Nói Với Người Chết 
Thăm Mả Cũ Bên Đường - Tản Đà
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh - Nguyễn Du

Đầu lâu là h́nh ảnh tượng trưng cái chết. Cảo luận này bàn về lời tṛ truyện của người xưa với đầu lâu, qua một số bài thơ mang sắc Đạo, mầu Thiền hay dấu Chúa, của năm tác giả: Trần Tung đời Nhà Trần, Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến cuối triều Nguyễn, và Tản Đà và Hàn Mặc Tử trong ḍng thơ quốc ngữ. Phương pháp ứng dụng là phương pháp cổ điển quen gọi là phương pháp văn học đối chiếu, đối chiếu kinh sách Lăo Trang, Phật học cùng kinh sách Đạo Chúa với tác phẩm liên hệ trích dẫn. Không chủ trương bàn về thơ người xưa, cảo luận này thực hiện theo bút thuật quen gọi là bút thuật đa thoại, polyphonie, để dễ bề t́nh bày những h́nh ảnh đồng dị giữa ba ḍng văn học. Bút thuật này đ̣i hỏi một bố cục, khác với bố cục một bài luận văn thông thường, v́ cần phải tŕnh bày các thành phần đa thoại để người đọc cảm thấy sự ḥa hợp giữa các thi phẩm. Người viết viết theo bố cục của một bản hợp ca. Chọn bố cục này, người viết tin rằng một hợp xướng dầu là một bản nhạc baroque cổ truyền tại Âu châu hay một bản thánh lễ của người Phi châu, dẫu nghe hiểu lời hay không, cũng đưa người nghe về nẻo thăng hóa. 

Bài viết gồm năm tiết khúc. Tiết khúc đầu là tựa khúc, ouverture. Trong tựa khúc này là một khúc song ca giữa tiếng thơ bài Thăm Mả cũ Bên Đường của Tản Đà, giao hưởng cùng tiếng thơ Nguyễn Du qua áng thơ nôm quen gọi là Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Chủ đề của tựa khúc này cho thấy người xưa, chẳng khác ǵ người nay, thường tṛ truyện với cái chết khi đối mặt với cái chết. Tiết khúc thứ hai đưa người đọc về gốc của văn học Á Đông: sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Lời kinh Nam Hoa tạo nên một khúc hợp ca giao hưởng với tiếng thơ đơn ca của Trần Tung trong bài Phóng Cuồng Ngâm, trong chủ đề buông bỏ là nẻo về với Đạo. Tiết khúc thứ ba là khúc song ca giữa thơ của Nguyễn Du qua bài Đạo Ư và bài Lương Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài cùng bài Thanh Giang Tự Tỵ Thử của Nguyễn Khuyến, khúc song ca nổi trên lời ḥa ca của kinh sách Tinh Độ Tông và Thiền Tông. Giao hưởng này cho thấy dầu là Tịnh Độ Tông hay Thiền Tông, cả hai cùng hoà hợp với tín ngưỡng dân gian trong nếp sống hiếu thuận của người Việt qua lời Kinh Vu Lan Bồn. Hơn nữa, sự ḥa hợp này, như một ḥa khúc, cũng thấy trong lời Kinh Cầu Hồn của người dân Chúa. Tiết Khúc thứ tư, chuyển sang ḍng thơ quốc ngữ của Tản Đà, lời dộc ca là bài hát nói Đời Đáng Chán Hay Không Đáng Chán của Tản Đà, và khúc hoà ca là lời sách phái Hiện Sinh, thịnh hành tại Âu Mỹ sau khi Tản Đà đă qua đời. Không nh́n tới cái sống trước khi sinh, không nghĩ tới cái chết sau khi lià đời, Tản Đà là h́nh ảnh một người sống theo thuyết hiện sinh trong văn học Việt Nam, nhưng không mấy xa với một khách tiêu dao t́m về Đạo. Tiết IV dành cho tiếng thơ Hàn Mặc Tử, quanh hai tiểu đề, một là h́nh ảnh nhị trùng, le double, rất phổ quát trong văn học Âu Mỹ đầu thế kỷ XX, và hai là đức Tin đức Cậy và đức Mến cuả Hàn Mặc Tử, qua hai thi phẩm quen biết là bài Hồn Là Ai và bài Ave Maria. Tiếng thơ này giao hưởng lần lượt với lời văn của một số tác giả chính trong ḍng thơ văn nhị trùng, cùng lời thơ của Baudelaire, với lời Thánh Augustin qua hai tác phẩm Lời Xưng Tội và Những Bài Giảng cùng lời văn của Paul Claudel. Hai tiểu đề này cho thấy sự đóng góp của Hàn Mặc Tử vào ḍng văn học quốc tê, cũng như việc xử dụng những h́nh ảnh mới lạ mang dấu Chúa vào ḍng thơ thăng hóa cổ truyền của ngừời Việt. Khúc ngân kết vĩ, coda, là dư hưởng bài viết, gợi trong ḷng người đọc niềm ḥa hiếu trong sự bất đồng đối tượng tín ngưỡng giữa ba ḍng tôn giáo trong văn học Việt Nam.

