ở trong một thành như nhau. Thiền và Niệm Phật mỗi bên có một căn khí riêng; nhưng cả hai đàng cũng vậy.

Niệm Phật không chỉ là việc quán tưởng hay ước vọng diện kiến Phật, mà c̣n là việc tŕ danh Phật. Phó mặc cho việc lặp đi lặp lại một câu không cần thiết phải chỉ vào một thực tại khách quan rơ rệt mà chỉ là một danh hiệu biểu tượng cho cái bất khả thuyết, bất khả tri do dó ám chỉ một ư nghĩ siêu việt. Thiền giả tu tập một công án vốn dĩ như vô nghĩa theo lối hiểu biết phàm tục, là muốn dứt bỏ những t́ tích của tri thức trong tâm thức nhằm tiếp thụ sơ tâm thanh khiết và thuần nhất. Tu tập công án như vậy là trở về cái hư không nguyên thủy tại đó ư thức chưa có tác dụng. Đấy là trạng thái vô sinh, Thiền bắt đầu từ đó và trở về đó. Tịnh độ Tông cũng bắt đầu từ đó và cũng trở về đó. 
Đúng như lời Hoà Thượng Huyễn Trụ, chép trong sách Ngữ Lục:

Tham thiền cốt soi sáng ư nghĩa của sống và chết, c̣n Niệm Phật dạy cho thanh toán vấn đề sống chết.

Câu truyện sống chết là hai trong tám nỗi khổ của con người trong khổ đế; Sống chết cũng là nhân duyên thứ 11 và thứ 12 trong giác ngộ lư thập nhị nhân duyên kết thành ṿng nhân quả. 
Hành giả Thiền Tông tu tŕ theo duyên giác thừa quán lư thập nhị nhân duyên, thấy rơ cơ cấu sinh tử luân hồi, diệt vô minh chứng ngộ thực tướng của vạn pháp. Tín hữu Tịnh Độ Tông tŕ danh Phật đến độ nhất tâm bất loạn, nguyện đến lúc gần chết tâm không điên đảo được văng sinh về miền cực lạc của Phật A Di Đà, cũng không c̣n bị ch́m đắm trong ṿng sống chết. 
Trở lại với bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, từ câu 141 tới câu hết bài văn tế, Nguyền Du tả cảnh cô hồn, không có con cháu hay người thân thích, vất vưởng nơi bờ bụi, ngọn suối, chân mây, đầu chợ, cuối sông, chốn đồng không nơi mông quạnh. Ḥa đồng cùng tín ngưỡng quần chúng, tin rằng dương sao âm vậy, nhân dịp lễ Trung Nguyên, có bát cháo nén nhang, manh áo thoi vàng giúp cho cô hồn làm của ăn đàng, Nguyễn Du, như ḥa đồng giáo lư Thiền Tông cùng Tịnh Tông với tín ngưỡng quần chúng, hai lần kêu gọi các cô hồn có khôn thiêng th́ gái trai già trẻ hăy sớm về chùa nghe kinh, mong nhờ ơn đức Phật từ bi phù 
hộ cho được siêu sinh tịnh độ. 
Tín ngưỡng quần chúng dường như biểu hiện lời kinh Vu Lan Bổn. Kinh này gồm 254 câu, mỗi câu bốn chữ. Bản Kinh Vu Lan Bồn chữ Hán là một bản văn xuôi. Bản tiếngViệt dịch thành thơ bốn chữ, không biết dịch giả là ai, và dịch từ bản nào. Sau đây là đoạn mở đầu và đoạn kết.

Đây là những lời,
Chính tôi được nghe
Nhân một thủa kia, 
Tại nước Xá Vệ,
5Phật ở tịnh xá
Cất trong cảnh vườn
Ông Cấp Cô Độc
Giữa đám cổ thụ
Do Ngài Thái Tử
10Kỳ Dà dâng cúng.
Bấy giờ trong hàng
Đệ tử cao cấp
Có ngài Mục Liên
Vừa mới chứng được
15Sáu phép thần thông,
Ḷng hiếu phát khởi,
Muốn độ mẹ cha,
Đền ơn nhũ bô
Bèn dùng mắt huệ
20Xem cả thế gian,
Thấy vong thân mẫu,
Trong cảnh ngạ qủi,
Chẳng uống chẳng ăn
Thân thể gầy ốm,
25C̣n da bọc xương.
Mục Liên thương xót,
Tức thời lấy bát
Đựng cơm đem dâng.
Mẹ ngài vui mừng,
30Tay trái che bát
Tay mặt bốc cơm.
Thảm thay! thương thay!
Cơm chưa tới moệng,
Đă thành than lửa
35Ăn không thể được.
Mục Liên thấy vậy,
Liền khóc ̣a lên.
Tức tốc trở về,
Bạch lại với Phật,
40Đầu đuôi thảm cảnh
Mắt ḿnh vừa thấy.
Phật bèn nói rằng:
Mẹ con gâ?Mẹ con
Gốc đă ăn sâu,
45Chẳng phải lấy sức
Của một ḿnh con
Mà mong cứu được.
Dầu con hiếu thuận,
Tiếng dậy đất trời,
50Thậm chí thiên thần,
Tà ma ngoại đạo,
Đạo sĩ Vương thần
Cũng đều thúc thủ.
Vậy muốn cứu mẹ, 
55Con phải nhờ sức
Oai thần chúng tăng
Khắp cả mười phương, 
Mới mong độ thóat. 
Hăy nghe ta chỉ
60Phương pháp nầy đây
Cứu vớt mọi người,
Ách nạn lâm cơn. 
Đều được thoát khỏi
U sầu cảnh khổ?
.......................
.......................

Và trong đoạn cuối:

Những ai là người
Đệ tử của Phật
Tu hạnh hiếu từ
Th́ trong tâm phải
235Nhớ măi cha mẹ
Hoặc trong kiếp này
Hoặc bẩy kiếp trước,
Mỗi năm hễ đến,
Tháng bẩy ngày rằm,
240Nên lấy ḷng hiếu
Thiết lễ Vu Lan
Cúng Phật, chúng tăng,
Để báo mẹ cha
Công ơn nuôi dưỡng.
.............................

Toàn bộ bản kinh tóm tắt như sau:

Ngài Mục Liên, chứng được sáu pháp thần thông, muốn độ cha mẹ đền ơn nuôi nấng, phóng tầm mắt huệ kháp cả thế gian, thấy mẹ c̣n mắc trong cảnh Ngạ Quỉ cùng loài ma đói. Ngài dâng mẹ một bát cơm, nhưng khi mẹ ngài bốc cơm bỏ mệng th́ miếng cơm biến thành ḥn than hồng. Ngài Mục Liên quay về bạch Phật. Phật dạy:
- Mẹ con gây trọng tội, sức một ḿnh con không cứu nổi, phải nhờ đến oai thần chúng tăng mới ḥng cứu độ nổi mẹ con. 
Phật dạy thêm là ngày rằm tháng bẩy, v́ cha mẹ kiếp này hay cha mẹ trong bẩy kiếp trước, phải sắm lễ vật cúng dường chư đại dức mười phương. Phật c̣n truyền cho chúng tăng phải đồng một ḷng chứng giám hiếu tâm, chú nguyện cha mẹ bẩy đời thí chủ. Liền đó mẹ ngài Mục Liên được giải thóat khỏi ngục ngạ qủi. 
Mục Liên lại bạch Phật:
- Từ rày người tu tŕ muốn độ cha mẹ th́ đến ngày rầm tháng bẩy phải lo dâng lễ Vu Lan. 
Phật khen:
- Hay lắm! Hay lắm! Thật hợp ư ta.

Tín ngưỡng quần chúng biểu hiện trong kinh Vu Lan Bồn, dường như bắt nguồn từ kinh Địa Tạng. Kinh này chép công đức Bồ tát Địa Tạng, một vị Phật đại từ đại bi, tay cầm gậy vàng, phá cửa địa ngục cứu chúng sanh. Tiếp tới là một vài h́nh ảnh Bồ Tát Địa Tạng.
Phẩm thứ nhất, đoạn Trưởng Giả Tử Phát Nguyện chép:

Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng Giả tử rằng:
- Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp nầy, cần phải trải qua trong một thời gian lâu dài độ thoát tất cả chúng sinh bị khốn khổ.
Trưởng Giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: - Từ nay đến tốt số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi v́ những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bầy nhiều phương tiện làm cho chúng được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật đạo.