I

Văn học hiện đại nước nhà chép bài thơ sau đây của Tản Đà

Thăm Mả Cũ Bên Đường

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà
Đường xa người vắng bóng chiều tà
Một dẫy lau cao làn gió chạy
Mấy cây thưa lá sắc vàng pha

Ngoài xe trơ một đống đất đỏ
Hang hốc đùn lên đám cỏ gà
Người nằm dưới mả ai ai đó
Biết có quê đây hay vùng xa

Hay là thuở trước kẻ cung đao
Hám đạn liều tên quyết mũi dao
Cửa nhà xa cách vợ con khuất
Da ngựa gói bỏ lâu ngày cao

Hay là thuở trước kẻ văn chương
Chen hội công danh lỡ lạc đường
Tài cao phận thấp trí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương

Hay là thuở trước khách hồng nhan
Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen
Phong trần xui gặp bước lưu lạc
Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn

Hay là thuở trước khách phong lưu
Vợ con đàn hạc đề huề theo
Quan san xa lạ đường lối khó
Ma thiêng nước độc phong sương nhiều
Hay là thuở trước bậc tài danh
Đôi đôi lứa lứa cũng linh tinh
Giận duyên tủi phận hờn ân ái
Đất khách nhờ chôn một mối t́nh

Suối vàng sâu thẳm biết là ai
Mả cũ không ai kẻ đoái hoài
Trải bao ngày tháng trơ trơ đó
Mưa dầm nắng dăi trăng mờ soi

Ấy thực quê hương con người ta
Dặn bảo trên đường những khách qua
Có tiếng khóc oe thời có thế
Trăm năm ai lại biết ai mà.

Theo Dương Quảng Hàm, Tản Đà là bút hiệu của nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) người xă Khê Thượng, huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây. Vốn là một nhà nho, từng đi thi hương, sau khi hỏng khoa Nhâm Tư (1912) ông bắt đầu viết quốc văn. Năm 1924 ông làm chủ bút Hữu Thanh Tạp Chí trong ít lâu, năm 1926 ông đứng chủ trương tờ An Nam Tạp Chí (đ́nh bản năm 1933) Tản Đà để lại một số tác phẩm gồm thơ, tiểu thuyết và nhiều sách phiên dịch sách cổ điển Trung Quốc. Tản Đà làm thơ theo luật thơ cổ, nhưng t́nh ư trong thơ phóng khoáng tự do mở đầu cho ḍng thơ mới kế tiếp liền sau đó.

Bài Thăm Mả Cũ Bên Đường trên đây là một áng thơ trong ḍng thơ bắt hứng từ h́nh ảnh sự sống chết của con người, vốn có từ ngàn xưa. Trên ḍng thơ này Tản Đà đă gặp Nguyễn Du qua áng thơ nôm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Lời thơ Tản Đà nói với người nằm dưới mả cũ bên đường có nhiều điểm tương đồng với lời thơ Nguyễn Du trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.

Khác với tựa đề, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du không phải là một bài văn tế thông thường mà là một áng thơ song thất lục bát gồm 184 câu. Đằng khác hai chữ thập loại trong tựa đề có nghiă là nhiều, v́ tác giả chiêu hồn hơn hai mươi loại chúng sinh. 

Trong 72 câu, từ câu 21 tới câu 92, chia làm sáu đoạn mỗi đoạn 12 câu Nguyễn Du chiêu hồn sáu loại chúng sinh kể sau:

Một là loại những kẻ muốn tranh đồ vương bá

Nào những kẻ tính đường kiêu hănh
Chí những mong cướp gánh non sông

dầu thành dầu bại cũng gây nên nạn binh đao khiến

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc
Qủy không đầu van khóc đêm mưa

Hai là loại những vương phi cung tần:

Nào những kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy ḿnh cung quế Hằng Nga

đến khi:

Một phen thay đổi sơn hà

mà thành

Hồn ngẩn ngơ băi cói ngàn sim

Ba là những vị quan văn:

Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Ngọn bút son thác sống trong tay
khiến
Thịnh măn lắm oán thù càng lắm
Trăm loài ma xắm nắm chung quanh

mà thành:

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Bốn là những vị quan vơ:

Nào những kẻ bài binh bố trận
chẳng may gặp 
Khi thất thế tên rơi đạn lạc
mà thành
Năm năm xương trắng dăi dầu 

Năm là những kẻ quyết tâm làm giầu:

Cũng có kẻ tính đường trí phú
đến 
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
th́ hồn
Ngơ ngẩn nội rộc đồng chiêm

Sáu là những kẻ muốn đi t́m chữ qúy:

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quư
Dấn thân vào thành thị lân la

chẳng may:

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

mà thành:

Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt khói hương lạnh lùng

Tiếp theo là hai đoạn, mỗi đoạn bốn câu, Nguyễn Du chiêu hồn những kẻ vào sông ra biển rồi tới những kẻ đi về buôn bán. Rồi tiếp tới hai đoạn, mỗi đoạn tám câu, Nguyễn Du gọi hồn những kẻ mắc vào khoá lính, cùng những kẻ lỡ làng một tiết, xa ngă vào ṿng bán nguyệt buôn hoa. Tiếp tới là ba đoạn, mỗi đoạn bốn câu Nguyễn Du chiêu hồn những kẻ nằm cầu gối đất rồi những kẻ mắc oan tù rạc và những tiểu nhi tấm bé. Sau hết là trong tám câu Nguyễn Du gọi hồn những kẻ ch́m sông lạc suối, sẩy cối sa cây, gieo giếng thắt dây, trôi nước lũ, lây lửa thành, hoặc mắc sơn tinh thủy quái, sa nanh khái ngà voi, những người có đẻ không nuôi hoặc sa sẩy khốn thương.