Trưởng Giả Tử chính là Bồ Tát Địa Tạng.
Tiếp theo, đoạn Bà La Môn Nữ Cứu Mẹ chép:

Qủy vương hỏi Thánh nữ rằng:
- Thân mẫu của Bồ Tát khi c̣n sống quen làm những nghiệp ǵ?
Thánh nữ đáp:
- Thân mẫu tôi mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp, xong chẳng kính. Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rơ đọa lạc vào đâu?
Vô Độc hỏi rằng:
- Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là ǵ?
Thánh nữ đáp:
Thân phụ và thân mẫu của tôi đều ḍng dơi Bà La Môn. Thân phụ tôi là Thi La Thiện Kiến. Thân mẫu tôi hiệu là Duyệt Đế Lợi.
Vô Độc chắp tay thưa Thánh Nữ rằng:
- Xin Thánh nữ hăy trở về, chớ đem ḷng buồn rầu quá lắm nữa, Tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cơi trời đến nay ba ngày rồi. Nghe nói nhờ con gái của người có ḷng hiếu thuận, v́ mẹ sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành cúng dường chùa tháp, thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như La. Chẳng phải riêng thân mẫu Bồ Tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngay đó nhưng tội nhơn Vô Gián cũng đều được vui vẻ đồng đặng thác sanh cả.
... Bấy giờ Thánh Nữ dường chiêm bao chợt tỉnh, bèn dến trước tháp tượng đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà phát nguyện:
- Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai, những chúng sinh mắc phải tội khổ th́ tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.

Qủy Vương Vô Độc trước đó nay chính là Tài Thủ Bồ Tát. C̣n Thánh Nữ Bà La Môn đó nay là Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Tiếp sang phẩm II, đoạn Ông Vua Nước Lân Cận chép truyện Ngài Địa Tạng Bồ Tát, trong kiếp làm vua cũng phát nguyện: độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa thành Phật. 
Tiếp tới đoạn Quang Mục Cứu Mẹ chép truyện La Hán Quang Mục, tức Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện:

Từ nay nhẫn về sau trăm ngàn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sinh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh và ngạ qủy v.v...Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mời thành bực Chánh Giác.

Lễ Vu Lan Bồn, trùng với tục ăn tết Trung Nguyên, theo giới nghiên cứu lịch sử tôn giáo vốn có sẳn trong phong tục người Á Đông, từ trước khi Đạo Phật vào tới đất Trung Quốc. Tới nay khó phân biệt nổi lễ Trung Nguyên với lễ Vu Lan Bồn, tại Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam. Tại Đại Hàn và Việt Nam, nhân dịp này nhà chùa thường mở lễ xá tội vong nhân, và thường lễ cầu nguyện cho cha mẹ, do từng gia đ́nh lo riêng. Phải chăng v́ tục lệ này mà trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, ngoài các vong hồn, Nguyễn Du không hề nhắc tới việc báo hiếu cha mẹ?
Ḥa đồng cùng tín ngưỡng quần chúng, dường như cũng thể hiện trong giới dân Chúa, đặc biệt trong việc tưởng nhớ đến cha mẹ họ hàng thân thuộc đă quá văng. Sách Kinh điạ phận Phát Diệm, mang Imprimature ngày 20 tháng 11 năm 1938 của Đức Giám Mục Joannes Baptista có bài Kinh Cầu Hồn Dưới đây.

Lạy Chúa tôi ôi!
Chúa đă phán lời:
Tao là Chúa cả,
mọi sự mọi loài,
5kẻ sống ở đời, 
lại cùng kẻ chết.
Chúng tôi đă biết, 
cha mẹ chúng tôi, 
với lại những người
10họ hàng con cháu,
ông bà ruột máu, 
t́nh nghĩa vợ con,
cha mẹ phần hồn,
ân t́nh phần xác,
15rầy đang khoái khoắc
trong lửa công bằng,
đêm ngày trông mong
chúng tôi c̣n sống, 
đền thay cho chóng
20khỏi chốn luyện h́nh;
chúng tôi trong ḿnh
đầy những tội lỗi, 
mở miệng hôi thối
chẳng đáng chúa nghe, 
25một trông cậy v́
lời xưa Chúa phán
rằng: Tao không muốn
phạt hơn là thương.
lậy Chúa thiên đường,
30ban ơn tha thứ,
xin Chúa đừng nhớ
tội kẻ chết chi,
xin Chúa quên đi,
Chúa đừng chấp nữa,
35xin Chúa hăy gỡ
những hồn ấy ra;
máu thánh c̣n dư
thừa nguyên bẩy giọt,
xin Chúa hăy rót,
40tắt lửa công bằng,
đang cháy bầng bầng,
đốt hồn cha mẹ, 
cùng hồn những kẻ
t́nh nghiă chúng tôi;
45Lạy Chúa tôi ôi!
cha mẹ chúng tôi
những kẻ đă chết,
bây giờ mới biết
sức lửa công bằng,
50lọc đúc nấu nung, 
trong ngoài thấu suốt,
hằng giây hằng phút,
vong vóng trông mong.
Lạy Chúa khoan dong
55xin mưa máu xuống, 
hồn nào c̣n vướng
mắc dấu vết ǵ, 
chúng tôi xin v́
công nghiệp máu Chúa,
60sẽ giặt sẽ rửa
cho sạch phen này.
Xin Chúa ra tay
nhân từ cứu vớt,
chúng tôi kẻ chết,
65ai nấy được nhờ.
Xin Chúa hăy mưa,
hăy tưới máu Chúa,
cho được tắt lửa
h́nh phạt ngũ quan.
70Lạy Mẹ cực khoan!
xin Mẹ đừng nỡ,
ngoảnh mặt làm thinh
Mẹ đỡ Mẹ bênh,
Mẹ nài cùng Chúa,
75các hồn cũng có 
vào sổ làm con,
cậy Mẹ phần hồn,
mhờ mẹ lúc chết,
đêm ngày kêu thét,
80trông Mẹ! Mẹ ôi!
các hồn nằm vùi
giẫy trong đống lửa,
ngẫm ngùi nấc nở, 
khóc lóc than van.
85Xin Mẹ đừng quên
các hồn ấy, Mẹ.
Chúng con là kẻ
con cháu họ hàng, 
suy đến giật ḿnh, 
90ḷng thương bổi hổi, 
song v́ một nỗi
tội lỗi nhớp nhơ, 
chúng tôi xin nhờ
công nghiệp máu Chúa,
95lại trông rằng có
Đức-Mẹ chở che,
Mẹ đừng ngoảnh đi, 
Mẹ cứu lấy với,
Xin Mẹ hăy lấy
100công Mẹ trong kho,
Mẹ đền bù cho
các hồn chóng rỗi, 
Chúng tôi mê tối
tội lỗi Mẹ ôi!
105trong ḷng ngẫm ngùi,
một hai trông Mẹ! Amen.

Kinh Cầu Hồn này với Kinh Vu Lan Bồn cùng theo thể thơ bốn chữ. Thể thơ này là một thể thơ rất cổ. Bài thơ cổ bốn chữ c̣n truyền tụng tới nay là bài Tào Tháo sáng tác và ngâm trong đêm sáng trăng, trên chiến thuyền, trước ngày giao chiến với Đông Ngô trong trận Xích Bích. Trong ngôn ngữ Việt Nam, thể bốn chữ này it người dùng, nhưng thường dùng trong các bài dành cho trẻ em ca hát, tỷ như bài:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có bát cơm xôi
Có nôi cơm nếp
Có xệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu
Có chiếu bám đu
Thằng cu xí xoài
Đi xem đánh cá
Có rá vo gạo
Có gáo múc nước
Có lược chải đầu
Có trâu cày ruộng
Có muống thả ao
Có sao trên trời...

Thể thơ này là thể thơ dễ học truyền miệng và dễ nhớ. 
Đối chiếu nội dung, cả hai bài kinh cùng biểu thị ḷng con cái muốn báo đáp ơn sinh thành của cha mẹ, đồng thời cầu bầu cho vong hồn c̣n mắc trong hỏa ngục.
Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du muôn nhờ Đức Phật từ bi, gọi vong hồn chúng sinh về chùa nghe kinh, để được siêu sinh tịnh độ. Trong bài Kinh Cầu hồn, người dân Chúa đặt ḷng tin trọn vẹn nơi ḷng nhân từ của Chúa Trời, và cầu xin Đức Mẹ cầu bầu cho cha mẹ cùng thân nhân của ḿnh sớm thoát lửa công bằng.
Đi sâu vào sự tương đồng này là vấn đề dành cho các nhà nghiên cứu về tôn giáo đối chiếu.
Trên mặt ngôn từ phải chăng từ việc hiếu thảo với cha mẹ khi song thân c̣n sống, người đọc kinh Vu Lan Bồn tin tưởng là cha mẹ sớm được Bồ Tát Địa Tạng phá cửa ngục đưa về cơi Tịnh Độ? Tương tự, phải chăng người đọc kinh Cầu Hồn, từ đức tin nơi ḷng nhân từ của Chúa Trời, và cũng từ chữ hiếu, tin tưởng là việc cầu bầu cho cha mẹ cũng giúp cho cha mẹ sớm thoát lửa luyện tội về Nước Chúa? 
Suy rộng hơn, điều cầu xin của người theo Đạo Chúa, đọc kinh lần hạt mong được b́nh an trong tâm hồn khi nay và trong giờ lâm tử hỏi có khác nào điều ước mong của người con Phật tụng Nam Vô A Di Đà Phật hay giải công án để t́m thấy tâm thân an lạc trong kiếp này và sang kiếp sau trong cơi Siêu Sinh? Phải chăng đó cũng là cách khéo liệu cái sống để khéo lo cái chết của người đọc sách Trang Tử?